Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17 

Bát xúc              八觸    
Là tám thứ cảm giác của thân: động, ngứa, nặng, nhẹ, lạnh, ấm, trơn, rít. Thực ra c̣n nhiều cảm giác như: mềm, cứng, kiến ḅ, điện giựt, quên thân, bay bổng… đều là quá tŕnh lúc tĩnh tọa thường có.

Bát-nhă ba-la-mật          perfection of wisdom    般若波羅蜜    prajñā-paramitā
Trí tuệ đến bờ kia, tức là đại trí tuệ của Bồ-tát, soi rơ thực tướng các pháp, cùng suốt biên tế của hết thảy trí tuệ, vượt bờ sống chết bên này mà qua đến bờ Niết-bàn bên kia.

Biến dị sinh tử              變易生死    
Chỉ cho sự tự do tự tại lựa chọn sống chết của bậc thánh nhân và bồ-tát đă siêu việt luân hồi, c̣n gọi là Vô vi sinh tử, Bất tư ngh́ biến dị sinh tử, Biến dịch thân…
Chư vị A-la-hán, Bích-chi Phật cùng với hàng Bồ-tát đại lực, lấy “hữu phân biệt nghiệp” vô lậu làm nhân, Vô minh trụ địa làm duyên, mà chiêu cảm được quả báo thân thù thắng vi diệu vượt ngoài tam giới. Thân quả báo này, do sức mạnh bi nguyện vô lậu, trước hết cải chuyển thân thô phân đoạn sinh tử thành ra thân vô hữu h́nh sắc vi diệu, hạn định thọ mạng... cho nên gọi là biến dị thân; lại do định lực vô lậu, nguyện lực trợ cảm, diệu dụng khó lường, cho nên gọi là bất tư ngh́ thân; lại nữa, thân này là dùng ư nguyện đại bi mà thành, nên gọi là ư thành thân, vô lậu thân, siêu việt tam giới thân; lại nữa, thân này do định lực vô lậu mà chuyển thành, vốn đă khác với thân thô phân đoạn của nó trước đây, giống như do biến hoá mà được, nên gọi là biến hoá thân.
A-la-hán, Bích-chi Phật cùng với Bồ tát đại lực đă đoạn hết phiền năo hoặc chướng của Tứ trụ địa, không c̣n trở lại thọ thân phân đoạn sanh tử trong tam giới, v́ đă thọ thân biến dị ngoài tam giới, nhưng quư Ngài lại dùng cái thân biến dị này để hồi nhập vào trong tam giới, trải qua thời gian dài tu Bồ tát hạnh, nhằm đến quả vị Vô thượng bồ-đề.
Căn cứ Pháp tướng tông, có bốn hạng người có thể thọ quả báo thân biến dị sinh tử, đó là: 1, Hàng Thánh giả vô học của Nhị thừa đă hồi tâm về với Đại thừa, sau khi đắc Niế- bàn, th́ có thể trực tiếp thọ quả báo thân biến dị. 2, Hàng Thánh giả hữu học chuyển hướng Đại thừa, sau khi đến vị trí sơ địa cũng được thọ thân biến dị. 3, Hàng Bồ-tát phát triển ḷng bi, từ hàng bát địa trở lên, thọ thân biến dị này. 4, Hàng Bồ-tát phát triển nhất thiết trí, từ sơ địa trở lên, thọ thân biến dị này.
Pháp tánh tông th́ cho rằng, Vô học nhị thừa và Chủng tánh Bồ-tát trở lên, đắc tuỳ ứng mà thọ thân biến dị.
Cứ Tam luận tông, Gia tường đại sư Cát Tạng, trong Thắng man bảo quật, quyển trung, nói: Biến dị sinh tử và Phân đoạn sinh tử khác nhau ở chỗ: Thân phân đoạn sinh tử có đầy đủ sắc h́nh sai khác và hạn định thọ mạng dài ngắn; c̣n thân biến dị sinh tử do niệm niệm tương tục của tâm thức mà trước biến sau khác, thân đó, h́nh sắc và thọ mạng đều không có hạn định.
Đại thừa nghĩa chương, quyển 8, cũng nêu lên ba nghĩa của biến dị sinh tử, tức là: 1, lấy cái sinh diệt vi tế làm thành biến dị sinh tử. 2, lấy thân pháp tính duyên với vô lậu mà đạt được biến thành thân biến dị sinh tử. 3, Pháp thân Như lai tạng thực chứng.
Đại thừa nghĩa chương, quyển 8, lại đem biến dị sinh tử phân ra làm hai loại: 1, Biến dị sinh tử của thức, tức báo thân thọ được do lục thức duyên với vô lậu pháp. Có ba, thân của A-la-hán và Bích-chi Phật, thân của hàng Chủng tính giải hạnh, và thân của Bồ-tát sơ địa trở lên. 2, Biến dị sinh tử của vọng thức, báo thân thọ được do thức thứ bảy (A-đà-na thức) duyên với pháp vô lậu. Cũng có ba, thân của Bồ-tát trước khi lên sơ địa, thân của Sơ địa trở lên, và thân của Bát địa trở lên.

Biệt báo           distinct karmic reward    別報    
Quả báo riêng biệt; c̣n viết là Măn nghiệp. sự vận hành liên quan đến hiện nghiệp phát sinh tương đối nhanh thành nhiều chi tiết khác nhau giữa các loài chúng sinh, như sự khác nhau của người sinh ra được giàu có và người nghèo, đẹp và xấu... Điều này khác xa với quả báo chung, như chủng tộc người được sinh ra... , gọi là Tổng báo. C̣n có nghĩa tương tự là Y báo.

Biệt báo nghiệp          particularizing karma    別報業    
Xem "Biệt báo"

Biệt cảnh           distinct states; special objects    別境    vibhāvanā
Là ư tưởng, hay tâm hành sinh khởi tùy theo nhiều đối tượng hoặc nhân duyên mà tâm thức hướng đến. Một loại Tâm sở hữu pháp đặc biệt sinh khởi không nhất thiết thông qua các thức mà chỉ tùy thuộc nhiều vào "Tâm vương" trong những hoàn cảnh đặc biệt là: loại tâm sở hữu pháp chỉ ghi nhận những đối tượng đặc biệt. Bổ sung cho Tâm sở biến hành. Theo Pháp tướng tông, nhóm phần tử nầy rơi vào phạm trù chung "Tâm sở". Biệt cảnh bao gồm 5 phần tử, đó là: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.

Biệt cảnh tâm sở               別境心所     
Xem "Biệt cảnh"

Biệt giải thoát luật nghi vô biểu              別解脫律儀無表    prātimokṣa-saṃvara
Nhờ sự xa lánh tội lỗi nơi thân, khẩu của riêng từng giới mà đạt được thể vô biểu. Như đệ tử Phật nhờ thọ tŕ các phẩm bậc giới luật, 5 giới, 10 giới, 250 giới, 348 giới, v.v… mà đạt được thể vô biểu.

Biệt giáo       Enseignement particulier    Separate teaching    別教    
Một trong bốn giáo hoá pháp: Tạng, Thông, Biệt, Viên, do tông Thiên Thai thành lập. Giáo lư riêng của Nhất thừa. Khía cạnh siêu việt của Nhất thừa, hoàn toàn siêu việt cả ba thừa.
Biệt giáo tuyên nói ư chỉ trong các kinh Đại thừa riêng cho hàng Bồ tát, như kinh Hoa nghiêm v.v...

Biệt tướng      Caractéristique particulière    Distinctive characteristics    別相    bheda
Tiếng riêng, một trong hai tướng, đối lại với "Tổng tướng". Hết thảy các pháp đều vô thường, vô ngă, đó là tổng tướng, tức là tướng trạng tổng quát. Nhưng, hết thảy các pháp cũng đều có tướng đặc thù riêng, như ẩm ướt là tướng của nước, cứng chắc là tướng của đất, nóng là tướng của lửa v.v... đó là biệt tướng.

B́nh thường tâm              平常心    
Bản thể của tự tánh b́nh thường cùng khắp không gian thời gian, nơi phàm chẳng bớt, nơi Thánh chẳng thêm. Tâm này b́nh đẳng như thường, chẳng sanh chẳng diệt, chúng sanh y theo tâm này ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, nên gọi b́nh thường tâm là đạo vậy.

Cứ khoản kết án              據款結案    
Là căn cứ theo căn cơ tŕnh độ của người học (nghi ngộ, sâu cạn, chân giả…) mà dùng các phương tiện linh động để tùy cơ quét sạch dấu tích có sở trụ của người học.

Câu thi na              拘尸那    Kuśinagara
Câu-thi-na, Kuśi-nagara, nơi Đức Phật nhập Niết-bàn.
Thuở Phật tại thế, Câu-thi-na là một thị trấn của nước Mạt-la (Mallas).
Theo Kinh Trường A-hàm, khi Thế Tôn tuyên bố nhập Niết-bàn ở thành Câu-thi-na, tôn giả A-nan đă ‘Xin Phật chớ diệt độ tại chỗ đất hoang vu trong thành chật hẹp thô lậu này’. Đức Phật liền dạy, thành này xưa kia, vào thời vua Đại Thiện Kiến, đă từng xinh đẹp như một Tịnh độ. Rồi Phật dạy: “Này A-nan, Ta nhớ đă từng ở nơi này, Ta sáu lần tái sanh làm Chuyển Luân Thánh vương và cuối cùng bỏ xác tại chỗ này. Nay Ta thành Vô thượng Chánh giác, lại cũng muốn xả bỏ mạng căn, gởi thân tại đây. Từ nay về sau, Ta đă dứt tuyệt sanh tử, không c̣n có chỗ nào là nơi bỏ xác Ta nữa. Đây là đời cuối cùng. Ta không c̣n thọ sinh trở lại nữa”.
Đức Thế Tôn chọn thành Câu-thi-na, một mảnh đất đă từng xinh đẹp như Tịnh độ, để nhập Niết-bàn là muốn khai thị cho chúng sanh đời sau biết rằng, muốn vào Niết-bàn phải về Tịnh độ. Đó là di giáo tối hậu của Đức Thế Tôn.
Vùng đất này đă từng được các tín đồ Phật giáo xây dựng và tổ chức các hoạt động văn hóa. Nhưng đến thế kỷ thứ 5, khi ngài Pháp Hiển đến đây chiêm bái th́ chỉ thấy thưa thớt người sinh sống và đại bộ phận chùa viện đều đă hoang phế.
Thế kỷ thức 7, Đường Huyền Trang đến đây chiêm bái th́ thành này đă hủy hoại, thôn ấp tiêu điều, dân cư càng thưa thớt.
Năm 1853, nhà khảo cổ M.A.C. Carlyle tiến hành khai quật thành Câu-thi-na, và công tác khảo cổ tiến hành cho đến ngày nay đă phát hiện được:
1. Điện Phật nằm: Trong điện này có tượng Đức Phật Niết-bàn, dài 20 mét, nằm trên bệ thờ được điêu khắc tinh mỹ. Đầu giường khắc h́nh tôn giả A-nan, Tu-bồ-đề (Subhadda), Ngơa-cát-lạp-bà-ni (Vajrapaṇi) và 5 tượng khác không rơ danh tánh, cùng với những hoa văn. Nghệ thuật tạo tượng và những hoa văn cho biết pho tượng này được kiến tạo vào khoảng thế kỷ thứ 5 công nguyên.
2. Tháp Đại Niết-bàn: Tháp này được xây dựng ngay nơi Phật nhập Niết-bàn. Măi đến năm 1912 công tác khai quật tháp này mới hoàn thành. Tháp cao 167 thước Anh. Trong tháp người ta t́m thấy rất nhiều di vật bằng đồng, có hoa văn và chữ viết của vương triều (Kumara Curta, niên đại 413-455).
3. Di tích và tường đá của một số ít chùa viện: Có rất nhiều hoa văn chuyển tải và ghi chép tên gọi các tự viện cũng như người kiến tạo Chùa Đại Niết-bàn. Những phát hiện này có giá trị lịch sử vô cùng lớn lao.
4. Tháp trà tỳ: Tháp này có tên là An-già-la (Angara Chaitya), tương truyền là nơi trà tỳ thân Phật. Người địa phương gọi tháp này là Rambhar. Trong tháp có di vật quan trọng nhưng đă bị kẻ gian đào đường hầm trộm mất.


Chư hành vô thường      impermanence des multiples mouvements    Whatever is phenomenal is impermanent.    諸行無常    Anityāḥ sarva-saṃskārāḥ
Hết thảy hiện tượng và muôn vật trong thế gian luôn luôn biến chuyển không ngừng. Đây là đại cương căn bản của Phật pháp. Cùng với Chư pháp vô ngă, Niết bàn tịch tĩnh cùng là một trong ba pháp ấn, gọi là Chư hành vô thường ấn, Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn. Gọi là ba pháp ân, tức là nhờ vào ba thứ pháp môn mà phán đoán được Phật pháp có cùng tột hay không.

Chỉ tŕ              止持    
Chỉ là dừng lại, là kiềm chế , không cho thân, khẩu làm các điều ác. Nhờ vào chỉ mà bảo tŕ được giới thể, nên gọi là chỉ tŕ. Chỉ tŕ giới dạy cho mọi người chớ làm các việc ác (chư ác mạc tác).

Chủng tử              種子    bīja
Chủng tử nguyên nghĩa chỉ cho hạt giống thực vật, Phật giáo mượn ư nghĩa này để làm ví dụ chỉ cho căn cứ khởi sinh ra các hiện tượng. Những hành vi ở thế gian, sau khi phát sinh nó để lại một năng lực tiềm tàng, giống như hạt giống được lưu trữ trong ḷng đất, năng lực này sẽ làm nguyên nhân sinh khởi những hành vi tương lai hoặc ảnh hưởng đến những hành vi tương lai. Nguồn năng lực ấy gọi là chủng tử.
Nói một cách tổng quát, ở thời kỳ đầu tiên, Phật giáo xem năng lực tiềm tàng của nghiệp thiện, nghiệp ác cùng với những quả báo của nó tồn tại liên tục, không gián đoạn ví như những hạt giống. Đến thời kỳ Phật giáo bộ phái, đặc biệt là phái Kinh lượng bộ, Hoá địa bộ… cho rằng, chủng tử chính là năng lực duy tŕ sự sinh tồn của nhân loại. Phật giáo Đại thừa, Du-già hành phái th́ cho rằng, chủng tử chính là yếu tố cấu thành và duy tŕ Thức a lại da thức, đồng thời, chủng tử có công năng làm sinh khởi các hiện hành. Thuyết này chính là khái niệm quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng của tông Duy thức.
Duy thức tông cho rằng, chủng tử nằm trong Thức a-lại-da làm nguyên nhân phát sinh hiện thật (chủng tử sinh hiện hành), đồng thời hiện hành cũng ảnh hưởng lên kết quả (hiện hành huân chủng tử), hoặc làm nguyên nhân phát sinh chủng tử tương tự (chủng tử sinh chủng tử).
Thuật ngữ liên quan đến chủng tử c̣n có từ tập khí (vāsanā) và huân tập. Thời xưa c̣n có thuật ngữ ‘phiền năo tập khí’, trong tư tưởng Duy thức học, từ này cùng khái niệm với từ chủng tử.
Chủng tử gồm có danh ngôn chủng tử (tức là chủng tử h́nh thành do khái niệm, ngôn ngữ, c̣n gọi là đẳng lưu tập khí), nghiệp chủng tử (chủng tử h́nh thành do hành vi, do nghiệp, rồi nghiệp là phát sinh ra hành vi, c̣n gọi là dị thục tập khí).
Đặc tính của chủng tử
Một cách tổng quát, có sáu đặc tính của chủng tử.
(1) Sát-na diệt. Thể của nó vừa sinh tức th́ diệt một cách vô gián, có công lực đặc sắc mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại ra những ǵ là pháp thường hằng. Cái ǵ thường hằng không biến chuyển th́ không thể nói nó có khả năng phát sinh tác dụng.

(2) Quả câu hữu. Cái cùng với pháp là quả hiện hành đă được sản sinh, cùng hiện hữu và cùng ḥa hiệp, mới có thể làm chủng tử. Đặc tính này loại bỏ những ǵ tồn tại trước nó, sau nó và ly cách nó.

Hiện hành và chủng tử khác loại, không chống nhau, đồng thời hiện hữu trong cùng một thân, cái đó mới có khả năng phát sinh tác dụng. Không phải như chủng tử cùng loại sinh sản lẫn nhau, cái trước và cái sau chống nhau, tất không thể cùng hiện hữu. Tuy nhân và quả có trường hợp cùng hiện hữu hay không cùng hiện hữu, nhưng chỉ trong thời hiện tại mới có thể có tác dụng như là nhân, v́ cái chưa sinh và cái đă diệt không có tự thể. Y trên cái sản sinh quả hiện tại mà đặt tên chủng tử, chứ không phải y trên trường hợp nó dẫn sinh cái cùng loại mà gọi là chủng tử, do đó cần phải nói chủng tử là cái cùng tồn tại với quả.

(3) Hằng tùy chuyển. Trong một thời gian dài cần phải tồn tại như một chủng loại duy nhất liên tục cho đến giai đoạn cứu cánh, như thế mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại trừ các chuyển thức vốn chuyển dịch một cách gián đoạn, v́ như vậy không tương ưng với chủng tử. Đặc tính này cũng chỉ rơ tính cách tự loại sinh sản lẫn nhau của chủng tử.

(4) Quyết định tính. Chủng tử phải là cái quyết định bản chất của công năng dẫn sinh thiện ác tùy theo ảnh hưởng của nhân. Đặc tính này bác bỏ quân điểm của các bộ phái khác cho rằng nhân của dị tính sản sinh quả của dị tính cũng mang ư nghĩa nhân duyên.

(5) Đăi chúng duyên. Chủng tử là loại công năng đặc biệt khi hội hiệp đủ các điều kiện riêng biệt của nó. Đặc tính này bác bỏ quan điểm của Ngoại đạo cho rằng do nguyên nhân tự nhiên, chứ không do hội đủ các điều kiện, quả thường xuyên được sản sinh một cách đột nhiên. Hoăc bác bỏ quan điểm các bộ phái khác cho rằng các duyên vốn hằng hữu chứ không phải không tồn tại. Ở đẩy nêu rơ các điều kiện (duyên) cần hội đủ không có tính hằng hữu. Do đó, chủng tử không thường xuyên ngẩu sinh quả.

(6) Dẫn tự quả. Dẫn sinh kết quả của riêng nó. Chủng tử là cái, từng loại riêng biệt, dẫn sinh các quả sắc, tâm từng loại riêng biệt. Đặc tính này bác bỏ quân điểm của Ngoại đạo cho rằng một nhân độc nhất sản sinh hết thảy quả. Cũng bác bỏ các bộ phái khác cho rằng sắc tâm các thứ làm nhân duyên cho nhau.

a. Duy chỉ công năng sai biệt trong Bản thức mới có đủ sáu đặc tính này để thành chủng tử; ngoài ra là không thể. Ở ngoại giới, như thóc lúa các thứ, vốn là biến thái của thức, cho nên giả lập chúng là chủng tử, nhưng không phải là chủng tử thực nghĩa.

b. Thế lực của loại chủng tử này sản sinh quả chính thức và gân gũi nhất được gọi là sinh nhân. Khi nó dẫn sinh quả dư tàn xa khiến không đột nhiên dứt tuyệt, bấy giờ được gọi là dẫn nhân.

c. Nội chủng sinh trưởng tất do huân tập; trực tiếp sản sinh quả. Đó là nhân duyên tính. Ngoại chủng hoặc được huận tập hoặc không; nó làm tăng thượng duyên để tác thành quả được sản sinh. Nhân duyên của quả kia như vậy phải là nội chủng. V́ quả được sản sinh từ chủng tử có đặc tính chung.


Chủng trí          all-inclusive wisdom; universal wisdom    種智    sarvathā-jñāna
Nói tắt của Nhất thiết chủng trí. Trí tuệ của Phật, biết rơ hết thảy mọi thứ, mọi loại pháp.

Chánh biến tri      Sage parfait        正遍知    Samyak-sambuddha
Cái biết cùng khắp không gian thời gian chẳng có năng sở đối đăi, tức là cái biết bản thể Phật tánh, khắp thời gian th́ chẳng sanh diệt, gọi là Niết Bàn; khắp không gian th́ chẳng khứ lai, gọi là Như Lai.

Chánh pháp nhăn tạng              正遍知    
Tạng dụ cho kho tàng, kho này tự tánh sẵn có. Khi hiện cái dụng của chánh pháp nhăn, th́ theo căn cơ mà tùy duyên hóa độ mọi chúng sanh, gọi là chánh pháp nhăn tạng.

Chánh tư duy          correct thought    正思惟     samyak-saṃkalpa
Chánh tư duy là suy nghĩ chân chính, là quán chiếu, nghiệm xét một cách đúng đắn, hợp với chân lư, không trái với lẽ phải, có lợi cho ḿnh và cho người, không gây khổ đau cho ḿnh và cho mọi loài; những suy nghĩ không bị dính mắc bởi tham dục, sân hận, hại người hại vật...
Chánh tư duy là suy nghĩ dựa trên sự thật, không phải tư duy trên mây, không dính líu ǵ đến thực tế. Tư duy trên sự thật là tư duy về Tứ diệu đế, về Vô thường, Vô ngă và Duyên sinh. Trong đời sống tu tập hằng ngày, nếu như những suy nghĩ của chúng ta mà không dính líu ǵ đến những sự thật đó, th́ có nghĩa là con Ma đă và đang dẫn chúng ta đi. Con Ma đó là Tà tư duy. Một ư nghĩ không đúng đắn, tức Tà tư duy, sẽ dẫn đến một hành động không đúng đắn, một lời nói không ái ngữ.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17