Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Hành          Go; act; do    行    Saṃskāra
Nguyên nghĩa là tạo tác, sau chuyên thành nghĩa biến hoá đổi dời.
1. Tạo tác: Cùng nghĩa với "nghiệp", tức là chi "hảnh" trong 12 duyên khởi. Đó là 3 nghiệp thân, khẩu, ư đời quá khứ chiêu cảm quả báo hiện tại. Cũng tức là tất cả hành động của thân và tâm.
2. Biến hoá đổi dời: Tức là pháp hữu vi, bởi v́ các pháp hữu vi là do nhân duyên tạo thành, đều là pháp vô thường, biến hoá, đổi dời, cùng nghĩa với chữ "hành" trong "chư hành vô thường" và "hành uẩn" trong 5 uẩn.

Hành, viết theo tiếng Phạm Caryā, Carita, th́ có hai nghĩa:
1. Động tác, hành vi.
2. Chỉ cho sự tu hành hoặc phương pháp tu hành đạt đến cảnh giới giác ngộ. Như chữ "hành" trong "Hành giải tương ứng" (sự hiểu biết và thực hạnh đi đôi với nhau)...

Hành, nếu viết theo tiếng Phạm Gamana, th́ có nghĩa là đi, là bộ hành.

Hi liên               熙連    Hiraṇyavatī
Tên sông, c̣n gọi là A-thị-đa-phạt-để (S: Ajitavatī), nằm ở miền trung Ấn Độ, thuộc thành Câu-thi-na xưa.

Hiện pháp niết-bàn luận              現法涅槃論     
Một trong 62 kiến chấp của ngoại đạo (một trong 62 học thuyết của ngoại đạo Ấn độ xưa). Trong 62 kiến chấp này người ta phân ra 5 loại kiến chấp, gọi là Ngũ chủng hiện pháp niết-bàn luận.
Kiến chấp thứ 5 là Hiện pháp niết-bàn luận, chủ trương hưởng thụ năm thứ dục lạc hiện tại, cho đó là niết-bàn ở Dục giới; c̣n Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền là niết-bàn ở Sắc giới.

Hoặc          affliction    惑     
Mê lầm không hiểu.
Tâm mê vọng, mê lầm sự lư đối với sự vật hiện tượng nên tạo tác những nghiệp hữu lậu, tăng trưởng sức mạnh cho sự tái sinh ở đời sau, làm nhân cho sự sinh tử tiếp nối, gọi là Hoặc. "Hoặc" gần giống với nghĩa "Vô minh". Do phiền năo kết hợp với nghiệp tướng làm nhân chung cho quả báo luân hồi nên Hoặc và Nghiệp thường đi đôi với nhau.

Hoặc nghiệp khổ              惑業苦    
Do các hoặc tham, sân, si... mà tạo các nghiệp thiện ác, rồi lại do các nghiệp này làm nhân mà chiêu cảm quả khổ sống chết trong 3 cơi. Do hoặc khởi nghiệp, v́ nghiệp mà phải chịu khổ, khổ lại khởi hoặc, cứ thế xoay vần, sinh tử không dứt.

Hôn trầm              惛沈    styāna
Hôn trầm, đó là tính chất không hoạt động, không mềm dịu dễ dụng của tâm.
Luận nói: Hôn trầm là ǵ ? Đó là tính mông muội, tâm không điều ḥa và không kham nhiệm. Là một phần của si. Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho tất cả phiền năo và tùy phiền năo.

Huân tập               熏習    vāsanā、pravṛtti、abhyāsa
Lấy thế lực của pháp này xông ướp lên pháp khác. Giống như lấy hương liệu xông ướp đồ vật.
Đại thừa khởi tín luận giải thích: ‘Huân tập nghĩa là ǵ? Là giống như thế gian họ lấy hương thơm xông ướp cho áo quần. Áo quần vốn không có mùi hương, người ta lấy hương liệu huân tập cho nó th́ nó mới có mùi hương’.
Nói một cách khác, hồi xưa, để cho đồ vật có mùi thơm người ta để đồ vật đó trong chỗ có mùi thơm, lâu ngày, mùi thơm sẽ thấm vào đồ vật, khi lấy đồ vật ra dùng mùi thơm vẫn c̣n tồn tại một thời gian, cách làm đó gọi là huân tập. Phật giáo dùng từ ngữ này để chỉ cho các pháp do sức huân tập, do sự lập đi lập lại một thói quen lâu ngày mà thành tính.
Thành duy thức luận quyển 2, nói: ‘Làm cho chủng tử sinh trưởng gọi là Huân tập’.
Nhiếp luận thích nói: ‘Thế nào là huân tập (vāsanā)? Cái y nơi pháp kia mà cùng sinh cùng diệt; trong đó nó mang tính chất của nhân để sản sinh pháp kia; cái đó là sự huân tập. Như vừng được ướp hoa; vừng và hoa cùng sinh cùng diệt. Vừng mang trong nó cái tự thể làm nguyên nhân cho mùi thơm xuất hiện.
Y nơi các pháp tạp nhiễm kia, cùng sinh cùng diệt, thức a-ại-da sản sinh pháp kia, là nhân tính của các pháp. Đó gọi là huân tập.’

Kế độ phân biệt              計度分別    abhinirūpaṇā-vikalpa
Kế độ phân biệt là một trong ba loại phân biệt. C̣n gọi là Suy độ phân biệt, Phân biệt tư duy. Nghĩa là, tâm thức duyên vào cảnh mà nó tiếp nhận rồi suy diễn, phán đoán, suy tính, là tác dụng của tán tuệ tương ưng với ư thức. Luận A-t́-đạt-ma câu-xá quyển 2 (Đại 29, 8 trung), nói: "Tán nghĩa là chẳng phải định. Tán tuệ tương ứng với ư thức gọi là Kế độ phân biệt".

Kết sử          Affliction    結使    
Tên gọi khác của phiền năo. Phiền năo trói buộc chúng sanh trong sanh tử luân hồi, nên gọi là kết; lại luôn luôn năo loạn, sai khiến thân tâm chúng sanh nên gọi là sử. Kết có 9 thứ: ái, khuể, mạn, vô minh, kiến, thủ, nghi, tật, san. Sử có 10 loại: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến.

Kỳ viên tinh xá              祇園精舍    Jetavanānāthapiṇḍadasyārāma
Vị trí
Nằm phía Nam thủ đô Xá-vệ nước Kiều-tất-la.
Tên gọi
Tên gọi đầy đủ là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, Jetavanānāthapiṇḍadasyārāma
Tên gọi khác: Kỳ-hoàn, Kỳ viên, Thệ-đà lâm, Thắng lâm.
Kỳ Thọ là chỉ cho khu Lâm viên của thái tử Kỳ-đà, con vua Ba-tư-nặc.
Cấp Cô Độc là trưởng giả thành Xá-vệ, cũng là biệt hiệu của Tu-đạt, Chủ tạng sử của quốc vương Ba-tư-nặc.
Vùng đất của Tinh xá này vốn là Lâm viên của thái tử Kỳ-đà. Trưởng giả Tu-đạt muốn mua lại vùng đất này (ước tính khoảng 100 mẫu) để xây dựng Tinh xá cúng dường Đức Phật và Tăng đoàn. Thái tử ra điều kiện, nếu Tu-đạt có thể đem vàng ṛng rải khắp mặt đất Lâm viên th́ thái tử sẽ bán cho. Tu-đạt y lời, đem vàng trải khắp Lâm viên khiến cho thái tử Kỳ-đà cảm nhận được thành tâm của ông, nên thái tử đă phát tâm cúng dường toàn bộ cây trong Lâm viên để cả hai người cùng kiến tạo Tinh xá. V́ lư do này mà Tinh xá có tên là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
Thánh tích
- Đức Phật an cư ở Tinh xá này 24 lần. Phần lớn kinh điển đều được Đức Phật thuyết giảng ở đây.
- Góc phía Bắc của Tinh xá có Viện vô thường, để cho những người bệnh an dưỡng. Khi nằm ở viện này, nghe đến tên, là người bệnh lănh ngộ được tất cả các pháp đều vô thường, nhờ vậy mà an nhiên viên tịch.
- Tại Tinh xá này, Đức Phật đă lên cơi trời Đao Lợi thuyết pháp ba tháng. Vua Ưu-điền v́ nhớ Phật đă cho khắc tượng Ngài bằng gỗ Chiên-đàn, cao 5 thước. Vua Ba-tư-nặc biết được, đă cho đúc tượng Phật bằng vàng ṛng, cũng cao 5 thước. Đó là hai pho tượng Phật đầu tiên trong lịch sử h́nh tượng Phật giáo.
- Gần Tinh xá ngày nay vẫn c̣n một mô đất cao, đó là nơi tứ chúng đệ tử đắp tam cấp để cung nghinh Đức Phật từ cung trời trở lại nhân gian.
- Trong Tinh xá có động Hoa lâm, Kareri-kuṭikā. Đức Thế Tôn từng cư trú trong động này.
- Một tinh xá nhỏ, có tên là Tùng lâm tinh xá, Śalalā-gāraka, đúng ra nên gọi là tịnh thất. Đó là tịnh thất Thế Tôn thường vào nhập định.
- Gần Tịnh xá Kỳ Viên là di tích nhà ông Cấp Cô Độc; tháp tưởng niệm đại tướng cướp Aṅgulimālya được Phật hóa độ.

Khế cơ              當機    
Thích ứng với căn cơ tŕnh độ của chúng sanh gọi là đương cơ. Cũng gọi là khế cơ.

Khổ      Souffrance    Suffering - Unsatisfactoriness    苦    Duḥkha
Chân lư thứ nhất của Tứ diệu đế nói về tính chất của khổ như sau:
1. Sinh là khổ;
2. Già là khổ;
3. Bệnh là khổ;
4. Chết là khổ;
5. Thương mà phải xa là khổ (ái biệt ly khổ);
6. Ghét mà phải gặp là khổ (oán tắng hội khổ)
7. Không đạt ǵ ḿnh ưa thích là khổ (cầu bất đác khổ);
8. Mọi thứ dính líu đến Ngũ uẩn là khổ (ngũ uẩn xí thạnh khổ).

Khổ hạnh      Ascétisme    Ascetic    苦行    Duṣkara-caryā
Khổ hạnh là một h́nh thức tu bắt cơ thể phải chịu đói khát đau đớn. H́nh thức tu này có trước khi Phật giáo ra đời, chính thái tử Tất Đạt Đa trên con đường sáng lập đạo Phật đă từng tu khổ hạnh trong 6 năm trời, nhưng sau đó Ngài đă phát hiện cách tu này không đem lại sự giải thoát hoàn toàn nên đă từ bỏ và tiếp tục t́m chân lư Phật giáo.

Không tuệ              空慧    
Trí tuệ quán chiếu lư không của các pháp, tức là tuệ giác có được nhờ chứng nhập tánh không của các pháp.

Không vô biên xứ      Sphère de l'infini de l'espace    Sphere of the infinity of space    空無邊處    Ăkăsanantăyatana
Tầng trời thứ nhất trong 4 tầng trời của cơi Vô sắc. Chúng sinh ở cơi này v́ nhám chán h́nh sắc nên không có sắc uẩn, chỉ có 4 uẩn thọ, tưởng, hành, thức.

Kiến đạo              見道    darśana-mārga、dṛṣṭi-mārga
C̣n gọi là Kiến đế đạo, Kiến đế. Là một trong những kết quả của sự tu học, đưa người tu đến một vị trí trong ḍng Thánh quả. Kiến đạo, Tu đạo, và Vô học đạo được gọi là Tam đạo.
Nhờ quán chiếu Tứ diệu đế ngay trong đời hiện tại mà đạt được trí tuệ không phiền năo (Trí vô lậu), gọi là Kiến đạo. Đây là giai vị tu hành quán chiếu và thấy được lư Tứ đế. Người trước khi Kiến đạo th́ gọi là phàm phu, khi thấy được Bốn sự thật, gọi là Kiến đạo, từ đó về sau đă trở thành Thánh giả.
V́ Kiến đạo nên các phiền năo được đoạn trừ, cho nhên những phiền năo được đoạn trừ trong giai đoạn này được gọi là Kiến hoặc.
Sau khi Kiến đạo, đối với sự tướng, hành giả phải tiếp tục nỗ lực tu tập cụ thể, gọi là Tu đạo.
Phật giáo Nguyên thuỷ gọi những Thánh giả Dự lưu hướng (hướng đến, trên đường đi đến quả Dự lưu) là Kiến đạo. Phật giáo Phát triển gọi những vị Sơ địa là Kiến đạo.

Kiến hoặc              見惑    darśana-mārga-prahātavyānuśaya
Gọi đủ là Kiến đạo sở đoạn hoặc. Cũng gọi là Kiến phiền năo, Kiến chướng. Chỉ cho những phiền năo được đoạn diệt khi tiến lên giai vị Kiến đạo, tức là khi thấy chân lư, thấy Bốn sự thật (tứ đế) th́ những phiền năo này được đoạn trừ. Gồm 10 thứ: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến (xem mục Ngũ lợi sử), Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi (xem mục Ngũ độn sử). 10 thứ phiền năo, kiến hoặc này c̣n được gọi là Thập sử.
Theo Luận Câu-xá, trong ba cơi đều có những Kiến hoặc, và đều nhờ sự quán chiếu, giác ngộ về Tứ diệu đế mà đoạn trừ, mỗi cơi có nhận thức chưa đúng đắn về Tứ diệu đế khác nhau, nên phát sinh những kiến hoặc khác nhau, tổng cộng trong ba cơi có 88 phần phiền năo, gọi là 88 sử kiến hoặc.
Ở Dục giới cần phải đoạn trừ tất cả 32 sử, đó là: 10 sử (5 lợi sử và 5 độn sử) nơi Khổ đế; 7 sử nơi Tập đế và Diệt đế (trừ thân kiến, biên kiến và giới cấm thủ kiến); 8 sử nơi Đạo đế (trừ thân kiến, biên kiến). Ở Sắc giới và Vô sắc giới hoàn toàn không có sân hận, nên 10 sử chỉ c̣n lại 9 sử, vị chi trong Tứ đế tổng cộng có 56 sử cần phải đoạn trừ như sau: 9 sử nơi Khổ đế, 6 sử nơi Tập đế, 6 sử nơi Diệt đế, 7 sử nơi Đạo đế.

Kiến phần                  
Kiến phần : Chủ thể nắm bắt (grāhaka: năng thủ) đối tượng là kiến phần.
Kiến phần c̣n gọi là Năng thủ phần, là tác dụng năng duyên của 8 thức tâm vương, là chủ thể nhận biết sự vật ; cũng là tác dụng chủ thể soi sáng các đối cảnh sở duyên (tức Tướng phần – đối tượng của nhận thức).
Kiến là thấy biết, là công năng phân biệt nhận biết của thức khi tiếp xúc đối tượng, cảnh tướng, như tấm gương chiếu rọi muôn vật. Ví dụ, nhăn thức th́ phân biệt và nhận biết sắc, nhĩ thức th́ phân biệt và nhận biết âm thanh, tỷ thức th́ phân biệt và nhận biết mùi hương…
Kiến phần có 5 nghĩa :
- Chứng kiến danh kiến : Kiến phần của trí căn bản, nghĩa là trí căn bản tự thấy chứng, tự thấy nên gọi là Kiến.
- Chiếu chúc danh kiến: Nghĩa này thông cả căn, tâm (tức 6 căn 6 thức), v́ căn, tâm có đủ nghĩa soi sáng nên gọi là Kiến.
- Năng duyên danh kiến: Nghĩa này thông cả Tự chứng phần,Chứng tự chứng phần và Tự chứng phần năng duyên, v́ 3 phần này đều là năng duyên nên gọi là Kiến.
- Niệm giải danh kiến: Hiểu và nhớ được nghĩa lí nói ra một cách rơ ràng nên gọi là Kiến.
- Suy đạc danh kiến: V́ tâm có khả năng suy lường tất cả cảnh giới nên gọi là Kiến.

Kiến sở đoạn              見所斷    darśana-prahātavya
Sự ô nhiễm được diệt trừ do sự thấy chân lư.
Ngay khi đạt đến điểm cao của sự quán sát về bốn Thánh đế, một cách trực tiếp, và liên tục, mười sáu sát-na tâm khởi lên, nhận thức bản chất hiện thực trong bốn Thánh đế. Đó là giai đoạn vào kiến đạo, chứng Dự lưu hướng (Śrota-āpatti-pratipannaka). Ở đây, những phiền năo ô nhiễm hoạt động do ảnh hưởng nhận thức sai lầm về bản chất tồn tại được diệt trừ. Những phiền năo ấy được gọi là phiền năo kiến sở đoạn hay kiến sở đoạn hoặc (darśanaprahātavya-kleśa). Đó cũng gọi là những phiền năo do mê lư.
Về tác nhân tâm lư ô nhiễm chủ yếu, tức căn bản phiền năo hay tùy miên (kleśa, anuśaya), có sáu: tham (rāga), sân (pratigha), mạn (māna), vô minh (avidyā), kiến (dṛṣṭi) và nghi (vicikitsā). Trong đó, kiến hay quan điểm triển khai thành 5: hữu thân kiến (satkāyadṛṣṭi), tà kiến (mithyadṛṣṭi), biên chấp kiến (antagrāha-dṛṣṭi), kiến thủ kiến (dṛṣṭiparāmarśa-dṛṣṭi), giới cấm thủ (śīlavrataparāmarśa-dṛṣṭi). Mười phiền năo này, do tác động bởi nhận thức sai lầm về bốn Thánh đế trong ba giới tồn tại khác nhau nên chúng hoạt động như là 88 chức năng tâm lư khác nhau. Phân bố như sau: A. Dục giới, 1. Mê lầm khổ đế, có đủ 10 phiền năo; 2. Mê tập đế, có 7 (trừ thân kiến, biên kiến, giới cấm thủ); 3. Mê diệt đế, có 7 (như tập đế), 4. Mê đạo đế có 8 (trừ thân kiến, biên kiến). Cộng: 32. Sắc và Vô sắc giới đều có 28 (trong mỗi đế trừ sân). Tổng cộng 88. Tất cả dứt sạch một lần khi nhận thức được bốn Thánh đế, gọi là Kiến sở đoạn hay Kiến đạo sở đoạn.

Kiều Trần Như      Anna Kondanna        憍陳如    Ājñāta-kauṇḍinya
Là một trong 5 vị đệ tử đầu tiên được độ khi đức Phật chuyển pháp luân ở vườn Nai.
Ông là một trong những đại đệ tử của đức Phật, có ḷng nhân từ và sự hiểu biết sâu rộng, có khả năng giáo hoá, tiếp dắt đại chúng, không mất uy nghi, là người đầu tiên thụ pháp vị và tư duy Tứ diệu đế.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27