Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Ái trước          love and attachment; strong attachement    愛著    Rāga
Bị vướng mắc, bị trói buộc, bị dính chặt vào các thứ tỉnh cảm ân ái.

 

Bạch liên xă      Société du Lotus Blanc    the white lotus society    白蓮社    
Đạo tràng tu tập theo pháp môn niệm Phật. C̣n gọi là Bạch liên hoa xă, Liên xă: Đạo tràng hoa sen trắng.
Khởi nguyên từ thời Đông Tấn, do ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn chủ trương, tập hợp những người cùng chung chí hướng tu tập lại một chỗ để niệm Phật, về sau h́nh thức tu tập này thịnh hành và lấy danh xưng là Bạch liên xă.
Đời Đông Tấn, niên hiệu Thái nguyên thứ 9 (384 dl), ngài Huệ Viễn đến Lô Sơn, trú ở Hổ Khê, chùa Đông Lâm, mọi người kính mộ đức độ của ngài vân tập về chùa cùng tu học rất đông. Niên hiệu Nguyên Hưng năm đầu (402 dl), số người đến tu gồm có cả tăng lẫn tục, như Huệ Vĩnh, Huệ Tŕ, Lưu Di Dân, Lôi Thứ Tông... cả thảy 123 người. Tất cả cùng kéo đến tinh xá đài Bát Nhă, quỳ trước tượng Phật A Di Đà lập thệ nguyện tinh chuyên tu tập niệm Phật tam muội cho đến ngày văng sinh Tây phương. Lúc ấy, do trước chùa có một cái ao trồng toàn hoa sen trắng, lại nguyện cùng nhau văng sinh về Cực lạc Liêng bang, cho nên mới lấy hiệu là Bạch liên xă. Về sau, tiếng đồn ngày càng vang khắp, tạo thành nhân duyên hưng thịnh pháp môn Tịnh độ. Từ đời nhà Đường, Tống trở về sau pháp môn này càng hưng thịnh hơn nữa, và lịch sử đă suy tôn ngài Huệ Viễn là sơ tổ của Liên xă, đồng thời cũng là sơ tổ của Tịnh độ tông tại Trung Hoa.

  我國佛教界專修念佛法門的結社。又稱白蓮華社、蓮社。起源于東晋·慧遠于廬山結社念佛,爾後,白蓮社遂成爲此類結社的通稱。東晋太元九年(384),慧遠入廬山,住虎溪東林寺,慕其德風者雲集。元興元年(402),集緇素慧永、慧持、劉遺民、雷次宗等一二三人,于般若台精舍阿彌陀佛像前建齋立誓,精修念佛三昧,以期往生西方。時,以寺前淨池多植白蓮,又爲願求蓮邦的集團,故稱白蓮社。其後,仿效者漸多,遂開淨土教興隆的端緒。唐宋以後,尤爲盛行。幷尊慧遠爲蓮社始祖。<#>南宋初年,慈照子元復興白蓮社,另創一派,稱作白蓮教或白蓮宗。元·至大元年(1308),武宗下令禁行白蓮社,幷令社友還隸民籍。時,廬山東林寺普度上呈《廬山蓮宗寶鑒》十卷,闡明蓮宗義旨,數年後始解禁。其後,經明、清至近代,各地均有念佛結社者。臺灣佛教界,以‘蓮社’爲名之道場亦頗爲常見。台中李炳南所倡設之‘台中佛教蓮社’,爲其中之較知名者。<#>結社念佛之風亦曾傳至日本、朝鮮。日本方面,日僧澄圓于文保元年(1317)入元,沿承廬山遺風。返國後,奉勒于和泉界建旭蓮社。中世以後,日本淨土宗僧皆以某某蓮社作爲法號,以表爲蓮社的一員。凡此種種,均爲受白蓮社影響所致。<#>[參考資料] 《高僧傳》卷六;《續高僧傳》卷十四;《宋高僧傳》卷十四;《大宋僧史略》卷下;《釋氏要覽》卷上;《龍舒淨土文》卷十一;《樂邦文類》卷一~卷五;《樂邦遺稿》。<#>

Bạch y      adepte en blanc,    White clothing    白衣    avadāta-vasana
Nguyên ư là áo mầu trắng, được chuyển dụng mà gọi người mắc áo trắng, tức chỉ những người tại gia. Thông thường, người Ấn độ đều cho áo mầu trắng tinh là sang, cho nên, ngoài tăng lữ ra, tất cả đều mặc áo trắng, từ đó, gọi người tại gia là bạch y, trong kinh Phật phần nhiều cũng dùng từ ngữ bạch y để thay cho người tại gia.

 

Bản giác           original enlightenment    本覺    
Tính giác sẵn có. Là cái bản tính từ xưa đến nay vẫn trong sạch sáng suốt, không bị phiền năo mê vọng nhiễm ô chi phối, ảnh hưởng.

  眾生之心體,自性清淨,離一切之妄相,照照靈靈,有覺知之德。是非修成而然,乃本有自爾之性德,故曰本覺。即如來之法身也。然此本心體,無始以來,覆於無明煩惱,隱藏至於今日,一旦依修治之功,始顯其性德,是曰始覺,然覺而觀之,則始覺非別,原為本覺之體,故始覺本覺,咸同一致。本覺之外無始覺。始覺即與本覺同一也。仁王經中曰:「自性清淨名本覺性,即是諸佛一切智智。」起信論曰:「心體離念,離念相者等虛空界,無所不徧。法界一相,即是如來平等法身,依此法身,說名本覺。」

Bản môn              本門    
Cảnh giới của chân lư thực chứng được nhận thức bởi trí vô phân biệt của Phật được gọi là bản môn.

 

Bất động nghiệp              不動業    
Nghiệp chiêu cảm dị thục của Sắc và Vô sắc, và dẫn tái sinh trong Sắc và Vô sắc.

 

Bất cộng pháp              不共法    aveṇika-buddha-dharma
Bất cộng có nghĩa là riêng một ḿnh, chỉ có một. Bất cộng pháp là những pháp, những năng lực hoặc những đặc tính mà chỉ có chư Phật và Bồ-tát mới có, c̣n hàng phàm phu, nhị thừa… không có hoặc chưa thành tựu những pháp này.
Luận Đại Tỳ-bà-sa (Abhidharma-mahāvibhāṣā-śa-stra) nói Phật và Bồ-tát có 18 pháp bất cộng, là: Thập lực (mười lực), Tứ vô sở uư (bốn năng lực đưa tới sự không sợ hăi), Đại bi (t́nh thương lớn), Tam niệm trụ (an trụ trong ba niệm).
(Xem 18 pháp bất cộng)

 

Bất khả tư nghị      Inconcevable        不可思議    Acintya
Không thể nào suy nghĩ bàn luận ra được, vượt ngoài lư luận. Câu này dùng để tả cái Tuyệt đối, chỉ có ai đạt giác ngộ mới biết.
Phật Thích-ca Mâu-ni khuyên:
"Có bốn hiện tượng bất khả tư nghị, này tỉ-khâu, bốn trường hợp mà người ta không nên suy ngẫm, đó là: năng lực của một vị Phật (pi. buddhavisaya), Định lực (pi. jhāna-visaya), nghiệp lực (pi. kamma-visaya) và suy ngẫm, t́m hiểu thế giới (pi. lokacintā)…" (Tăng nhất bộ kinh, IV. 77).

 

Bất nhị      Non dualité        不二     Advaya
Không hai. Cũng gọi là Vô nhị, Ly lưỡng biên (ĺa hai bên). Đối với hết thảy hiện tượng không phân biệt, hoặc vượt lên các thứ phân biệt.

 

Bế quan bảo nhậm              閉關保任    
Bảo nhậm là dứt trừ tập khí thế gian và xuất thế gian dần dần. Ví như nằm mơ khóc chảy nước mắt, khi tĩnh dậy vẫn cần phải lau nước mắt mới sạch được. (Nằm mơ dụ cho mê, tĩnh dậy dụ cho ngộ). Thiền tông nói: “Bất phá trùng quan bất bế quan”, là sau khi ngộ rồi muốn bảo nhậm bổn lai diện mục của tự tánh nên mới cần phải bế quan.

 

Bỉ ngạn      autre rive    other shore    彼岸    pāra
1. Bỉ ngạn, tiếng Phạm pāra: Bờ bên kia, ngược lại với bờ bên này. Thế giới này là thế giới mê muội, gọi là bờ mê. Thế giới bên kia là thế giới giác ngộ, gọi là bến giác, cho nên bỉ ngạn là chỉ cho bến giác. Bờ bên này là cảnh giới sinh tử, mà ḍng chảy chính là những phiền năo, nghiệp chướng; bến bên kia là cảnh giới niết bàn, hoàn toàn vắng lặng.
2. Bỉ ngạn, tiếng Phạm pāramitā: Dịch âm là ba la mật đa, dịch nghĩa đầy đủ là đáo bỉ ngạn, tức là đến được bến bờ giải thoát, đạt được giác ngộ.

  <一>梵語 pāra,巴利語同。爲「此岸」之對稱。迷界爲此方之岸,稱此岸;悟界爲彼方之岸,稱彼岸。即以業與煩惱爲中流,生死之境界爲此岸,涅槃爲彼岸。〔釋禪波羅蜜次第法門卷一上〕 <二>梵語 pāramitā。音譯波羅蜜多。全稱爲到彼岸。即自迷界之此岸至悟界之彼岸。

Bố tát              布薩    Uposatha
Là dịch âm từ tiếng Phạn, nghĩa là một h́nh thức hội họp. Theo giới luật nhà Phật, mỗi tháng có hai kỳ Bố tát để cử hành việc tụng giới (xưa kia, việc truyền giới cũng trong ngày Bố tát). Trước khi tụng giới phải qua việc tự kiểm thảo, vị Chủ tịch lâm thời hỏi Tăng chúng: “Trong nửa tháng qua, ai có phạm giới phải đứng ra tự bạch và sám hối với chúng?” Hỏi như vậy ba lần, nếu cả chúng im lặng th́ tuyên bố: “Tất cả giữ giới trong sạch”, rồi mới bắt đầu tụng giới.

 

Bố thí      Le don    donation    布施     Dāna
Thực hành hạnh Từ Bi, đem phúc lợi ban cho những người nghèo khổ, thiếu thốn những vật dụng như cơm ăn, áo mặc...
Phật giáo Đại thừa cho rằng Bố thí là một trong sáu pháp đưa đến giác ngộ (lục ba la mật) và ư nghĩa Bố thí được nâng cao hơn nhiều. Đó là, ngoài việc ban phát của cải, thức ăn uống (Tài thí), c̣n hai thứ bố thí nữa là Pháp thí (nói pháp cho người nghe) và Vô uư thí (cho người ta sự không sợ hăi).
Tóm lại, Bố thí là một phương pháp tu hành đem tài vật, thể lực, trí tuệ... cho người khác, v́ người mà tích luỹ công đức, tạo phúc thành trí, để cuối cùng được giải thoát.

  梵語曰檀那Dāna,譯為布施。以福利施與人也。所施雖有種種,而以施與財物為本義。得大富樂之果。周語曰:「享祀時至,布施優裕。」文子自然篇曰:「為惠者布施也。」莊子外物篇曰:「生不布施,死何含珠為。」荀子哀公篇曰:「富有天下而無怨財,布施天下而不病貧。」韓非顯學篇曰:「上徵斂於富人,而布施於貧家,是奪力儉而與侈墮也。」淮南子道應訓曰:「不義得之,又不能布施,患必至矣。」又齊俗訓曰:「為義者,布施而德。」論衡定賢篇曰:「使穀食如水火,雖貪吝之人,越境而布施矣。」法界次第曰:「檀那秦言布施。」無量壽經曰:「布恩施惠。」大乘義章十一曰:「言布施者,以己財事分布與他,名之為布,惙己惠人目之為施。」維摩經佛國品曰:「布施是菩薩淨土。」

Bồ Đề Đạt Ma      Boddhi Dharma    Bodhidharma    菩提達磨    Bodhidharma
470-543. Là Tổ thứ 28 sau Phật Thích-ca Mâu-ni của ḍng Thiền Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc.
Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Đế không thành, Bồ-đề-đạt-ma đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề-đạt-ma tu thiền định, chín năm quay mặt vào vách không nói; cũng tại đây, Huệ Khả đă gặp Bồ-đề-đạt-ma để lại truyền thuyết bất hủ về việc quyết tâm học đạo của ḿnh.

 

Bồ đề      boddhéité    perfect wisdom    菩提    Bodhi
Dịch là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền năo thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đă đạt được ở quả vị của các ngài.

 

Bồ đề đạo tràng              菩提道場    Bodhi-maṇḍa, Buddha-gayā
Bồ-đề đạo tràng, Bodhi-maṇḍa, Buddha-gayā.

Thuở Phật tại thế, vùng đất này là khu rừng già thuộc nước Ma-kiệt-đà, nằm phía nam thành Già-da.

Căn cứ kinh điển ghi chép, sau khi trải qua sáu năm tu khổ hạnh, Đức Thế Tôn đă đến vùng đất này, ngồi kiết-già trên bó cỏ Ku-sa, dưới cây Tất-bát-la cho đến khi chứng quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Thời gian sau, trong tâm thức người Phật tử, bó cỏ Ku-sa trở thành ṭa Kim cang; cây Tất-bát-la trở thành cây Bồ-đề; và vùng đất nơi Đức Phật thành đạo trở thành Đạo tràng Bồ-đề.

Sau Phật Niết-bàn 200 năm, vua A-dục lên ngôi, tin theo tà đạo, đă cho người đến Buddha-gayā chặt phá cây Bồ-đề, tuy nhiên, v́ chưa phá tận gốc, nên ít lâu cây lại mọc chồi mới, vua thấy vậy liền sanh tâm hối ngộ, ra lệnh cho quần thần xây dựng hàng rào bằng đá cao hơn 10 thước bao quanh thân cây để bảo vệ. Ngoài ra, vua A-dục c̣n dựng tháp kỷ niệm ở các vùng phụ cận Buddha-gayā, như chỗ Phật tu khổ hạnh, chỗ Phật nhận bát cháo của mục nữ Sujātā, chỗ Phật vượt sông hướng đến cây Bồ-đề…

Về sau, vua c̣n nhiều lần tu sửa và nâng cấp các bảo tháp, tuy nhiên, trải qua nhiều thời gian binh biến, đổi thay của định luật vô thường, thánh tích phần lớn chỉ c̣n lại gạch đá điêu tàn. Nay tại Bồ-đề đạo tràng chỉ c̣n lại:

1. Đại tháp Bồ-đề: C̣n gọi là Tháp Đại giác. Tháp có kiến trúc giống Kim tự tháp, cao khoảng 56 mét. Tháp này do vua A-dục sáng kiến. Năm 1870, Phật giáo Miến-điện đă tu bổ lại tháp này.

2. Cây Bồ-đề: Nằm phía Tây của Đại tháp, cao khoảng 12 mét. Con gái của vua A-dục là Tỳ-kheo-ni Saṃghamittā đă từng chiếc nhánh từ cây Bồ-đề này đem trồng ở Tích-lan. Về sau, cây Bồ-đề nguyên thủy bị Dị giáo phá hoại, người ta đă đem nhánh cây từ Tích Lan về trồng lại ở Bồ-đề đạo tràng, tức là cây Bồ-đề hiện nay.

3. Ṭa Kim cang: Nằm ngay dưới cây Bồ-đề, là chỗ Đức Phật đă ngồi thiền định cho đến khi chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

 

Bồ đề tâm      aspiration à l'Eveil    aspiration for enlightenment    菩提心    bodhi-citta
Bồ-đề tâm, nói đủ là vô thượng bồ-đề tâm, hay a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề tâm (Skt. anuttara-samyak-saṃbodhi-citta), tức tâm nguyện thành tựu sự giác ngộ tối thượng. Đại trí độ (Đại 25, tr. 362c28): «Bồ-tát sơ phát tâm, lấy vô thượng Bồ-đề làm đối tượng, nói rằng: Mong tôi sẽ thành Phật. Đó gọi là bồ-đề tâm.» Bồ tát Di-lặc nói với Thiện Tài: «Bồ-đề tâm là hạt giống của hết thảy Phật pháp. Bồ-đề tâm là ruộng phước v́ nuôi lớn pháp bạch tịnh. Bồ-đề tâm là cơi đất lớn, v́ nâng đỡ hết thảy thế gian. Bồ đề tâm là tịnh thủy, v́ rửa sạch tất cả cáu bợn phiền năo…»
Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy ḿnh đang sống trong cảnh tối tăm, giữa đọa đày khổ nhục, mong t́m một con đường sáng không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà c̣n là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ. Bồ-đề tâm, đó là ư chí kiên cường bất khuất của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. «Vui cười ǵ, thích thú ǵ, giữa ngọn lửa không ngừng thiêu đốt ? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi t́m ngọn đuốc? (Kinh Trường A-hàm»

  全稱阿耨多羅三藐三菩提心。又作無上正真道意、無上菩提心、無上道心、無上道意、無上心、道心、道意、道念、覺意。即求無上菩提之心。菩提心為一切諸佛之種子,淨法長養之良田,若發起此心勤行精進,當得速成無上菩提。故知菩提心乃一切正願之始、菩提之根本、大悲及菩薩學之所依;大乘菩薩最初必須發起大心,稱為發菩提心、發心、發意;而最初之發心,稱初發心、新發意。求往生淨土者,亦須發菩提心。無量壽經卷下謂,三輩往生之人皆應發無上菩提心。菩提心之體性,大日經卷一住心品謂,如實知自心,即為菩提。即以本有之自性清淨心為菩提心。 菩提心依種種緣而發,據菩薩地持經卷一載,發菩提心有四種緣,以如是四種緣為增上緣,欣樂佛之大智而發心,即:(一)見聞諸佛菩薩之不可思議神通變化。(二)雖未見神變,但聞說菩提及菩薩藏。(三)雖不聞法,但自見法滅之相,故護持正法。(四)不見法滅之相,但見濁世眾生為煩惱所擾,而難得發心。另發菩提心經論卷上發心品載有四緣:(一)思惟諸佛,(二)觀身之過患,(三)慈愍眾生,(四)求最勝之果。無量壽經宗要以「四弘誓願」作菩提心,且將之分為隨事發心(由具體之事項而發)與順理發心(由普通之真理而發)二種。大乘義章卷九對發心立三種之別:(一)相發心,見生死與涅槃之相,遂厭生死,發心求涅槃。(二)息相發心,知生死之本性寂滅,與涅槃無異;離差別相,始起平等之心。(三)真發心,知菩提之本性為自心,菩提即心、心即菩提,而歸於自己之本心。摩訶止觀卷一上謂,藏教、通教、別教,乃至圓教之菩薩各因推量生滅、無生、無量、無作之四諦理而發心,故稱推理發心。大乘起信論則說信成就發心、解行發心、證發心等三種發心,於信成就發心所起之直心、深心、大悲心等三心,亦作三種發心。密宗主張,發心為阿字五轉之一,復基於「菩提心論」行願、勝義、三摩地等三種菩提心,而說四種發心:(一)信心,指對於求無上菩提毫無疑惑之心。以其為萬行之基礎,故又稱白淨信心。(二)大悲心,發白淨信心後更立四弘誓願。亦作行願心、行願菩提心。(三)勝義心,於諸教中選擇殊勝之真實。亦作深般若心、勝義菩提心。(四)大菩提心,決定捨劣擇勝之際,十方諸佛即現眼前證知,諸魔見此則退怯不前。亦作三摩地菩提心。以上四心雖一度區分,但本為一體,以至佛果間無須臾或離,此是為自行化他、世間出世間修諸尊之三密所得者,故稱有相菩提心;然以本來有相即無相,如虛空離一切相,故與無相菩提心相契。 於日本淨土宗,源空著選擇本願念佛集,以為菩提心是雜行,而加以廢斥。基於此理,淨土宗鎮西派區分為聖道門與淨土門之菩提心,且謂菩提心為總安心、三心為別安心,而主張不應排斥發菩提心。另外,淨土宗西山派區分為行門與觀門之菩提心,主張廢前者,後者即是「三心」。淨土真宗則分為自力菩提心與他力菩提心,其中佛以本願誓與眾生信樂,即真實之信心為願作佛心(願成佛之自利之心)、度眾生心(濟度一切眾生之利他之心),故稱他力菩提心、淨土大菩提心。〔大品般若經卷九、舊華嚴經卷九、優婆塞戒經卷一、金剛頂蓮華部心念誦儀軌、大日經疏卷一、卷十四、摩訶止觀卷一下〕

Bồ đề thụ      Arbre de la Bodhi    Bodhi tree    菩提樹    bodhi druma
Cây bồ đề, nơi mà Đức Phật đă giác ngộ giải thoát.

  又稱覺樹、道樹、道場樹、思惟樹、佛樹。釋尊即於中印度摩揭陀國伽耶城南菩提樹下證得無上正覺。此樹原稱鉢多(梵 aśvattha),又作貝多、阿說他、阿沛多,意譯為吉祥、元吉。

Bồ tát      Bodhisattva    Bodhisattva    菩薩    Bodhisattva
Bồ Tát là lối viết tắt của Bồ-đề-tát-đỏa, dịch ư là Giác hữu t́nh (chúng sanh hữu t́nh đă giác ngộ và giúp cho chúng sanh hữu t́nh khác cũng được giác ngộ như ḿnh), hoặc Đại sĩ.
Bồ Tát là người có ḷng Từ Bi đi song song với Trí huệ. Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lănh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức ḿnh cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ tát bắt đầu bằng phát tâm Bồ-đề và giữ Bồ Tát hạnh nguyện. Hành tŕnh tu học của Bồ Tát theo kinh Hoa Nghiêm th́ có 52 quả vị gồm Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập địa và hai quả vị cuối cùng là Đẳng giác và Diệu giác.

  又曰菩提索埵,摩訶菩提質帝薩埵。舊譯為大道心眾生,道眾生等,新譯曰大覺有情,覺有情等。謂是求道之大心人。故曰道心眾生,求道求大覺之人,故曰道眾生,大覺有情。又薩埵者勇猛之義,勇猛求菩提故名菩提薩埵。又譯作開士,始士,高士,大士等。義譯也。總名求佛果之大乘眾。注維摩曰:「肇曰:菩提佛道名也。薩埵秦言大心眾生,有大心入佛道,名菩提薩埵。」大乘義章十四曰:「菩薩胡語,此方翻譯為道眾生。具修自利利他之道,名道眾生。」法華文句二曰:「菩提此言道,薩埵此言心。」法華經嘉祥疏一曰:「菩提云道,是無上正徧知果道也。薩埵言眾生,為求果道故名道眾生也。」法華玄贊二曰:「菩提覺義,是所求果。薩埵有情義,是自身也。求菩提之有情者。故名菩薩。」佛地論二曰:「緣菩提薩埵為境,故名菩薩。具足自利利他大願。求大菩提利有情故。」又曰:「薩埵者是勇猛義。精進勇猛求大菩提,故名菩薩。」淨名疏一曰:「菩提為無上道。薩埵名大心。謂無上道大心。此人發大心為眾生求無上道。故名菩薩。安師云開士始士。又翻云大道心眾生。古本翻為高士。既異翻不定。須留梵音。今依大論釋。菩提名佛道。薩埵名成眾生。用諸佛道成就眾生故。名菩提薩埵。又菩提是自行。薩埵是化他。自修佛道又用化他,故名菩薩。」天台戒經義疏上曰:「天竺梵音摩訶菩提質帝薩埵。今言菩薩。略其餘字。譯云大道心成眾生。」等不等觀雜錄一曰:「菩薩之薩字,說文無之。今有人改作[薩-產+(辛/干)],謂是薛字之假借也。又有寫作殺,更可駭也。考字典從薩,與古經不符。經中從廿從[阿-可]從立從生,當是譯經時所撰,良有以也。」

Bồ Tát Địa Tạng      Bodhisattva Ksitigarbha    Ksitigarbha Bodhisattva    地藏菩薩    Kṣitigarbha Bodhisattva
Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa.
Căn cứ kinh điển ghi chép th́ Bồ-tát Địa Tạng đă nhận lời phó chúc của Đức Thế Tôn, đảm trách việc giáo hóa, cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo trong khoảng thời gian sau khi Đức Thích Tôn nhập niết-bàn và trước trước khi Đức Di-lặc thành Phật, với lời thề nguyện: “Nếu địa ngục chưa hết chúng sinh đau khổ th́ sẽ không thành Phật, chừng nào độ hết chúng sinh th́ mới chứng quả Bồ-đề”. Bởi do lời thề nguyện đó nên ngài được tôn xưng là Đại Nguyện Bồ-tát.
Bồ tát thường tùy nguyện ứng hiện vào thế giới Ta-bà bằng nhiều h́nh tướng sai khác để hóa độ chúng sinh. Tuy nhiên đa phần chúng ta biết đến Ngài qua h́nh ảnh một vị Tỳ-kheo thân tướng trang nghiêm, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm hạt minh châu, đầu đội mũ tỳ lư quán đảnh đứng hoặc ngồi trên con Đế thính. Sở dĩ Ngài hiện thân tướng Tỳ-kheo, do v́ bản nguyện của Ngài là cứu độ chúng sinh ra khỏi cảnh giới sinh tử, nên h́nh ảnh ngài là một con người giải thoát (xuất gia). Tay phải cầm tích trượng, trên đầu tích trượng có mười hai khoen để nói lên ư nghĩa, ngài luôn dùng pháp Thập nhị nhân duyên để giáo hóa chúng sinh. Tay trái cầm hạt minh châu biểu thị trí tuệ. Bồ tát với trí tuệ rộng lớn thường soi sáng tất cả chốn u minh khiến cho chúng sinh hiện đang bị giam cầm trong ngục tối trông thấy ánh sáng đều được thoát ngục h́nh. Bồ tát cỡi con Đế thính, Đế thính là con linh thú, khi mọp xuống đất trong giây lát th́ biết rơ tất cả sự vật trong trời đất. Bồ tát cỡi con Đế thính dụ cho ngài là vị đă nhiếp tâm thanh tịnh, an lập các pháp thức thành tựu cảnh giới thiền định.

 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27