Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7 

Tăng nhất A hàm kinh      Les sutras des doctrines numériques     Increased by One Āgama Sutras    增一阿含經    Ekottarikāgama
Kinh Tăng nhất A-hàm, tiếng Phạn là Ekottarikāgama, gồm 51 quyển, do Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva) dịch vào đời Đông Tấn (có lẽ trong khoảng thời gian 391-397 Tây lịch), hiện nằm trong ĐTK/ĐCTT, tập 2, số 125, trang 549-830. Các kinh từ số 126 đến 151 là các bản dịch lẻ tẻ thuộc Tăng nhất A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a4, HT. Thích Thanh Từ dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, trọn bộ 3 tập.
Về tên gọi của bổn kinh, theo Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa quyển 1, Ngũ Phần Luật quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54… th́ do kinh này tập hợp các bài pháp thoại có nói đến pháp số, tuần tự sắp xếp từ 1 pháp đến 11 pháp, theo thứ tự tăng dần như vậy nên gọi là Tăng nhất. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa, quyển 1, c̣n cho rằng kinh này Đức Phật v́ chư thiên, người đời… tuỳ thời mà thuyết pháp. Thuyết này không được chính xác lắm!
Toàn kinh được phân thành 52 phẩm, tổng cộng 472 kinh. Mở đầu là phẩm Tự, tŕnh bày sơ lược diễn biến đại hội kết tập, A-nan tụng kinh, và nhân duyên A-nan truyền pháp cho Ưu-đa-la. Tiếp là các phẩm sắp xếp kinh thứ tự theo số pháp, từ 1 đến 11 pháp. 1 pháp có 13 phẩm, 2 pháp có 6 phẩm, 3 pháp có 4 phẩm, 4 pháp có 7 phẩm, 5 pháp có 5 phẩm, 6 pháp có 2 phẩm, 7 pháp có 3 phẩm, 8 pháp có 2 phẩm, 9 pháp có 2 phẩm, 10 pháp có 3 phẩm, 11 pháp có 4 phẩm. Trong đó, cứ sau mỗi kinh hay sau mỗi phẩm đều có bài tụng tóm tắt đại ư của mỗi kinh hay mỗi phẩm. Các bản Tăng nhất A-hàm của Tống, Nguyên, Minh đều ghi nhận có 52 phẩm, 50 quyển. C̣n trong Đại tạng của Cao Ly th́ kinh này có 50 phẩm, 51 quyển.
Về pháp số của kinh này, có hai thuyết. Thuyết thứ nhất cho rằng kinh này vốn có đến 100 pháp, sau v́ quên mất nên chỉ c̣n lại 10 pháp (theo Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 32, A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận quyển 10, Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự quyển 39...). Thuyết thứ hai căn cứ vào Ngũ Phần Luật quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54, Tuyển Tập Tam Tạng và Tạp Tạng Truyện, Phân Biệt Công Dức Luận quyển 2,... cho rằng kinh này thứ tự sắp xếp từ một đến 11 pháp, tổng cộng có 11 pháp. Thuyết này phù hợp với kinh Tăng nhất A-hàm hiện c̣n.
Trong năm bộ Nikāya, th́ kinh này tương đương với Tăng chi bộ (Aṅguttara- nikāya). Tăng chi bộ có 11 tụ, 171 phẩm, 2203 kinh, (nhưng con số này cũng chưa thống nhất), trong đó có 136 kinh tương đương hoặc có thể đối chiếu so với Tăng nhất A-hàm (theo The four Buddhist Àgamas in Chinese). Nhưng trong Phật quang đại tạng kinh, phần đề giải kinh Tăng nhất A-hàm cho biết có 153 kinh của Tăng nhất A-hàm tương đương hoặc gần tương đương với Tăng chi bộ.
Về sự truyền thừa, theo Luận phân biệt công đức, kinh này được truyền từ Nhất thiết hữu bộ. Dịch giả của kinh này xuất thân trong địa bàn truyền giáo của Nhất thiết hữu bộ, cho nên thuyết này cũng rất có lư. Nhưng kinh này lại mang đậm sắc thái Đại thừa, nên ngài Từ Ân cho rằng kinh này được truyền từ Đại chúng bộ. Theo học giả Lương Khải Siêu, kinh này do Nhất thiết hữu bộ truyền, sau đó được bổ sung bởi các bản của Đại chúng bộ.


Tư đà hàm      Un retour        斯陀含    sakṛd-āgāmin
Quả vị thứ hai trong bốn quả Thánh, có nghĩa là 'một lần tái sinh'. Người tu tập đạt được quả vị này th́ chỉ c̣n một lần sinh tử nữa là chấm dứt ṿng luân hồi, cho nên quả này c̣n có tên là Nhất lai quả.
Người nào đang trên giai đoạn gần chứng quả này th́ gọi là Tư-đà-hàm hướng; c̣n người nào chứng được rồi th́ gọi là Tư-đà-hàm quả.
Người đă chứng được quả Dự lưu (Sơ quả, tức Tu-đà-hoàn) tiến thêm một bước nữa, đoạn trừ thêm từ một cho đến năm phần Tu hoặc ở Dục giới th́ gọi là Tư-đàm-hàm hướng (hướng tới quả Tư-đàm-hàm), hoặc là Nhất lai quả hướng (hướng đến quả Nhất lai); nếu đoạn trừ thêm sáu phần Tu hoặc ở Dục giới th́ chỉ c̣n một lần tái sinh ở cơi trời hoặc người nữa thôi là đoạn hết phiền năo, chứng nhập niết-bàn, từ đó về sau không c̣n tái sinh nữa, gọi là Tư-đàm-hàm quả, hay Nhất lai quả.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: "Thế nào gọi Sa-môn kia như hoa phân-đà-lợi? Ở đây có một hạng người ba kết đă diệt; dâm, nộ, si mỏng, thành Tư-đà-hàm, trở lại đời này, dứt hết bờ khổ. Nếu người hơi chậm, trở lại đời này lần nữa, rồi dứt hết bờ khổ. Nếu dơng mănh, th́ ngay trong đời này dứt hết bờ khổ. Giống như hoa phân-đà-lợi sớm nở, chiều úa tàn. Đó gọi là Sa-môn như hoa phân-đà-lợi".

Tư trạch lực              思擇力    
Nhờ tư duy đúng đắn (chánh tư duy) mà có sức mạnh giản trạch, từ bỏ mọi việc ác, làm mọi việc lành, gọi là Tư trạch lực (khả năng chọn lựa dứt khoát, mạnh bạo nhờ có tư duy đúng đắn).
Kinh ghi: Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo: Các Thầy nên biết rằng, chư vị Đa văn Thánh đệ tử phải nên tư duy như sau: Tất cả mọi việc làm xấu ác từ nơi thân, hiện tại, tương lai sẽ đưa đến quả báo dị thục; nếu như thân ta làm mọi việc ác th́ hiện tại ta tự huỷ đi danh dự của ḿnh, cũng bị những người khác, chư thiên, quỷ thần và chư Phật quở trách, cũng bị các vị có trí, đồng phạm hạnh dùng pháp hiền trách ta, như vậy tiếng xấu sẽ truyền khắp thiên hạ, thân hoại mạng chung chắc chắn đoạ vào đường ác, sanh vào địa ngục. Do suy nghĩ, tư duy chân chính như vậy nên biết được mọi việc làm xấu ác từ nơi thân, hiện tại, tương lai chắc chắn sẽ thọ quả báo dị thục, do đó nỗ lực siêng năng đoạn trừ mọi việc ác từ nơi thân và cũng siêng năng nỗ lực đem thân làm mọi việc lành. Đối với khẩu hành và ư hành cũng như thế, phải nên siêng tu thân, khẩu, ư diệu hành. Nếu suy nghĩ được như vậy th́ là có nhân tư trạch, nhờ tư trạch, trụ tư trạch mà đoạn trừ được pháp ác bất thiện, tu các pháp thiện, gọi là Tư trạch hay Lực, hay Tư trạch lực.

Tương tức              相即    
Gọi đầy đủ là Tương tức tương nhập. Chỉ cho tính tương quan tương duyên của vạn vật. Không có hiện tượng nào (người hay vật) có thể tự ḿnh sinh khởi và tồn tại độc lập. Cái này phải nương vào cái kia mà sinh khởi và tồn tại; cái này ở trong cái kia, các pháp dung nhiếp nhau, một là tất cả, tất cả là một gọi là tương tức tương nhập.

Tương tức tương nhập              相即相入    
Tương tức và tương nhập.
Tương tức: cái này tức là cái kia, chính là cái kia, không chính là sắc, sắc chính là không.
Tương nhập: cái này có trong cái kia, cái kia có trong cái này, dung chứa lẫn nhau.
Tất cả các hiện tượng, một trái núi, một đám mây, một hạt bụi đều có tính chất tương tức tương nhập. Cái này bao trùm cái kia. Cái kia nằm trong cái này. Phật đă nói một cách rất đơn giản mà uyên thâm: "Cái này có v́ cái kia có" (Trung A Hàm).

Tương tức là kết luận đương nhiên của vô ngă quán. Khi tương tức trở thành một tuệ giác, không chỉ thuần là một ư niệm, th́ khổ đau được chuyển hóa. Khi chứng nhập tương tức th́ vượt thoát sinh tử. Tương tức và tương nhập là hai ư niệm của Hoa Nghiêm. Tương tức nghĩa là cái này là cái kia (inter-are), tương nhập nghĩa là cái này đi vào cái kia (inter-penetration). Trong nhận thức tương tức, tương nhập th́ đám mây nằm trong bông hoa và bông hoa nằm trong đám mây. Điều này có thể quán chiếu. Màng lưới Đế Thích (Indra nest) gồm những hạt châu lóng lánh nối kết với nhau, là h́nh ảnh tuyệt diệu của tính tương tức, tương nhập.


Tướng phần                  
Tướng phần : Tướng là tướng trạng, là tướng trạng của cảnh giới (cũng chính là tướng trạng của sự vật ngoại giới ánh hiện lên trong nhận thức chủ quan). Chẳng hạn, nhăn thức duyên lấy sắc cảnh mà phân biệt nhận biết tướng trạng của sắc là hiển sắc hay h́nh sắc…, nhĩ thức duyên lấy âm thanh mà phân biệt nhận biết âm thanh ưa thích hay không ưa thích…, tỷ thức duyên lấy mùi hương mà phân biệt nhận biết mùi hương thơm hay thúi…, thiệt thức duyên lấy mùi vị mà phân biệt nhận biết vị ngọt hay chua…, thân thức duyên lấy sự xúc chạm mà phân biệt nhận biết cứng hay mềm…, thức thứ sáu duyên lấy các pháp, từ đó mà có sắc, tâm…, thức thứ bảy duyên lấy kiến phần của thức tám mà phân biệt tướng trạng ngă, pháp, thức thứ tám duyên lấy chủng tử, năm căn, khí giới, cũng như các tướng trạng mà nó đă cất giữ.
Tướng phần (nimitta-bhāga) là tín hiệu của nhận thức.
Tướng được nắm bắt (grāhya: sở thủ) là tướng phần.

Tạp A hàm kinh      Les sutras sur des sujets liés     Saṃyuktāgama    雜阿含經    Saṃyuktāgama
Tạp A-hàm, tiếng Phạn là Saṃyuktāgama, gồm 50 quyển, do Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra, người Trung Ấn độ, 394~468 Tây lịch) dịch sang tiếng Hán vào đời Lưu Tống (435 Tây lịch), hiện được xếp vào ĐTK/ĐCTT, tập 2, kinh số 99, trang 1-303. Từ số 100-124 là các bản biệt dịch Tạp A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a3, HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, trọn bộ 4 tập.
Theo Ngũ Phần Luật, quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54... cho rằng kinh này do Đức Phật nói cho nhiều đối tượng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên tử, Thiên nữ về các pháp Tứ thánh đế, Bát chính đạo, Thập nhị nhân duyên... biên tập thành một bộ, nên gọi là Tạp A-hàm. Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 32, nói rằng kinh này văn cú phức tạp, cho nên gọi là Tạp A-hàm. Ngoài ra, Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa quyển 1, nói kinh Tạp A-hàm xiển dương các loại thiền định, là pháp môn mà người tọa thiền phải học tập. Du Già Sư Dịa Luận quyển 85, th́ nói do tất cả mọi sự đều tương ưng với giáo, tập hợp tất cả nghĩa lư đó lại thành một bộ, gọi là Tạp A-hàm.
Căn cứ vào Đại chính tạng, kinh này có 50 quyển, 1362 kinh, nội dung tương đương với Tương ưng bộ (Saṃyutta-nikāya, gồm 5 tụ, 56 thiên, 203 phẩm, 2858 kinh) bản Pāli của Nam truyền Phật giáo. Đây là bộ kinh lớn nhất và cũng được h́nh thành sớm nhất trong bốn bộ A-hàm. Nếu phân loại theo tính chất, toàn kinh có thể chia thành ba bộ phận lớn.
1. Tu-đa-la (sūtra), nội dung gồm các kinh tŕnh bày về Uẩn, Xứ, Duyên khởi, Thực, Đế, Giới, Niệm, Trụ...
2. Kỳ-dạ (geya), là những kinh có lời vấn đáp được tŕnh bày bằng thể loại kệ tụng.
3. Kư thuyết (vyākaraṇa), những lời của Đức Phật và các đệ tử của Ngài thuyết.
Ba bộ phận trên đây tương đương với Sở thuyết, Sở vi thuyết, Năng thuyết được nói đến trong Du Già Sư Dịa Luận quyển 85.
Kinh Tạp A-hàm c̣n bảo tồn phong cách của Phật giáo nguyên thủy, tuy vẫn có những phần do đời sau thêm vào, nhưng hầu hết đều được thành lập vào thời kỳ rất sớm. Văn phong của kinh này rất đơn giản, câu cú rơ ràng, chứa đựng nhiều pháp môn tu hành rất thực tiễn. Chẳng hạn như các phẩm nói về Niệm trụ, Uẩn, Giới... Từ những đoạn đối đáp giữa Đức Phật và các đệ tử hiển hiện ra Tứ song, Bát bội, y vào Bát chúng mà nói "Chúng tương ưng", khiến cho hàng tại gia, xuất gia, nam nữ, lăo ấu, các đại đệ tử đều có thể lănh thọ được sự lợi ích của giáo pháp.
Có rất nhiều học giả cận đại nghiên cứu về bốn bộ A-hàm. Đầu tiên là các học giả Phương tây, sau đó là các học giả Nhật bản tiến bộ thêm một bước trong phương pháp luận cứu. Thành quả đạt được tuy rất to lớn, nhưng chủ yếu là văn bản Pāli, v́ họ cho rằng đó mới là ngôn ngữ thánh điển nguyên thủy. Các bộ Hán dịch A-hàm pho quyển quá nhiều, thiên chương trùng phức, từ ngữ mâu thuẫn, văn dịch vụng về, nên không được phổ cập. Sau khi các nhà nghiên cứu Phật học Trung quốc thời cận đại nhận thức được giá trị của kinh điển A-hàm mới bắt đầu có xu hướng khảo cứu tư tưởng A-hàm. Chẳng hạn như Tạp A-hàm, bản hiện nay do nội dung chưa hoàn chỉnh, thứ tự lộn lạo, thất lạc, kinh văn khó hiểu, cho nên các học giả cận đại mới chỉnh lư lại kinh này. Trước mắt, có 2 bản mới là kinh Tạp A-hàm do Phật Quang Sơn xuất bản và Tạp A-hàm kinh luận hội biên của Ấn Thuận. Bản Tạp A-hàm của Phật Quang Sơn sử dụng h́nh thức chấm câu mới và phân đoạn rơ ràng, chú trọng đối chiếu với các bản Pāli, Hán dịch cùng với các bản dị dịch khác, phân định lại thứ tự số quyển, ở mỗi kinh nhỏ đều có giải thích ư kinh, những chỗ kinh văn khó hiểu th́ cẩn thận chua thêm văn Pāli để đối chiếu hoặc dịch ra Trung văn (Bạch thoại). Ngoài ra, điểm đặc sắc của bản này c̣n được nh́n thấy qua cách hiệu đính nghiêm túc, chú giải rơ ràng, dẫn chứng đầy đủ. Tạp A-hàm kinh luận hội biên của ngài Ấn Thuận th́ lấy kinh Tạp A-hàm đối chiếu với Luận Du Già Sư Địa, đồng thời dùng phương pháp cổ lệ của Ấn độ để phân loại nội dung, mà không dùng cách phân quyển như các bản kinh Hán dịch truyền thống. Ấn Thuận hội biên Tạp A-hàm thành 7 phần 51 mục tương ưng.

Tất Đạt Đa (thái tử)      Gautama Siddharta (prince)        悉達多    Siddhārtha
Tên của Đức Phật khi c̣n là Thái tử con vua Tịnh Phạn.
Khi Đức Phật đản sinh làm trưởng tử của vua Tịnh phạn thành Ca Tỳ La Vệ, tiên A Tư Đà xem tướng biết vị Vương tử này nhờ các thiện căn công đức ở đời trước nên có đầy đủ tướng tốt thù thắng, có năng lực thành tựu tất cả việc lành. Nếu Vương tử ở nhà th́ chắc chắn sẽ làm Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia th́ sẽ thành Vô thượng chánh giác. V́ thế, để biểu thị ư nghĩa nói trên, nên Thái tử được đặt tên là Tất đạt đa: Thành tựu tất cả mọi điều tốt đẹp.

Tất đàn              悉檀    Siddhānta
Tất đàn có nghĩa là thành tựu. Luận Đại trí độ tŕnh bày Bốn loại tất đàn, tức bốn pháp đưa đến sự thành tựu cho chúng sinh trong giáo lư của Phật.
Xem mục: Tứ tất đàn.

Tầm tứ      signifie pensée conceptuelle    discursive thought and investigation    尋伺    vitarka-vicāra
Tầm tứ là từ dịch nghĩa của từ tiếng Phạm vitarka-vicāra, xưa dịch là ‘giác quán’, là tên gọi chung của hai tâm sở Tầm và Tứ. Tầm là tác dụng của tư duy, truy t́m để hiểu được danh nghĩa (tên gọi và ư nghĩa của tên gọi đó) của các pháp ở dạng thức đơn giản. Tứ (hay đọc là Từ) là tác dụng của tư duy ở dạng thức tinh tế hơn, đào sâu vào vấn đề để hiểu rơ hơn về danh nghĩa của các pháp, nó không có mặt trong tất cả các tâm, cũng không khởi lên trong mọi lúc, tính của nó rất chậm chạp, nhưng đi sâu vào bản thân của đối tượng để hiểu đối tượng, và nó cùng có mặt một lúc với ‘tầm’ để phát huy tác dụng của ngôn ngữ.
Luận Câu xá xếp Tầm và Tứ vào mục Bất định địa pháp, là hai tâm sở trong 75 pháp. Duy thức th́ xếp nó vào trong 4 pháp bất định, là hai trong 100 pháp.

Tập khí              習氣    vāsanā
Điều có được do thói quen. Tính nết đă quen.

C̣n gọi là Phiền năo tập, Dư tập, Tàn khí.

Gọi tắt là Tập.

Tàn dư của phiền năo c̣n tiềm phục.

Đại trí độ luận, quyển 27, ghi: ‘Phiền năo tập c̣n gọi là Phiền năo tàn khí. Thân nghiệp và khẩu nghiệp không phát sinh theo trí tuệ mà phát sinh theo phiền năo. Nếu một người không có khả năng biết được tâm người khác, chỉ thấy người đó khởi phiền năo, th́ sẽ sinh tâm bất tịnh. Nhưng thật ra, đó là thứ phiền năo không có thật, mà chỉ là phiền năo do thói quen lâu ngày, cho nên thấy nó khởi như là nghiệp. Giống như một người bị trói chân lâu ngày, khi đă được cởi trói rồi, bước chân đi vẫn c̣n khập khiễng y như c̣n bị trói. Lại giống như đem chiếc áo ngâm trong bồn sữa, lâu ngày th́ sữa thấm cả áo, đến khi đem áo giặt sạch, dù áo không c̣n dính sữa, nhưng mùi sữa vẫn c̣n. Cũng vậy, tâm của Thánh nhân, bụi bặm phiền năo đă được lấy nước trí tuệ tẩy sạch cả rồi, nhưng cái tập khí phiền năo vẫn c̣n sót lại. Như vậy, các bậc Thánh hiền dù đă đoạn trừ hết phiền năo nhưng cái tập của phiền năo vẫn chưa trừ được. Giống như tôn giả Nan-đà vẫn c̣n tập dâm dục, dù đă đắc quả A-la-hán, nhưng khi ngồi trong đại chúng có cả nam và nữ, th́ mắt tôn giả trước hết lại thấy người nữ, dùng ngôn ngữ để thuyết pháp cho người nữ’.

Đoạn luận trên giải thích căn bản phiền năo tuy đă đoạn trừ hết rồi mà cái thói quen hay cái năng lực của nó vẫn c̣n tiềm phục lưu lại thêm một thời gian nữa, gọi là Tập khí. Giống như khi ḿnh tắt cái quạt máy, nguồn điện đă cắt rồi (căn bản phiền năo đă đoạn trừ hết rồi), mà cái quạt vẫn c̣n quay thêm một hồi nữa mới dừng hẳn (tập khí).

Trong kinh điển Phật có nói tôn giả Nan-đà c̣n dâm tập, Xá-lợi-phất và Ma-ha Ca-diếp c̣n sân tập, T́-lăng-ca-bà-bạt c̣n mạn tập, Ma-đầu-bà-tư-trá c̣n khiêu hí tập, Kiều-phạm-bát-đề c̣n ngưu nghiệp tập… là chỉ cho những thói quen c̣n sót lại của nghiệp chứ không phải các tôn giả c̣n có những nghiệp đó.

Câu-xá luận quang kí, quyển 1, nói rằng Bất nhiễm ô vô tri (không biết rằng ḿnh không có nhiễm ô) là Tập khí.

Tổng quát, có ba loại tập khí.

1. Danh ngôn tập khí : chủng tử trực tiếp của từng pháp hữu vi cá biệt. Danh ngôn có hai: Một, danh ngôn biểu nghĩa, đó là sự sai biệt của âm thanh chuyển tải ư nghĩa. Hai, danh ngôn hiển cảnh, tức tâm, tâm sở pháp nhận thức đối tượng cá biệt. Tùy theo hai danh ngôn mà chủng tử được huận tập thành để làm nhân duyên cho từng pháp hữu vi cá biệt.

2. Ngă chấp tập khí : đó là chủng tử của ngă và ngă sở được chấp thủ một cách bất thực. Ngă chấp có hai: Một, câu sinh ngă chấp, loại kiến chấp về ngă và ngă sở bị đoạn trừ bởi tu đạo. Hai, phân biệt ngă chấp, lọai kiến chấp ngă, ngă sở bị đoạn trừ bởi kiến đạo.

Tùy theo chủng tử được huân tập thành hai loại ngă chấp này mà có sự sai biệt ta và nó trong các hữu t́nh.

3. Hữu chi tập khí: đó là chủng tử của nghiệp dẫn đến dị thục trong ba cơi. Hữu chi có hai: Một, thiên hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái. Hai, bất thiện, nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hữu chi mà có sự sai biệt của các cơi do bởi nghiệp dị thục.

Nên biết, tập khí ngă chấp và hữu chi là tăng thượng duyên cho quả sai biệt.

Tỉ khâu ni, T́ kheo ni      nonne bouddhiste    nun    比丘尼     bhiksuni
Người nữ xuất gia theo Phật giáo đă thọ giới cụ túc (c̣n gọi là giới tỳ kheo ni, gồm 348 giới).

Tỉ khâu, T́ kheo      Moine bouddhiste    Buddhist monk    比丘    Bhikkhu, Bhikṣu
Người nam xuất gia theo Phật giáo đă thọ giới cụ túc (250 giới), đầy đủ 5 ư nghĩa: 1. Khất sĩ (đi xin ăn để đơn giản đời sống cho thanh tịnh và để gần gũi với tín đồ mà giáo hoá, tạo cho tín đồ cơ hội gieo trồng phước điền); 2. Phá giặc phiền năo (tham, sân, si, mạn, nghi...); 3. Ra khỏi nhà thế tục và nhà tam giới (ra khỏi 3 cơi); 4. Giữ giới thanh tịnh; 5. Làm cho chúng ma sợ hăi.

Tịnh độ      Terre pure    Pure land     淨土    Sukhāvatī
Tịnh độ là thế giới trong sạch, không có những điều xấu xa, hoàn toàn thanh tịnh. Nhiếp đại thừa luận chép rằng: "Thế giới mà chúng sinh sống trong đó không có năm điều xấu xa (ngũ trược), th́ gọi là Tịnh độ". Đó là thế giới của chư Phật, là quốc độ của chư Phật, như Tịnh độ của Phật A di đà ở phương Tây, Tịnh độ của Phật Dược Sư ở phương Đông...

Tứ độ      Terres quatre    Four lands    四土    Buddha-kṣetra
Cũng gọi Tứ Phật độ, Tứ chủng Phật độ. Chỉ cho 4 cơi Phật.
1. Phàm thánh đồng cư độ, cũng gọi Nhiễm tịnh đồng cư độ, Nhiễm tịnh quốc: Cơi nước trong đó phàm phu người, trời cùng ở chung với các bậc thánh Thanh văn và Duyên giác.
2. Phương tiện hữu dư độ, cũng gọi Phương tiện độ, Hữu dư độ: Chỉ cho nơi cư trú của các bậc A la hán, Bích chi Phật và hàng Bồ tát Địa tiền. V́ các bậc này tu đạo phương tiện, đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, cho nên gọi là Phương tiện; nhưng Vô minh căn bản vẫn c̣n sót lại, ngăn che thực tướng Trung đạo, cho nên gọi là Hữu dư.
3. Thực báo vô chướng ngại độ, cũng gọi Thực báo độ, Quả báo độ: Nơi sinh về của các vị Bồ tát đă dứt bỏ được 1 phần vô minh. Nhờ tu hành đạo chân thực mà được quả báo sinh về cơi nước tự tại vô ngại này, nên gọi là Thực báo vô chướng ngại độ.
4. Thường tịch quang độ, cũng gọi Lư tính độ: Chỗ ở của Phật đă hoàn toàn dứt trừ vô minh căn bản, tức nơi cư trú của Phật đă chứng được quả Diệu giác rốt ráo, là cơi Phật thường trụ (pháp thân), tịch diệt (giải thoát) và quang minh (bát nhă).

Tứ động tâm              四動心    
Bốn nơi Thánh tích mà khi chiêm bái, viếng thăm ai nấy đều bị chấn động tâm thức hay rung động tâm linh. Đó là nơi: Phật đản sinh, Phật thành đạo, Phật chuyển pháp luân, Phật nhập niết-bàn.

Kinh Du Hành, thuộc Trường A-hàm, ghi: ‘Này A-nan, có bốn chỗ tưởng nhớ: 1. Tưởng tới chỗ Phật sinh, hoan hỷ muốn thấy, nhớ măi không quên, sinh tâm luyến mộ. 2. Tưởng tới chỗ Phật thành đạo, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ. 3. Tưởng tới chỗ Phật chuyển Pháp luân đầu tiên, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ. 4. Tưởng tới chỗ Phật vào Niết-bàn, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ.

‘Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, trai hay gái con nhà ḍng dơi nhớ nghĩ khi Phật giáng sinh có những công đức như thế, khi Phật đắc đạo có những thần thông như thế, khi Phật chuyển Pháp luân có những sự hóa độ như thế, khi Phật diệt độ có những lời di huấn như thế. Rồi mỗi người đi đến bốn chỗ đó kính lễ, dựng chùa tháp cúng dường. Khi chết đều được sinh lên cơi trời, chỉ trừ người đắc đạo.’


Tứ điên đảo              四顛倒    viparyāsa
Bốn nhận thức sai lầm, điên đảo.
Có hai loại:
1. Bốn thứ điên đảo của phàm phu, gọi là bốn thứ điên đảo hữu vi: Đối với các pháp hữu vi vốn bị sinh tử, vô thường chi phối mà nhận chấp sai lầm, điên đảo, cho rằng có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Tức là, chúng sanh phàm phu mê muội, không hiểu biết tướng chân thật của các pháp, thế gian vốn Vô thường mà cho là Thường, Khổ đau mà cho là Lạc, Vô ngă mà cho là có Ngă, Bất tịnh mà cho là Tịnh.
2. Bốn thứ điên đảo vô vi: chỉ cho những người khi nghe Phật nói bốn thứ điên đảo hữu vi th́ phát sinh chánh kiến, biết rơ các pháp hữu vi là Vô thường, Vô ngă, Vô lạc, Bất tịnh, nhưng đối với pháp vô vi, tức là đối với niết-bàn vốn là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh lại khởi lên nhận thức sai lầm, cho rằng niết-bàn cũng Vô thường, Vô ngă, Vô lạc, Bất tịnh.
Đoạn trừ bốn thứ điên đảo hữu vi là các bậc Nhị thừa. Đoạn trừ tám thứ điên đảo hữu vi và vô vi là các bậc Bồ-tát.

Tứ ác đạo              四惡道     
C̣n gọi là Tứ ác thú.
Là bốn chỗ sống xấu ác và khổ đau, gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la.
Chúng sanh tạo những nghiệp ác nên đi đến những thế giới, những hoàn cảnh mà môi trường sinh sống toàn là khổ đau.

Tứ châu              四洲    Catvāro-dvīpāḥ
Quan niệm về thế giới của Ấn độ xưa.
Chỉ cho 4 châu lớn. Ở giữa thế giới là núi Tu di, chung quanh núi Tu di có 7 lớp núi và 7 lớp biển, giữa khoảng lớp núi Thất kim và núi Đại thiết vi là lớp Hàm hải (biển mặn), trong đó có 4 châu lớn, nằm ở 4 phương:
1. Đông thắng thân châu, Pūrva-videha: Cũng gọi Đông phất bà đề. V́ người sinh sống ở đây có thân h́nh thù thắng nên gọi là Thắng thân. Địa h́nh châu này giống như h́nh bán nguyệt, khuôn mặt con người cũng có h́nh bán nguyệt.
2. Nam thiệm bộ châu, Jambu-dvīpa: Cũng gọi Nam diêm phù đề. Thiệm bộ, Jambu, là cây bồ đào, châu này lấy tên cây bồ đào làm tên châu. Địa h́nh như cái thùng xe, khuôn mặt người ở đâu cũng thế.
3. Tây ngưu hoá châu, Apara-godānīya: Cũng gọi Tây cù da di. V́ dùng ḅ, dê làm tiền tệ mua bán, trao đổi, nên có tên Tây ngưu hoá châu. Địa h́nh châu này như trăng tṛn, khuôn mặt người cũng thế.
4. Bắt cu lô châu, Uttara-kuru: Cũng gọi là Bắc uất đơn việt. Câu lô có nghĩa là nơi thù thắng, v́ đất đai ở châu này thù thắng hơn 3 châu nói trên nên được đặt tên là Bắc câu lô châu. Địa h́nh châu này vuông vức, khuôn mặt người cũng thế.

Tứ chính cần          Four correct endeavors    四正勤    catvāri prahāṇāni
Cũng gọi là Tứ chính đoạn, Tứ ư đoạn.
Cần là siêng năng; Đoạn là cắt đứt chướng ngại. Dùng tâm siêng năng tinh tân để đoạn trừ tâm lười biếng, buông lung.
Tứ chính cần là bốn đức mục tu hành làm phương tiện siêng năng tinh tấn trong việc đoạn ác sinh thiện.
1. Nỗ lực đoạn trừ điều ác đă sinh.
2. Nỗ lực ngăn chặn những điều ác chưa sinh.
3. Nỗ lực phát khởi, khơi dậy điều thiện chưa sinh.
4. Nỗ lực nuôi dưỡng, phát triển những điều thiện đă sinh.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7