Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17 

Kế độ phân biệt              計度分別    abhinirūpaṇā-vikalpa
Kế độ phân biệt là một trong ba loại phân biệt. C̣n gọi là Suy độ phân biệt, Phân biệt tư duy. Nghĩa là, tâm thức duyên vào cảnh mà nó tiếp nhận rồi suy diễn, phán đoán, suy tính, là tác dụng của tán tuệ tương ưng với ư thức. Luận A-t́-đạt-ma câu-xá quyển 2 (Đại 29, 8 trung), nói: "Tán nghĩa là chẳng phải định. Tán tuệ tương ứng với ư thức gọi là Kế độ phân biệt".

Kết sử          Affliction    結使    
Tên gọi khác của phiền năo. Phiền năo trói buộc chúng sanh trong sanh tử luân hồi, nên gọi là kết; lại luôn luôn năo loạn, sai khiến thân tâm chúng sanh nên gọi là sử. Kết có 9 thứ: ái, khuể, mạn, vô minh, kiến, thủ, nghi, tật, san. Sử có 10 loại: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến.

Kỳ viên tinh xá              祇園精舍    Jetavanānāthapiṇḍadasyārāma
Vị trí
Nằm phía Nam thủ đô Xá-vệ nước Kiều-tất-la.
Tên gọi
Tên gọi đầy đủ là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, Jetavanānāthapiṇḍadasyārāma
Tên gọi khác: Kỳ-hoàn, Kỳ viên, Thệ-đà lâm, Thắng lâm.
Kỳ Thọ là chỉ cho khu Lâm viên của thái tử Kỳ-đà, con vua Ba-tư-nặc.
Cấp Cô Độc là trưởng giả thành Xá-vệ, cũng là biệt hiệu của Tu-đạt, Chủ tạng sử của quốc vương Ba-tư-nặc.
Vùng đất của Tinh xá này vốn là Lâm viên của thái tử Kỳ-đà. Trưởng giả Tu-đạt muốn mua lại vùng đất này (ước tính khoảng 100 mẫu) để xây dựng Tinh xá cúng dường Đức Phật và Tăng đoàn. Thái tử ra điều kiện, nếu Tu-đạt có thể đem vàng ṛng rải khắp mặt đất Lâm viên th́ thái tử sẽ bán cho. Tu-đạt y lời, đem vàng trải khắp Lâm viên khiến cho thái tử Kỳ-đà cảm nhận được thành tâm của ông, nên thái tử đă phát tâm cúng dường toàn bộ cây trong Lâm viên để cả hai người cùng kiến tạo Tinh xá. V́ lư do này mà Tinh xá có tên là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
Thánh tích
- Đức Phật an cư ở Tinh xá này 24 lần. Phần lớn kinh điển đều được Đức Phật thuyết giảng ở đây.
- Góc phía Bắc của Tinh xá có Viện vô thường, để cho những người bệnh an dưỡng. Khi nằm ở viện này, nghe đến tên, là người bệnh lănh ngộ được tất cả các pháp đều vô thường, nhờ vậy mà an nhiên viên tịch.
- Tại Tinh xá này, Đức Phật đă lên cơi trời Đao Lợi thuyết pháp ba tháng. Vua Ưu-điền v́ nhớ Phật đă cho khắc tượng Ngài bằng gỗ Chiên-đàn, cao 5 thước. Vua Ba-tư-nặc biết được, đă cho đúc tượng Phật bằng vàng ṛng, cũng cao 5 thước. Đó là hai pho tượng Phật đầu tiên trong lịch sử h́nh tượng Phật giáo.
- Gần Tinh xá ngày nay vẫn c̣n một mô đất cao, đó là nơi tứ chúng đệ tử đắp tam cấp để cung nghinh Đức Phật từ cung trời trở lại nhân gian.
- Trong Tinh xá có động Hoa lâm, Kareri-kuṭikā. Đức Thế Tôn từng cư trú trong động này.
- Một tinh xá nhỏ, có tên là Tùng lâm tinh xá, Śalalā-gāraka, đúng ra nên gọi là tịnh thất. Đó là tịnh thất Thế Tôn thường vào nhập định.
- Gần Tịnh xá Kỳ Viên là di tích nhà ông Cấp Cô Độc; tháp tưởng niệm đại tướng cướp Aṅgulimālya được Phật hóa độ.

Không tuệ              空慧    
Trí tuệ quán chiếu lư không của các pháp, tức là tuệ giác có được nhờ chứng nhập tánh không của các pháp.

Kiều Trần Như      Anna Kondanna        憍陳如    Ājñāta-kauṇḍinya
Là một trong 5 vị đệ tử đầu tiên được độ khi đức Phật chuyển pháp luân ở vườn Nai.
Ông là một trong những đại đệ tử của đức Phật, có ḷng nhân từ và sự hiểu biết sâu rộng, có khả năng giáo hoá, tiếp dắt đại chúng, không mất uy nghi, là người đầu tiên thụ pháp vị và tư duy Tứ diệu đế.

Kim cang thừa              金剛乘    Vajra-yāna
C̣n gọi là Đăn-đặc-la phái (Tāntrika), Mật giáo.
Một trường phái tu học có ít nhiều ảnh hưởng Phật giáo, hoặc là một loại h́nh Phật giáo bị biến thái v́ những lư do nội tại lẫn ngoại tại. Một trường phái h́nh thành từ những vay mượn giáo lư Phật giáo và những tín ngưỡng dân gian cùng những tôn giáo ngoại đạo khác, tạo thành một hệ thống tín ngưỡng phức tạp, xa rời Phật giáo chính thống.
Kim cang thừa hay Mật giáo lấy Mật pháp và Chú pháp của Veda trong Hậu kỳ Bà-la-môn giáo làm ư nghĩa trọng yếu, h́nh thành vào khoảng thế kỷ đầu Tây lịch, đến thế kỷ thứ 5, thứ 6 Tây lịch lại h́nh thành thêm Ấn khế (mudrā) và Mạn-đà-la (maṇḍala).
Cơ sở để Mật giáo xác lập là Kinh đại nhậtKinh Kim cang đỉnh xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ thứ 7 Tây lịch. Bấy giờ, Mật giáo lấy Đại Nhật Như Lai (Mahāvaircana) làm chủ và thêm vào Đại Uy Đức Minh Vương (Yamāntaka), Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Amogha-pāśa) làm Chư tôn đặc hữu, đồng thời lấy Phật giáo truyền thống và chư tôn của Bà-la-môn giáo kết hợp tổ chức thành hệ thống hoá Mạn-đà-la, chế định các nghi thức, sử dụng Ấn khế và Minh chú để tổ chức trong các nghi quỹ.
Xem bài chi tiết ở đây


Kinh Đại Bát Nê Hoàn              大般泥洹經    Mahā-parinirvāṇa
Kinh Phật Thuyết Đại Bát Nê Hoàn trong bộ Niết Bàn là một bộ kinh tiêu biểu của Phật giáo Bắc truyền do Đại sư Pháp Hiển (380-418/423), thời Đông Tấn dịch, 6 quyển, được xếp vào Đại Chánh tạng ở quyển 12, kinh số 376, được gọi là kinh Đại Niết Bàn Nam bản.

Xem Kinh Đại Bát Nê Hoàn (dưới dạng PDF)


Kinh Từ Bi          Metta Sutta    慈經    Mettā-sutta
Kinh Từ Bi, Mettàsuta, là một bài kinh ngắn trong một tập kinh ngắn thuộc kinh tập (Suttanipàta), thuộc Tiểu bộ kinh (Khudakanikàya), kinh tạng Pàli.
Đây là bản kinh duy nhất trong kinh tạng Nikàya đặc biệt giới thiệu một nếp sống hành Từ hạnh, một pháp hành Giới, Định, Tuệ mà đối tượng an trú tâm là ḷng Từ vô lượng. Nếu Kinh Kim Cương Bát Nhă, và nhiều kinh khác thuộc Nikayà và hệ Phát triển (Đại thừa) tập chú vào công phu hành thiền quán (vipassara) phát triển trí tuệ để cắt đứt các kiết sử, lậu hoặc, th́ kinh Từ Bi giới thiệu công phu tập chú phát triển niệm Từ với tâm tỉnh giác (có chánh kiến, trí tuệ) cũng sẽ dẫn đến thành tựu sự dập tắt được các ngă tướng, từ đó dập tắt các lậu hoặc, chấm dứt sinh tử, luân hồi.

Lưỡng túc tôn              兩足尊    Dvipadottama
Cũng gọi Vô thượng lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn.
Tôn hiệu của đức Phật. Đấng có đầy đủ phước đức và trí tuệ, hiểu và thực hành đi đôi (giải hạnh tương ưng).
Ngoài ra, v́ Phật có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, thành tựu các pháp vô học vô lậu như Tận trí, Vô sinh trí và các pháp bất cộng như 10 lực, 4 vô sở uư, nên tôn xưng Ngài là bậc tôn quư nhất trong các loài chúng sinh 2 chân ở cơi người và cơi trời.

Lục dục thiên              六欲天    
Trong ba cơi, Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, th́ Dục giới có tất cả sáu tầng trời, gọi là Sáu tầng trời cơi Dục, gồm : Tứ vương thiên, Đao-lợi thiên, Dạ-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hoá lạc thiên và Tha hoá tự tại thiên.

Cộng đồng của sáu cơi trời này đều có chung một đặc chất đó là hưởng thụ dục lạc.

Tứ vương thiên và Đao-lợi thiên ở trên đỉnh núi Tu-di, nên gọi là Địa cư thiên. Bốn cơi trời c̣n lại trụ giữa hư không, ẩn trong mây, nên gọi là Không cư thiên.

1. Tứ vương thiên, Catur-mahārājika-devāḥ, c̣n gọi là Tứ đại vương thiên, Tứ thiên vương thiên. Bốn cơi trời này nằm ở bốn phía của núi Tu-di. Mỗi cơi trời có một vị vua, phía Đông là Tŕ quốc thiên, phía Nam là Tăng trưởng thiên, phía Tây là Quảng mục thiên, phía Bắc là Đa văn thiên; bốn thiên vương này thống lănh thiên chúng.
Bao quanh núi Tu-di c̣n có bảy lớp núi vàng, và mỗi núi cũng có bốn vị thiên vương cai quản thiên chúng bốn phía, cho nên, trong các tầng trời cơi Dục th́ Tứ vương thiên rộng lớn hơn cả.
Tứ vương thiên cách mặt nước biển bốn vạn do-tuần, cách trời Đao-lợi cũng bốn vạn do-tuần.
Về mặt thời gian th́ cứ một ngày một đêm của cơi trời này bằng năm mươi năm ở cơi nhân gian. Thọ mạng của họ là 500 tuổi.

2. Đao-lợi thiên, Trayastriṃśat-deva. Đao-lợi là dịch âm của từ Trayastriṃśat, dịch ư là tam thập tam. Deva là thiên. Đao-lợi thiên c̣n gọi là Tam thập tam thiên, bởi tầng trời này gồm có ba mươi ba cơi nằm trên đỉnh núi Tu-di. Đế-thích là chúa tể của ba mươi ba tầng trời này, trụ ở trung ương, trong thành Thiện kiến, bốn phía c̣n lại, mỗi phía có tám tầng trời (gọi là bát thành).
Bốn góc của đỉnh núi có bón ngọn núi cao 500 do-tuần, do Kim cang thủ dược-xoa cư trú bên trong để bảo hộ chư thiên. Đế-thích thiên cư trú trong thành Thiện kiến, bên ngoài thành bốn mặt đều có vườn ngự uyển, đó là nơi dân chúng cơi trời vui chơi.
Đao-lợi thiên cách mặt biển lớn tám vạn do-tuần, cách Dạ-ma thiên cũng tám vạn do-tuần.
Tuổi thọ của dân chúng cơi trời này là một ngàn năm. Một ngày đêm của cơi trời này bằng một trăm năm của cơi nhân gian.

3. Dạ-ma thiên, Suyamā-deva, c̣n gọi là Thiện thời thiên, Thời phần thiên. Cơi trời này nằm giữa hư không, cách mặt biển 16 vạn do-tuần, cách cơi trời Đâu-suất 16 vạn do-tuần, thường hưởng thọ khoái lạc. Một ngày một đêm ở cơi này bằng 200 năm ở cơi nhân gian, tuổi thọ hai ngàn tuổi.

4. Đâu-suất thiên, Tuṣita-deva, c̣n gọi là Tri túc thiên. Cơi trời này nằm giữa hư không, cách mặt biển 32 vạn do-tuần, cách cơi Hoá lạc cũng 32 do-tuần. Đối với năm dục, thiên chúng cơi này biết đủ và dừng lại, không mong cầu thêm nữa. Một ngày đêm ở cơi này bằng 400 năm ở cơi nhân giân, tuổi thọ 4000 ngàn tuổi.

5. Hoá lạc thiên, Nirmāṇarati-deva, cơi này nằm giữa hư không, cách mặt biển 64 vạn do-tuần, cách cơi Tha hoá tự tại cũng 64 vạn do-tuần. Dân chúng cơi này thường tự biến hoá ra năm thứ dục trần để tự vui thích. Một ngày đêm ở cơi này bằng 800 năm ở cơi nhân gian, tuổi thọ 8000 tuổi. Nam nữ nh́n nhau mỉm cười là thoả măn dục vọng, không cần xúc chạm hay giao hợp.

6. Tha hoá tự tự thiên, Paranirmitavaśavatin-deva, tức Ma vương thiên, thường biến hoá, giả dạng người khác để tự tại hưởng thụ dục lạc. Cơi này nằm giữa hư không, cách mặt biển 120 vạn do-tuần. Một ngày đêm ở cơi này bằng 1600 năm ở cơi nhân gian, thọ mạng một vạn sáu ngàn tuổi.

Chúng sanh ở sáu tầng trời cơi dục đều do giữ giới, tu tập thiền định thế gian hoặc hành thập thiện mà sanh về đó.


Lục thức              六識    
1. Nhăn thức
2. Nhĩ thức
3.Tỷ thức
4.Thiệt thức
5. Thân thức
6. Ư thức.

Lục thành tựu              六成就    
Cũng gọi là Lục chủng thành tựu.
Các kinh Phật nói đều được mở đầu bằng phần Tựu chung: "Như thị ngă văn nhất thời Phật tại... dữ chúng tỳ kheo..." (Như vậy tôi nghe một thời Phật ở tại... cùng với chúng tỳ kheo...), căn cứ vào phần Tựa chung này mà 6 thứ thành tựu được thiết lập, đó là:
1. Tín thành tựu (Như thị): Tức chỉ cho sự tin tưởng của tôn giả A nan. Biển lớn Phật pháp chỉ có ḷng tin mới vào được, tin nhận pháp ấy là do đức Phật nói mà không c̣n nghi ngờ.
2. Văn thành tựu (ngă văn): Chính tôn giả A nan nghe đức Phật thuyết pháp, chứ không phải nghe ai nói lại.
3. Thời thành tựu (nhất thời): Chỉ cho thời gian thuyết pháp. Khi đấng Pháp vương mở ra pháp hội, chúng sinh nào có nhân duyên mà cảm được, th́ Phật liền hiện thân đáp ứng, cảm và ứng cùng lúc, không mất thời cơ.
4. Chủ thành tựu (Phật): Chỉ cho người thuyết pháp. Phật là bậc chủ tŕ việc thuyết pháp giáo hoá thế gian và xuất thế gian.
5. Xứ thành tựu (tại): Chỉ nơi thuyết pháp, một địa điểm rơ ràng, có thật, kiểm chứng được, chứ không phải nói ở đâu đó mà con người không biết, không kiểm chứng được.
6. Chúng thành tựu (chúng): Chỉ cho chúng nghe pháp, là những người mà ai cũng biết.

Lục thông              六通    ṣaḍ abhijñāḥ
Sáu phép thần thông, biểu hiện năng lực trí tuệ của chư Phật và Bồ tát.
1. Thân như ư thông, Phạm ṛiddhi viṣaga-jñānaṃ, c̣n gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ư muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi... tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ư muốn, không hề chướng ngại.
2. Thiên nhăn thông, Phạm divyaṃ-cakṣuḥ-jñānaṃ: nh́n thấy tất cả mọi h́nh sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nh́n thấy mọi h́nh tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
3. Thiên nhĩ thông, Phạm divyaṃ-śrotraṃ-jñānaṃ: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
4. Tha tâm thông, Phạm paracitta-jñānaṃ: biết hết tất cả mọi ư nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
5. Túc mệnh thông, Phạm purvanivasānusmṛiti-jñānaṃ, c̣n gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân ḿnh và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rơ, nhớ rơ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên ǵ, làm ǵ...
6. Lậu tận thông , Phạm āsravakṣaya-jñānaṃ: lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cơi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cơi, không c̣n sinh tử luân hồi trong ba cơi, được giải thoát hoàn toàn.
Căn cứ Luận câu xá quyển 27, trong 6 phép thần thông trên, 5 phép thần thông đầu th́ mọi người đều có thể đạt được, duy nhất phép thần thông thứ 6 th́ chỉ có những bậc thánh mới có thể đạt được.

Lục trần          six data fields    六塵    guṇas
Cũng gọi Ngoại trần (bụi bên ngoài), Lục tặc (sáu tên giặc bên ngoài).
Đó là sáu cảnh: Màu sắc, Âm thanh, Mùi hương, Vị ngon ngọt, Xúc chạm dịu êm, và các Pháp. Sáu trần cảnh này như bụi bặm làm nhơ bẩn chân tính, ô nhiễm tâm linh, nên gọi là Trần. V́ 6 trần này ở bên ngoài tâm, nên gọi là Ngoại trần. V́ chúng giống như bọn trộm cướp, chiếm đoạt tất cả pháp lành nên gọi là Lục tặc.

Lâm t́ ni              藍毗尼園    Lumbinī
Chữ Lâm-t́-ni dịch ư là khu vườn có đầy đủ mọi loài hoa trái ngon ngọt quư hiếm nhất, trần đầy ánh sáng, hương hoa, rất đáng yêu và vô cùng thanh thoát.

Hoa viên này do Vua Thiện Giác (Suprabuddha), quốc chủ thành Thiên-tư (Devadaha), kiến tạo cho phu nhân Lâm-t́-ni. Lâm-t́-ni sanh hạ hai người con gái, trưởng nữ là Ma-ha-ma-da (Mahāmāyā), tức mẫu thân của Đức Phật, và thứ nữ là Ma-ha Ba-xà-ba-đề (Mahāprajāpati), cả hai đều gả cho vua Tịnh Phạn.

Căn cứ kinh điển ghi chép, phu nhân Ma-da của vua Tịnh Phạn (Śuddhodana), quốc chủ thành Ca-t́-la-vệ, sắp đến kỳ lâm bồn, theo tập tục của người dân bấy giờ, phu nhân phải về quê ngoại để sanh nở. Trên đường trở về quê ngoại, đến Hoa viên Lâm-t́-ni, chính là hoa viên mang tên mẹ của bà, Ma-da vào dạo chơi, đến bên cây Vô ưu th́ đản sanh thái tử Tất-đạt-đa.

Thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, Vua A-dục (Aśoka) đă đến Hoa viên này chiêm bái và kiến tạo một trụ đá chôn ở đây để lưu niệm.

Hoa viên Lâm-t́-ni đă trải qua nhiều thời gian hoang phế. Đến năm 1896 mới được phát hiện trở lại, và từ đó, nhiều cuộc khảo cổ đă được tiến hành. Trong quá tŕnh khai quật, người ta đă t́m thấy không ít những di vật của các vương triều Khổng Tước (Maurya), vương triều Quư Sương (Kushan, Kuṣāṇa), vương triều Cấp-đa (Gupta).

Ngày nay, tại chính giữa di chỉ khảo cổ là đền thờ Thánh mẫu Ma-da. Trong đền thờ có bức phù điêu bằng đá tả cảnh Thánh mẫu Ma-da hạ sanh thái tử. Phía nam đền thờ có một hồ nước, tương truyền là nơi rồng chúa phun nước tắm cho Thái tử. Trụ đá trứ danh của vua A-dục nằm ở phía tây đền thờ. Theo Đại Đường Tây vực kư quyển sáu, Huyền Trang ghi chép: ‘Trên đầu trụ đá có mă tượng, do vua Vô Ưu (tức vua A-dục) kiến tạo. Sau v́ ác long phá hoại, trụ đá đă bị găy làm đôi’. Hiện nay, trụ đá c̣n lại cao khoảng 7 mét, phần đầu trụ đá có mă tượng đă mất. Tuy nhiên, phần trụ đá c̣n lại vẫn c̣n những ḍng chữ do vua A-dục pháp sắc, và người ta đọc được như sau: ‘Hai mươi năm sau khi lên ngôi, quốc vương Devànampiya Piyadasi (tức vua A-dục) ngự đến đây chiêm bái, v́ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, bậc hiền nhân của bộ tộc Thích-ca, đă đản sanh tại đây. Nhà vua ban lệnh khắc một bia bằng đá và dựng một thạch trụ. Ngài miễn thuế đất ở làng Lumbini và giảm thuế hoa lợi từ 1/4 theo lệ thường xuống c̣n 1/8’.

Những năm gần đây, chính phủ Nepal và những nước Phật giáo đă xây nhiều chùa tháp mới. Chính phủ Nepal đă có kế hoạch đệ tŕnh Liên Hiệp Quốc để xin trợ cấp xây dựng lại Hoa viên Lâm-t́-ni.

Liễu đạt              了 達    
Hiểu rơ một cách triệt để. Biết rơ, thấu rơ. Liễu ngộ thông đạt cả sự và lư.
Mật Am ngữ lục ghi: "親 悟 親 證、 了 達 三 祇 劫 空、 不 被 諸 塵 所 轉" – Tự ḿnh ngộ lấy, tự ḿnh chứng lấy, thấu rơ ba tăng ḱ kiếp rỗng không, chẳng bị trần cảnh khuấy động.
Pháp hoa kinh, Đề-bà-đạt-đa phẩm, ghi: 'Thâm nhập thiền định, thấu rơ các pháp'.
Hoa nghiêm kinh, quyển 37, ghi: 'Thấu rơ ba cơi đều do tâm mà có, 12 nhân duyên cũng như vậy'.

Linh Thứu Sơn              靈鷲山    Gṛdhra-kūṭa
Tên chữ là Kỳ-xà-quật, Gṛdhra-kūṭa, ngọn núi nằm gần thủ đô Vương-xá của quốc vương Ma-kiệt-đà xưa.
Thành Vương-xá có 5 ngọn núi, th́ núi Linh Thứu là ngọn cao nhất. Núi có nhiều cây cối, không gian thanh tịnh, không khí trong lành, nên có rất nhiều Thánh nhân ẩn cư.
V́ Đức Phật thường lên núi này ngắm hoàng hôn và giảng nhiều bản kinh quan trọng mà ngọn núi này nổi danh.
‘Kỳ-xà’ (Gṛdhra) là một loại chim giống diều hâu, lông và cánh hơi đen, đầu trắng, là loài chim ăn thịt. Theo Huyền ứng âm nghĩa, quyển thứ 7, ghi chép, th́ đây là loài chim có linh tính, biết trước người chết. V́ vậy, khi biết có người sắp chết, chúng liền bay đến nhà người đó, đợi cho đến khi người chết được đem tống tang trong rừng th́ bay xuống mà ăn thịt, nên gọi là Linh thứu.
Theo Luận Đại trí độ, quyển 3, núi này có tên gọi như thế v́ hai lư do: 1. Trên đỉnh núi có một tảng đá nhô lên cao, nh́n giống đầu chim Thứu, nên người dân thành Vương-xá gọi là núi đầu chim Thứu (Thứu đầu sơn); 2. Phía nam thành Vương-xá có một khu rừng gọi là Thi-đà lâm, trong rừng này có một khu vực để người dân tống táng tử thi, v́ vậy chim Thứu thường đến đây ăn thịt tử thi, ăn xong chúng bay đến đậu trên đỉnh núi, bấy giờ người dân bèn gọi núi ấy là Thứu đầu sơn.
Đức Phật thường đến núi này và giảng nhiều bản kinh Đại thừa, như Kinh Thiện sinh, Kinh Vô lượng nghĩa, Kinh Diệu pháp liên hoa, Kinh Vô Lượng thọ…


Mạt pháp      derniers jours du Dharma    latter dharma    末法    saddharma-vipralopa
Thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, bấy giờ những lời dạy của Phật bị mất dần, không c̣n người hiểu và hành tŕ đúng chính pháp, cho đến lúc mất hết hoàn toàn. Đồng nghĩa với Mạt thế, Mạt đại.
Phật pháp tồn tại ở thế gian được chia làm ba thời kỳ: Chính pháp, tượng pháp và mạt pháp.
1. Chính pháp: Giáo pháp của Phật c̣n nguyên vị. Sau khi Phật nhập niết bàn, giáo pháp ở đời, nếu nương theo giáo pháp mà tu hành th́ liền được chứng quả, gọi là chính pháp.
2. Tượng pháp: Phật pháp không c̣n nguyên vị, chỉ tương tự mà thôi. Giai đoạn này, giáo pháp tuy có và người tu hành cũng nhiều nhưng không có người chứng quả.
3. Mạt pháp: Giáo pháp của Phật bị tà ma ngoại đạo lợi dụng, xen tạp vào; kinh điển được chú thích, giảng giải tuỳ tiện... làm mất hết hương vị chính pháp. Tuy có nhiều người đi tu, nhiều người quy y Tam bảo nhưng không có ai thực hành theo lời Phật dạy.

Mật giáo          esoteric Buddhism    密教    
Đối lại là Hiển giáo.
Hai bộ giáo pháp Thai tạng mạn đà là và Kim cang mạn đà la do Đại Nhật Như Lai giảng thuyết được gọi là Mật giáo. Đó là cảnh giới nội chứng pháp thân của Phật, thâm sâu, bí áo, cho nên gọi là Mật giáo. Hơn nữa, đối với người chưa được làm lễ Quán đỉnh th́ không thể truyền trao giáo pháp Hiển tông, cho nên gọi là Mật giáo.

Ngũ đ́nh tâm quán      cinq méditations    five meditations and four bases of mindfulness    五停心觀     
Năm pháp quán dứt trừ phiền năo mê hoặc.
1. Bất tịnh quán (aśubhā-smṛti): Quán tưởng thân ḿnh và thân người nhơ nhớp để trừ bỏ ḷng tham muốn.
2. Từ bi quán (Maitrī-smṛti): Cũng gọi là Từ tâm quán. Quán tưởng ḷng thương xót để đối trị với phiền năo oán giận.
3. Duyên khởi quán (Iidaṃpratyayatā-pratītyasamutpāda-smṛti): Cũng gọi là Nhân duyên quán. Quán tưởng 12 duyên khởi thuận và nghịch để đối trị phiền năo ngu si.
4. Giới phân biệt quán (dhātu-prabheda-smṛti): Cũng gọi là Giới phương tiện quán, Tích giới quán, Phân tích quán, Vô ngă quán. Quán tưởng các pháp 18 giới đều do hoà hợp của đất, nước, lửa, giớ, không và thức mà có để đối trị chấp ngă.
5. Sổ tức quán (Ānāpāna-smṛti): Cũng gọi là An na ban na niệm, Tŕ tức niệm. Đếm số hơi thở ra, thở vào để đối trị tầm, tứ tán loạn, giữ cho tâm dừng yên một chỗ.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17