Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Biệt báo           distinct karmic reward    別報    
Quả báo riêng biệt; c̣n viết là Măn nghiệp. sự vận hành liên quan đến hiện nghiệp phát sinh tương đối nhanh thành nhiều chi tiết khác nhau giữa các loài chúng sinh, như sự khác nhau của người sinh ra được giàu có và người nghèo, đẹp và xấu... Điều này khác xa với quả báo chung, như chủng tộc người được sinh ra... , gọi là Tổng báo. C̣n có nghĩa tương tự là Y báo.

Biệt báo nghiệp          particularizing karma    別報業    
Xem "Biệt báo"

Biệt cảnh           distinct states; special objects    別境    vibhāvanā
Là ư tưởng, hay tâm hành sinh khởi tùy theo nhiều đối tượng hoặc nhân duyên mà tâm thức hướng đến. Một loại Tâm sở hữu pháp đặc biệt sinh khởi không nhất thiết thông qua các thức mà chỉ tùy thuộc nhiều vào "Tâm vương" trong những hoàn cảnh đặc biệt là: loại tâm sở hữu pháp chỉ ghi nhận những đối tượng đặc biệt. Bổ sung cho Tâm sở biến hành. Theo Pháp tướng tông, nhóm phần tử nầy rơi vào phạm trù chung "Tâm sở". Biệt cảnh bao gồm 5 phần tử, đó là: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.

Biệt cảnh tâm sở               別境心所     
Xem "Biệt cảnh"

Biệt giải thoát luật nghi vô biểu              別解脫律儀無表    prātimokṣa-saṃvara
Nhờ sự xa lánh tội lỗi nơi thân, khẩu của riêng từng giới mà đạt được thể vô biểu. Như đệ tử Phật nhờ thọ tŕ các phẩm bậc giới luật, 5 giới, 10 giới, 250 giới, 348 giới, v.v… mà đạt được thể vô biểu.

Biệt giáo       Enseignement particulier    Separate teaching    別教    
Một trong bốn giáo hoá pháp: Tạng, Thông, Biệt, Viên, do tông Thiên Thai thành lập. Giáo lư riêng của Nhất thừa. Khía cạnh siêu việt của Nhất thừa, hoàn toàn siêu việt cả ba thừa.
Biệt giáo tuyên nói ư chỉ trong các kinh Đại thừa riêng cho hàng Bồ tát, như kinh Hoa nghiêm v.v...

Biệt tướng      Caractéristique particulière    Distinctive characteristics    別相    bheda
Tiếng riêng, một trong hai tướng, đối lại với "Tổng tướng". Hết thảy các pháp đều vô thường, vô ngă, đó là tổng tướng, tức là tướng trạng tổng quát. Nhưng, hết thảy các pháp cũng đều có tướng đặc thù riêng, như ẩm ướt là tướng của nước, cứng chắc là tướng của đất, nóng là tướng của lửa v.v... đó là biệt tướng.

Biên kiến              邊見    anta-grāha-dṛṣṭi
Chấp vào một bên, kiến giải cực đoan, như cho rằng sau khi ta chết vẫn thường c̣n không mất, đây gọi là Thường kiến (hữu kiến); hoặc cho rằng sau khi ta chết th́ dứt hẳn, đây gọi là Đoạn kiến (vô kiến).

B́nh thường tâm              平常心    
Bản thể của tự tánh b́nh thường cùng khắp không gian thời gian, nơi phàm chẳng bớt, nơi Thánh chẳng thêm. Tâm này b́nh đẳng như thường, chẳng sanh chẳng diệt, chúng sanh y theo tâm này ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, nên gọi b́nh thường tâm là đạo vậy.

Căn bản phiền năo              根本煩惱    mūla-kleśa
C̣n gọi Bản hoặc, Căn bản hoặc. Gọi tắt là Phiền năo.
Chỉ cho 6 loại phiền năo có gốc rễ từ nhiều đời nhiều kiếp, nằm sâu trong tâm thức của chúng sinh, rất khó đoạn trừ, đó là tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến. Trong đó, ác kiến lại được phân ra làm 5 loại, gọi là Ngũ lợi sử, c̣n 5 phiền năo kia gọi là Ngũ độn sử. Hợp cả hai lại gọi chung là 10 phiền năo, 10 sử hay 10 tuỳ miên. Ngoài ra, căn cứ sự có mặt của nó trong 3 cơi người ta cộng chung lại thành 88 sử hoặc 98 sử.
Những phiền năo phát sinh từ căn bản phiền năo, cũng có tác dụng làm ô nhiễm tâm và ô nhiễm tâm sở, được gọi là Tuỳ phiền năo hay Tuỳ hoặc (những phiền năo phụ thuộc).

Cảnh giới              境界    Viṣaya
1. Đối tượng của cảm giác, của nhận thức nhờ sáu thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư.
2. Thật tướng của các pháp được các bậc tu chứng nh́n thấy, chứng nghiệm được, gọi là cảnh giới giác ngộ. Mỗi người tuỳ theo chỗ tu tập của ḿnh mà đạt được một cảnh giới riêng nhất định mà người chưa giác ngộ, hoặc giác ngộ chưa tới, không thể cảm nhận được. Cũng khó thể chia sẻ cho người khác biết được cảnh giới giác ngộ của ḿnh, bởi ngôn ngữ không thể diễn tả một cách trung thực và toàn vẹn những ǵ người giác ngộ chứng nghiệm được.
Kinh Vô lượng thọ ghi: "Tỳ kheo bạch Phật: Ư nghĩa này quá sâu rộng, không phải cảnh giới của con". Kinh Nhập lăng già, ghi: "Trí chứng được bên trong Ta c̣n bỏ, th́ vọng giác đâu phải là cảnh giới".

Cấp cô độc      Bienfaiteur des nécessiteux    Anathapindika    給孤獨    Anàthapindika
Cấp cô độc sống tại thành Xá Vệ. Là một quan Trưởng giả đại thần dưới quyền cai trị của vua Ba Tư Nặc. Ông cũng là người mua lại vườn thượng uyển của Thái Tử Kỳ Đà dâng cúng cho Phật làm tinh xá tên gọi Kỳ viên.

Cận phần định              近分定    sāmantaka-samādhi
phương tiện nhập môn cho tám Định căn bản.
Định căn bản có tám loại: Tứ tĩnh lự (Tứ thiền) và Tứ vô sắc định, cho nên Cận phần định cũng có tám loại.


Cận sự nam               優婆塞     Upāsaka
Tức ưu-bà-tắc, cư sĩ nam, Phật tử tại gia đă quy y Tam bảo và thọ tŕ năm giới, luôn gần gũi, thân cận hộ tŕ Tam bảo nên gọi là Cận sự.

Cộng pháp              共法    
Pháp chung với Nhị thừa (như có sanh tử để diệt, có Niết Bàn để chứng) và pháp chung với Đại thừa (như thấy sanh tử, Niết Bàn đều như hoa đốm trên không).

Cứ khoản kết án              據款結案    
Là căn cứ theo căn cơ tŕnh độ của người học (nghi ngộ, sâu cạn, chân giả…) mà dùng các phương tiện linh động để tùy cơ quét sạch dấu tích có sở trụ của người học.

Cam lộ      ambroisie, élixir    nectar    甘露    amṛta
Pháp vị của Phật pháp là vị mầu nhiệm nuôi dưỡng thân tâm chúng sinh.

Câu sinh ngă chấp              俱生我執    sahaja -ahaṃkāra-manaskāratā
Ngă chấp câu sinh, do năng lực của nhân nội tại được huân tập bởi hư vọng kể từ thời vô thủy đến nay, thường hằng tồn tại cùng với thân; không cần chịu ảnh hưởng bởi tà giáo và tà phân biệt, mà chuyển hiện một cách tự nhiên, do đó gọi là câu sinh.
Loại ngă chấp này lại có hai thứ:
a. Thường tương tục, ở tại thức thứ bảy; nó lấy thức thứ tám làm đối tượng khiến sinh khởi h́nh tướng của tự tâm, rồi chấp đó là thực ngă.
b. Có gián đoạn, tại thức thứ sáu; nó lấy h́nh tướng năm thủ uẩn, vốn là biến hiện của thức, làm đối tượng, hoặc tổng thể hoặc cá biệt, khiến sinh khởi tướng của tự tâm rồi chấp đó là thực ngă.
Cả hai chấp trước này rất khó đoạn trừ, v́ rất vi tế. Về sau, trong tu đạo, thường xuyên tu tập sinh không quán đặc biệt mới có thể diệt trừ.

Câu thi na              拘尸那    Kuśinagara
Câu-thi-na, Kuśi-nagara, nơi Đức Phật nhập Niết-bàn.
Thuở Phật tại thế, Câu-thi-na là một thị trấn của nước Mạt-la (Mallas).
Theo Kinh Trường A-hàm, khi Thế Tôn tuyên bố nhập Niết-bàn ở thành Câu-thi-na, tôn giả A-nan đă ‘Xin Phật chớ diệt độ tại chỗ đất hoang vu trong thành chật hẹp thô lậu này’. Đức Phật liền dạy, thành này xưa kia, vào thời vua Đại Thiện Kiến, đă từng xinh đẹp như một Tịnh độ. Rồi Phật dạy: “Này A-nan, Ta nhớ đă từng ở nơi này, Ta sáu lần tái sanh làm Chuyển Luân Thánh vương và cuối cùng bỏ xác tại chỗ này. Nay Ta thành Vô thượng Chánh giác, lại cũng muốn xả bỏ mạng căn, gởi thân tại đây. Từ nay về sau, Ta đă dứt tuyệt sanh tử, không c̣n có chỗ nào là nơi bỏ xác Ta nữa. Đây là đời cuối cùng. Ta không c̣n thọ sinh trở lại nữa”.
Đức Thế Tôn chọn thành Câu-thi-na, một mảnh đất đă từng xinh đẹp như Tịnh độ, để nhập Niết-bàn là muốn khai thị cho chúng sanh đời sau biết rằng, muốn vào Niết-bàn phải về Tịnh độ. Đó là di giáo tối hậu của Đức Thế Tôn.
Vùng đất này đă từng được các tín đồ Phật giáo xây dựng và tổ chức các hoạt động văn hóa. Nhưng đến thế kỷ thứ 5, khi ngài Pháp Hiển đến đây chiêm bái th́ chỉ thấy thưa thớt người sinh sống và đại bộ phận chùa viện đều đă hoang phế.
Thế kỷ thức 7, Đường Huyền Trang đến đây chiêm bái th́ thành này đă hủy hoại, thôn ấp tiêu điều, dân cư càng thưa thớt.
Năm 1853, nhà khảo cổ M.A.C. Carlyle tiến hành khai quật thành Câu-thi-na, và công tác khảo cổ tiến hành cho đến ngày nay đă phát hiện được:
1. Điện Phật nằm: Trong điện này có tượng Đức Phật Niết-bàn, dài 20 mét, nằm trên bệ thờ được điêu khắc tinh mỹ. Đầu giường khắc h́nh tôn giả A-nan, Tu-bồ-đề (Subhadda), Ngơa-cát-lạp-bà-ni (Vajrapaṇi) và 5 tượng khác không rơ danh tánh, cùng với những hoa văn. Nghệ thuật tạo tượng và những hoa văn cho biết pho tượng này được kiến tạo vào khoảng thế kỷ thứ 5 công nguyên.
2. Tháp Đại Niết-bàn: Tháp này được xây dựng ngay nơi Phật nhập Niết-bàn. Măi đến năm 1912 công tác khai quật tháp này mới hoàn thành. Tháp cao 167 thước Anh. Trong tháp người ta t́m thấy rất nhiều di vật bằng đồng, có hoa văn và chữ viết của vương triều (Kumara Curta, niên đại 413-455).
3. Di tích và tường đá của một số ít chùa viện: Có rất nhiều hoa văn chuyển tải và ghi chép tên gọi các tự viện cũng như người kiến tạo Chùa Đại Niết-bàn. Những phát hiện này có giá trị lịch sử vô cùng lớn lao.
4. Tháp trà tỳ: Tháp này có tên là An-già-la (Angara Chaitya), tương truyền là nơi trà tỳ thân Phật. Người địa phương gọi tháp này là Rambhar. Trong tháp có di vật quan trọng nhưng đă bị kẻ gian đào đường hầm trộm mất.


Chư hành vô thường      impermanence des multiples mouvements    Whatever is phenomenal is impermanent.    諸行無常    Anityāḥ sarva-saṃskārāḥ
Hết thảy hiện tượng và muôn vật trong thế gian luôn luôn biến chuyển không ngừng. Đây là đại cương căn bản của Phật pháp. Cùng với Chư pháp vô ngă, Niết bàn tịch tĩnh cùng là một trong ba pháp ấn, gọi là Chư hành vô thường ấn, Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn. Gọi là ba pháp ân, tức là nhờ vào ba thứ pháp môn mà phán đoán được Phật pháp có cùng tột hay không.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27