Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Trường A hàm kinh      Les longs sutras     Longer Āgama-sutra    長阿含經    Dīrghāgama
Kinh Trường A-hàm, tiếng Phạn là Dīrghāgama, gồm 22 quyển, do Phật-đà-da-xá (Buddhayaśas, Tăng nhân nước Kế Tân, bắc Ấn Độ) và Trúc Phật Niệm (người Lương Châu, Cam Túc, Vũ Uy) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thỷ thứ 15 (413 Tây lịch), hiện nằm trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), tập 1, số 1, trang 1-149. Theo Luật Tứ Phần quyển 54, Luật Ngũ Phần quyển 30, Luận Du Già Sư Địa quyển 85 v.v… th́ kinh này tập hợp những bài pháp thoại dài của Đức Thế Tôn mà thành. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa (Sarvāstivāda vinaya vibhāṣā) quyển 1, cho rằng kinh này chuyên đả phá các ngoại đạo nên gọi là Trường A-hàm. Luận Phân Biệt Công Đức quyển 1, th́ giải thích, trường là tŕnh bày những sự việc xa xưa, trải qua nhiều kiếp. Đọc lại Trường A-hàm th́ biết rằng đây đúng là những bài pháp thoại rất dài, tŕnh bày nhiều vấn đề, nhiều ư nghĩa sâu xa, chứa đựng nhiều giáo lư căn bản…
Về sự truyền thừa của Trường A-hàm, theo Pháp Hoa Kinh Huyền Tán quyển 1, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Tán quyển 8… th́ bốn bộ A-hàm đều do Đại chúng bộ truyền. Nhưng Câu Xá Luận Kê Cổ quyển thượng, th́ cho rằng Trường A-hàm do Hoá Địa Bộ truyền. Theo các công tŕnh nghiên cứu của các học giả Nhật Bản thời hiện đại, th́ Trường A-hàm do Pháp Tạng Bộ (Dharmagupta) truyền. Thuyết này được nhiều công tŕnh nghiên cứu của các học giả trên thế giới đồng thuận.
Trong ĐTK/ĐCTT, từ số 2 đến 25 (gồm 57 quyển) là những bản Hán dịch lẻ tẻ (đơn bản) các kinh thuộc Truờng A-hàm. Đây là những bản kinh thuộc nhiều bộ phái khác nhau, do đó nội dung chứa đựng ít nhiều dị biệt. Trường A-hàm mà chúng tôi sẽ giới thiệu là bản Hán dịch Trường A-hàm kinh 22 quyển, do Phật-đà-da-xá tuyên đọc thuộc ḷng bản Phạn, và Trúc Phật Niệm truyền dịch sang Hán văn, Việt dịch do Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, năm 1991, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a1, trọn bộ 2 tập. Bạn đọc có thể tham khảo thêm từ trang nhà phatviet.com bản Việt dịch của TT. Tuệ Sĩ.
22 quyển Trường A-hàm có 30 kinh, chia thành bốn phần. Phần một có 4 kinh, nói về sự tích của chư Phật và các vấn đề liên quan. Phần hai có 15 kinh, tŕnh bày các phương pháp, nguyên tắc tu tập và cương yếu giáo lư Phật thuyết. Phần ba có 10 kinh nói về các vấn nạn của ngoại đạo và những dị thuyết. Phần bốn có 01 kinh, chia thành 12 phẩm, nói về tướng trạng khởi nguyên của vũ trụ.
Kinh Trường A-hàm tương đương với kinh Trường bộ (Dīgha-nikāya) thuộc hệ thống kinh tạng Nam truyền. Kinh Trường bộ có 3 phẩm, tổng cộng 34 kinh, trong đó có 29 kinh tương đương với Trường A-hàm.

Trạo cử      Agitation    Agitation    掉舉    auddhatya
Chỉ cho trạng thái tâm luôn xao động không yên, làm trở ngại cho quá tŕnh thiền quán.
Luận nói: Trạo cử là ǵ? Đó là sự không tịch tĩnh của tâm do nhớ nghĩ những lạc thú đă từng chứng kiến… Tức là, khi nhớ lại những lạc thú đă từng trải qua trước kia th́ sinh tâm vui thích, rung động, cười đùa… làm cho tâm không được an tĩnh. Nó là một phần của tham. Nghiệp dụng của nó là làm chướng ngại thiền định.

Trạo hối cái              掉悔蓋    auddhatya-kaukṛtya-āvaraṇa
Một trong 5 triền cái (5 thứ phiền năo).
Trạo cử chỉ cho tâm dao động bất an; Hối là tâm hối hận lo buồn đối với việc đă làm. V́ 2 thứ phiền năo này làm cho tâm mất yên tĩnh, thường gây chướng ngại Thánh đạo, cho nên gọi là Cái (che lấp). Hợp chung 2 phiền năo Trạo cử và Truy hối làm một cái, v́ thường làm chướng ngại thiền định, cho nên gọi Trạo hối cái.

Trầm thủy               沈水    agaru, aguru, kālāguru, kṛṣṇāgaru
Tức trầm thủy hương, trầm hương. Loại cây này gỗ rất thơm, bỏ vào nước th́ ch́m, nên gọi là trầm thủy.

Trần sa              塵沙    
Gọi đủ là Trần sa hoặc. Là 1 trong 3 thứ phiền năo: Kiến tư hoặc, Vô minh hoặc và Trần sa hoặc, gọi chung là Tam hoặc.
Trần sa hoặc là một thứ phiền năo làm trở ngại trí tuệ nhận thấy sự việc thuộc chân lư thế tục, khiến cho Bồ tát giáo hoá chúng sinh cảm thấy không được tự tại. Nó có mặt trong và ngoài ba cơi, phải dùng phương pháp 'giả quán', một trong ba pháp quán, mới có thể phá trừ được nó. Phiền năo này nhiều vô số lượng, nhiều hơn số cát ở sông Hằng, cho nên gọi là Trần sa hoặc. Bởi v́ phiền năo này có khả năng làm trở ngại sự giáo hoá của Bồ tát, khiến không được tự do, tự tại nên c̣n có tên là Đạo chướng hoặc.

Triền              纏    paryava-sthana
Tên gọi khác của phiền năo, có nghĩa là trói buộc, ràng buộc.
V́ phiền năo có năng lực trói buộc và khiến cho thân tâm của con người không được tự tại, nên gọi là triền.

Triền cái              纏蓋     
Triền là trói buộc, ràng buộc, quấn chặt.
Cái là che đậy, che lấp, phủ mờ.
Triền cái là tên gọi chỉ cho các phiền năo có khả năng trói buộc và che mờ tâm tính. Thường th́ chỉ cho năm thứ phiền năo: tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử và nghi ngờ, gọi là ngũ triền cái.

Trung A hàm kinh      Les sutras moyens     Middle Length Āgama Sutras    中阿含經    Madhyamāgama
Kinh Trung A-hàm, tiếng Phạn là Madhyamāgama, có 60 quyển, 222 kinh, do Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva, người nước Kế Tân, Bắc Ấn) và Tăng-già-la-xoa (Saṃgharakṣa, người nước Tu Lại, Tây Bắc Ấn) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Đông Tấn, niên hiệu Long An thứ 2 (398 Tây lịch), hiện nằm trong ĐTK/ĐCTT, tập 1, số 26, trang 421-809. Các kinh từ số 27 đến 98 là các bản dịch lẻ tẻ (đơn bản) của các kinh thuộc Trung A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a2, Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, trọn bộ 4 tập. Chúng tôi dựa vào bản dịch của TT. Tuệ Sĩ để giới thiệu (Xem trên web phatviet.com).
Luận Phân Biệt Công Đức quyển 1, giải thích chữ trung có nghĩa là không lớn không nhỏ, không dài không ngắn, Trung A-hàm là tuyển tập những kinh không dài không ngắn. Đọc Trung A-hàm chúng ta thấy quả thật những kinh trong đây không dài như Trường A-hàm nhưng không ngắn chút nào!
Về sự truyền thừa và đối chiếu với kinh Trung bộ thuộc Nam tạng, xin xem luận án tiến sĩ của HT. Thích Minh Châu trong cuốn So sánh kinh Trung A-hàm chữ Hán và kinh Trung bộ chữ Pāli do Ni sư Trí Hải dịch. Ở đây, chúng tôi ghi nhận Trung A-hàm được truyền dịch từ Nhất thiết hữu bộ, bởi Tăng-già-la-xoa và Tăng-già-đề-bà đều là Đại luận sư của Hữu Bộ, mọi người đều biết. Đề-bà dịch Luận A-tỳ-đàm Bát Kiền-độ (Luận Phát Trí của Ca-chiên-diên) là sách trọng yếu nhất của Hữu Bộ, La-xoa dịch tiếp Luật Thập Tụng của ngài La-thập cũng là luật Hữu Bộ.
60 quyển Trung A-hàm chia thành 5 tụng, 18 phẩm. 5 tụng là Sơ tụng, Tiểu độ thành tụng, Niệm tụng, Phân biệt tụng và Hậu tụng. 18 phẩm gồm: 1, Phẩm bảy pháp, gồm 10 kinh; 2, Phẩm Nghiệp Tương Ưng, gồm 10 kinh; 3, Phẩm Xá-lê Tử Tương Ưng, 11 kinh; 4, Phẩm Vị Tằng Hữu Pháp, 10 kinh; 5 Phẩm Tập Tương Ưng, 16 kinh; 6, Phẩm Vương Tương Ưng, 14 kinh; 7, Phẩm Trường Thọ Vương, 15 kinh; 8, Phẩm Uế, 10 kinh; 9, Phẩm Nhân, 10 kinh; 10, Phẩm Lâm, 10 kinh; 11, Phẩm Đại, 25 kinh; 12, Phẩm Phạm Chí, 20 kinh; 13, Phẩm Căn Bản Phân Biệt, 10 kinh; 14, Phẩm Tâm, 10 kinh; 15, Phẩm Song, 10 kinh; 16, Phẩm Đại (Hậu tụng),10 kinh; 17; Phẩm Bổ-lợi-đa, 10 kinh; 18, Phẩm Lệ, 11 kinh.
Kinh này ghi lại nhiều bài pháp thoại của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, thỉnh thỏang cũng có những lời giáo giới của Đức Phật cho các đệ tử, các bậc vương giả, cư sĩ và ngoại đạo.

Tu đạo              修道    bhavanā-mārga
Tu đạo, Tiếng Phạm là bhavanā-mārga, c̣n gọi là Hữu học đạo. Là giai đoạn thứ hai trong ba giai đoạn tu tập (Tam đạo: Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo).
Sau khi đoạn trừ hoàn thành tất cả mọi phiền năo, mê lầm về mặt lư luận (tức Kiến hoặc, những kiến thức sai lầm), chứng vị Kiến đạo, hành giả sẽ tiến đến giai đoạn tu tập để đoạn trừ tất cả các phiền năo, mê hoặc nơi sự tướng (tức Tu hoặc, những phiền năo như tham, sân, si, mạn, nghi), gọi là Tu đạo.
Tuỳ theo tŕnh độ và năng lực tu hành của mỗi người mà phân ra nhiều giai đoạn Tu đạo khác nhau.
Theo Phật giáo Tiểu thừa, sau khi đạt được địa vị Kiến đạo, phát khởi được trí tuệ không c̣n phiền năo (Trí vô lậu), sơ chứng chân lư Tứ diệu đế, và ở trong chân lư này mà nỗ lực tu tập thêm lên, gọi là giai đoạn Tu đạo. Cuối cùng của quá tŕnh Tu đạo là đoạn trừ hết 81 phẩm phiền năo trong 3 cơi. Trong Tứ hướng Tứ quả (tức 4 giai đoạn hướng đến 4 quả Thánh và 4 quả Thánh), Tu đạo đương với Dự lưu quả, Nhất lai hướng (hướng đến, đi đến quả vị Tư đà hàm), Nhất lai quả, Bất hoàn hướng (hướng đến, đi đến quả vị A na hàm), Bất hoàn quả, A la hán hướng (hướng đến, đi đến của vị A la hán).
Theo Phật giáo Đại thừa, sau khi khi chứng Sơ địa trụ tâm cho đến quả vị Kim cang vô gián đạo của Thập địa là giai đoạn Tu đạo.

Tu đạt              須達    Sudatta
Tên của cư sĩ Cấp cô độc.
Ông là một trưởng giả sống ở thành Xá vệ, nước Kiều tát la, thuộc Trung Ấn độ xưa. Ông từng làm quan Chủ tạng sử cho vua Ba tư nặc. Tên của ông có ư nghĩa là người ưa giúp đỡ, ưa bố thí, chăm sóc người neo đơn. Vốn là một thương gia giàu có, bản tính lại nhân từ, Tu đạt thường giúp đỡ những người nghèo khổ, đơn độc, cung cấp cho họ những thứ cần dùng, cho nên được dân chúng đặt cho một biệt danh là Cấp cô độc trưởng giả. Ông có 7 con trai và 2 con gái. Nhân hôn sự của đứa con trai thứ 7, Tu đạt đă đến ở lại thành Vương xá. Tại đây, ông được bạn bè dẫn đến tịnh xá Trúc lâm để bái yết đức Phật. Trong khi nghe Phật thuyết pháp, trong ḷng Tu đạt cảm giác đạt được sự không sợ hăi, từ đó phát sinh ḷng tin sâu xa, phát nguyện quy y theo Phật, thọ tŕ 5 giới, trở thành đệ tử tại gia của Phật. Sau đó, v́ muốn thỉnh cầu Phật đến giáo hoá cho dân chúng thành Xá vệ, ông đă thỉnh cầu đức Phật cho phép tôn giả Xá lợi phất cùng về quê để giúp ông kiến tạo tinh xá. Bấy giờ, Tu đạt t́m kiến khắp nước chỉ thấy khu vườn ngự uyển ở phía nam thành phố do thái tử Kỳ đà làm chủ là có đủ điều kiện để làm tinh xá, ông bèn t́m cách hỏi mua và đă mua được với giá trải vàng khắp cả khu vườn. Tịnh xá được xây dựng bao gồm hai lớp, nội viện gồm có 16 toà đại viện; ngoại viện gồm 60 pḥng tăng bao quanh đại viện, và đặt tên là Kỳ thọ Cấp cô độc viên. Đây là tu viện mà đức Phật đă an cư nhiều mùa hạ nhất.
Ngoài ra, Tu đạt c̣n khuyến khích cho cả gia tộc quy y theo Phật, cho nên trong gia đ́nh này pháp âm không bao giờ gián đoạn. Sau, ông mang trọng bệnh, tôn giả An nan, Xá lợi phất đến thăm bệnh và thuyết pháp cho ông nghe, ngay đó ông mạng chung, sinh lên cơi trời Đâu suất.
Để biết thêm cuộc đời ông cư sĩ này, xin mời đọc thêm Kinh Hiền ngu, Kinh Trung a hàm quyển 6, quyển 39, Kinh Tăng nhất hàm quyển 49, Kinh Tạp a hàm quyển 37...

Tu đà hoàn              須陀洹    srota-āpanna, sotāpanna
Quả vị đầu tiên trong bốn quả vị Thánh, c̣n gọi là Sơ quả, Dự lưu quả, Nhập lưu quả, Thất lai quả.

Dự lưu hay Nhập lưu là dự phần vào ḍng dơi bậc Thánh hay gia nhập ḍng dơi của bậc Thánh.

Thất lai quả là vị Thánh đạt tới quả vị nầy, tâm thức c̣n có khả năng biểu hiện chất liệu sinh tử bảy lần ở trong Dục giới.

Quả vị này đạt được do thành tựu năm căn, đoạn trừ hoàn toàn ba hạ phần kiết sử.

Kinh Tạp A-hàm ghi: “Có năm căn. Những ǵ gọi là năm? Căn tín, căn tinh tấn, căn niệm, căn định, căn tuệ. Tỳ-kheo khéo quán sát như thật đối với năm căn này, người ấy đối với ba kết mà đoạn biến tri (đoạn trừ với nhận thức toàn diện) đó là thân kiến, giới thủ kiến và nghi. Đó gọi là Tu-đà-hoàn, không c̣n rơi vào pháp đường dữ, nhất định sẽ hướng thẳng đến Chánh giác, c̣n bảy lần qua lại trời, người, cuối cùng sẽ cứu cánh biên tế của khổ.”

Tu hoặc              修惑    bhāvanā-mārga-prahātavya-kleśa

Gọi đủ là Tu đạo sở đoạn hoặc. C̣n gọi là Tư hoặc. Chỉ cho những phiền năo như tham, sân... v́ mê lầm nơi sự mà người tu khi đạt đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ được.
Theo Luận Câu-xá, 4 thứ phiền năo tham, sân, si, mạn và vô minh, khi tiếp xúc với các cảnh, sắc, thanh, hương, vị, xúc th́ khởi lên tham đắm, ghét bỏ, kiêu căng và mê muội, gọi là Tu hoặc. Bởi v́ Tu hoặc khởi lên khắp trong 3 cơi 9 địa, do đó rất khó đoạn trừ, cho nên mỗi địa đều chia nhỏ làm 9 phẩm: Thượng thượng, thượng trung, thượng hạ, trung thượng, trung trung, trung hạ, hạ thượng, hạ trung, hạ hạ, tất cả có 81 thứ, gọi là Bát thập nhất phẩm Tu hoặc mà Nhị quả Tư đà hàm, Tam quả A na hàm, Tứ quả A la hán phải lần lượt đoạn trừ.

Tu sở đoạn hoặc              修所斷惑    bhavanamārga-prahātavya-anuśaya
Sự ô nhiễm được diệt trừ do sự tu tập phát triển.
Sau khi đoạn trừ phiền năo nhờ thấy chân lư (Kiến sở đoạn) tiếp tục tu tập, lần lượt diệt trừ các phiền năo do mê sự, được gọi là Tu sở đoạn hoặc (bhāvana-prahātavya-kleśa), và lần lượt chứng các quả Thánh, cho đến diệt trừ hoàn toàn các phiền năo th́ chứng quả A-la-hán (Arhattva-phala). Đại thừa Duy thức, Thành duy thức 9 (Đại 31, tr. 50a 5ff), ghi: «Qua quá tŕnh nỗ lực không ngừng, khi trí vô phân biệt (nirvikalprajñā) phát sinh, nhận thức được chân như (bhūtatathatā), lúc ấy Bồ Tát bước vào giai đoạn thông đạt (prativedhavastha). Do mới bắt đầu soi sáng lư tánh, nên gọi là kiến đạo. Đối tượng quán sát ở đây cũng là bốn Thánh đế, nhưng được quán sát theo nghĩa chân không (śūnyatā) cho nên lư thể của Thánh đế là chân như… Lúc đó Bồ Tát bắt đầu chứng nhập Sơ địa (Pramuditā). Sau đó là giai đoạn tu đạo, trải qua cho hết mười địa.»

Tuệ      Sagesse, Sapience    Wisdom    慧    Prajñā, jñāna
Cũng đọc là Huệ. Âm Hán đọc là Bát nhă.
1. Trí sáng. Lanh lẹ, sinh ra đă có tính sáng láng hơn người gọi là tuệ căn 慧根, có trí sáng láng chứng minh được pháp gọi là tuệ lực 慧力, lấy trí tuệ làm tính mạng gọi là tuệ mệnh 慧命, lấy trí tuệ mà trừ sạch được duyên trần gọi là tuệ kiếm 慧劍, có con mắt soi tỏ cả quá khứ, hiện tại, vị lai gọi là tuệ nhăn 慧眼.
2. Chỉ riêng cho Trí bát nhă: Một thứ trí tuệ thấy rơ thực tướng của các pháp (thấy rơ 5 uẩn là không), tỏ ngộ được tự tính, thấy được tự tâm, đạt đến giác ngộ giải thoát, vượt qua tất cả mọi khổ đau ách nạn.

Tuỳ miên          disposition    隨眠    Anuśaya
Âm thầm đi theo.
Tên khác của phiền năo.
Theo Duy thức tông, Tuỳ miên là tên của hai loại chủng tử phiền năo chướng và sở tri chướng.
Tuỳ có nghĩa là đi theo chúng sanh hữu t́nh, không tách rời chúng sanh hữu t́nh; miên là phiền năo tiềm phục, nằm sâu kín bên trong, vi tế, khó nhận biết, như trạng thái của người đang ngủ. Tuỳ miên là những phiền năo nằm sâu kín bên trong tâm và đi theo chúng sanh hữu t́nh từ đời này qua đời khác.
Phiền năo theo đuổi con người ta làm cho rơi vào trạng thái mờ mịt, nặng nề; trạng thái hoạt động của các phiền năo âm thầm, nhỏ nhiệm khó biết được, cùng với đối cảnh và tâm, tâm sở tương ứng ảnh hưởng lẫn nhau mà thêm lớn mạnh (tuỳ tăng), v́ nó trói buộc (tuỳ phược) con người nên gọi là Tuỳ miên. Có 6 thứ: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, gọi là Lục tuỳ miên (6 phiền năo căn bản). Trong đó, Tham được chia ra Dục tham và Hữu tham thành ra 7 Tuỳ miên. Ác kiến được chia ra Thân kiến, Biên kiến, Tà kiền, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến thành 10 Tuỳ miên. Ngoài ra, những phiền năo này lại thêm những phần nhỏ nhiệm khó thấy, th́ thành 98 thứ Tuỳ miên.

Tuỳ phiền năo              隨煩惱    upakleśā
Những phiền năo phát sinh từ phiền năo căn bản, phụ thuộc phiền năo căn bản. C̣n gọi là Tuỳ hoặc, Chi mạt hoặc.
Căn cứ Luận Câu xá, quyển 21, Tuỳ phiền năo có hai nghĩa:
1. Chỉ cho tất cả các phiền năo theo tâm sinh khởi mà rối loạn, năo loạn chúng sinh hữu t́nh.
2. Chỉ cho các phiền năo khác nương theo phiền năo căn bản mà sinh khởi.
Trong luận này nêu ra 19 thứ Tuỳ phiền năo và chia làm 3 phần:
1. Đại phiền năo địa pháp: Chỉ cho phóng dật (buông thả), giải đăi (lười biếng), bất tín (không tin nhân quả), hôn trầm (mờ tối, nặng nề), và trạo cử (cử chỉ thô động, không yên).
2. Đại bất thiện địa pháp: Chỉ cho vô tàm (không biết thẹn), vô quư (không biết xấu hổ).
3. Tiểu phiền năo địa pháp: Chỉ cho phẫn (giận), phú (che dấu), khan (bỏn sẻn), tật (ganh ghét), năo (buồn bực), hại, hận, siểm (nịnh hót), cuống (nói láo), kiêu (kiêu sa, kiêu căng), thuỵ miên (buồn ngũ) và ác tác (tâm hối hận sau khi làm điều ác).
Cứ theo Luận Thành duy thức, Tuỳ phiền năo có 20 loại, được chia làm 3 loại:
1. Tiểu tuỳ phiền năo: Gồm phẫn, hận, phú, năo, tật, khan, cuống, siểm, hại và kiêu.
2. Trung tuỳ phiền năo: Gồm vô tàm, vô quư.
3. Đại tuỳ phiền năo: Gồm trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đăi, phóng dật, thất niệm, tán loạn và bất chính tri.

Uất kim hương hoa               欝金香華     Kuṅkumaṃ
Hương của hoa Uất kim. Một loài hoa có rễ h́nh cầu, dùng để nấu thuốc nhuộm, hoa để làm hương, mọc ở vùng Kashmir, Bắc Ấn Độ.

Vạn hạnh thiền sư      Maître Zen Van Hanh        萬行禪師    
Là tên một vị Thiền sư lớn của Việt Nam. Thiền sư họ Nguyễn, người châu Cổ Pháp, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức (nay là làng Đ́nh Bảng, Thuận Thành, Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đ́nh đời đời tín Phật. Thuở nhỏ, ngài đă có tư chất khác thường, tinh thông Tam học, nghiên cứu trăm luận, xem thường công danh. Năm 21 tuổi, xuất gia với Thiền Ông ở chùa Lục Tổ. Sau khi thầy qua đời, Thiền sư dốc chí luyện tập môn Tổng tŕ Tam-muội, từ đó lời nào ngài nói ra cũng đều rất ứng nghiệm.

Hoàng đế Lê Đại Hành (980-1005) rất mực kính mộ Thiền sư, vua nhiều lần thỉnh ngài vào triều để bàn bạc quốc sự, tham vấn kế sách đối phó với giặc Tống ở phương Bắc cũng như giặc Chiêm Thành ở phía Nam. Thiền sư Vạn Hạnh chính là người đă dày công giáo dưỡng Lư Thái Tổ (1010-1028) ở trong chùa từ nhỏ, lúc vua c̣n là chú tiểu Lư Công Uẩn, theo nghĩa phụ Lư Khánh Văn đến chùa Tiêu Sơn học đạo.
Khi thấy Lê Long Đĩnh (1005-1009) bạo ngược, trăm họ sống trong cảnh lầm than, bấy giờ Lư Công Uẩn đang giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ nhà Lê, Thiền sư đă vận động quần thần trong triều suy tôn Lư Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập ra nhà Lư. Và về sau, cũng chính Thiền sư đă tham mưu cho Lư Thái Tổ trong việc dời đô, từ kinh đô Hoa Lư về Thăng Long, để tính kế phồn thịnh muôn đời cho dân tộc.
Ngày rằm tháng Năm năm Thuận Thiên thứ 16 (1025), khi công hạnh đă viên măn, Thiền sư gọi đồ chúng lại dặn ḍ: “Các con muốn đi đâu? Thầy không nương vào chỗ trụ để trụ, cũng không lấy chỗ vô trụ để trụ”. Rồi Thiền sư nói bài kệ:

身如電影有還無
萬物春榮秋又枯
任運盛衰無怖畏
盛衰如露草頭鋪

"Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”.

Dịch:
"Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi thu héo hon
Tùy vận thịnh suy không hăi sợ
Thịnh suy đầu cỏ có phơi sương".

Nói xong bài kệ, Thiền sư an nhiên thị tịch. Vua và sĩ thứ làm lễ trà tỳ, lượm cốt dựng tháp để thờ. Lư Nhân Tông thường có bài kệ truy tặng rằng:

"Vạn Hạnh dung ba cơi
Thật hiệp lời sấm xưa
Quê hương tên Cổ pháp
Chống gậy trấn kinh đô".

Vị định               味定    āsvādana-samādhi, āsvādana-samāpatti
Sự thưởng thức các vị ngọt của các Định, c̣n gọi là Vị đẳng chí. Vị đẳng chí, là khi Định có vị ngọt. Nghĩa là, hành giả đam mê trạng thái hỷ lạc của Định mà ḿnh chứng đắc, bị ngưng trệ trong đó, không tiến lên được.

Vọng tưởng      Illusion    forget thoughts, mistaken thought or conceptualization    妄想    vikalpa
Cũng gọi: Phân biệt, Vọng tưởng phân biệt, Hư vọng phân biệt, Vọng tưởng điên đảo.
Đồng nghĩa: Vọng niệm, Vọng chấp.
Tức phân biệt tướng các pháp với tâm hư vọng điên đảo, cũng có nghĩa là do tâm chấp trước nên không thấy biết được sự vật một cách như thật.

Kinh Lăng già quyển 2 nêu ra 12 thứ vọng tưởng như sau:
1. Ngôn thuyết vọng tưởng: Phân biệt các thứ âm thanh hát xướng, ngâm vịnh, chấp giữ và đắm say chúng, cho rằng chúng có tự tính.
2. Sở thuyết sự vọng tưởng: Những việc mà phàm phu nói ra, xét đến cùng chỗ tự tính của chúng th́ chỉ bậc Thánh mới biết chứ phàm phu không rơ; phàm phi chỉ nương vào các việc ấy mà phát sinh ra lời nói thôi.
3. Tướng vọng tưởng: Tuỳ việc mà khỏi lên cái thấy, đối với tất cả pháp tướng, tính toán, chấp trước một cách hư dối.
4. Lợi vọng tưởng: Đắm trước các thứ tài lợi ở thế gian, v́ không biết rằng những tài lợi ấy là hư dối, nên khởi tâm tham đắm.
5. Tự tính vọng tưởng: Chấp trước các pháp, khởi lên cái thấy có tự tính, rồi cho tự tính ấy là đúng, không phải tự tính ấy là sai.
6. Nhân vọng tưởng: Đối với các pháp do nhân duyên sinh, khởi lên kiến chấp có, không... vọng tưởng phân biệt mà h́nh thành cái nhân của sự sinh tử.
7. Kiến vọng tưởng: Đối với pháp 5 uẩn, sinh khởi các tà kiến chấp trước, phân biệt, có - không, một - khác...
8. Thành vọng tưởng: Đối với giả danh thực pháp, so đó cháp trước Ngă và Ngă sở mà khởi lên ngôn thuyết, thành Quyết định luận.
9. Sinh vọng tưởng: Vọng chấp tất cả pháp, hoặc có hoặc không, đều từ duyên khởi mà sinh phân biệt.
10. Bất sinh vọng tưởng: Vọng chấp tất cả pháp đều có sẵn tự thể, không nhờ nhân duyên mới sinh.
11. Tương tục vọng tưởng: Đối với tất cả các pháp, chấp trước chúng hệ thuộc lẫn nhau, nối tiếp lẫn nhau, không có gián đoạn.
12. Phược bất phược vọng tưởng: Đối với tất cả pháp, v́ t́nh sinh dính mắc, th́ thành trói buộc, nếu ĺa vọng tưởng th́ sẽ không bị trói buộc, phàm phu không rơ, cho nên ở trong chỗ không trói buộc, không cởi mà sinh chấp trước.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27