Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2 

Căn bản phiền năo              根本煩惱    mūla-kleśa
C̣n gọi Bản hoặc, Căn bản hoặc. Gọi tắt là Phiền năo.
Chỉ cho 6 loại phiền năo có gốc rễ từ nhiều đời nhiều kiếp, nằm sâu trong tâm thức của chúng sinh, rất khó đoạn trừ, đó là tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến. Trong đó, ác kiến lại được phân ra làm 5 loại, gọi là Ngũ lợi sử, c̣n 5 phiền năo kia gọi là Ngũ độn sử. Hợp cả hai lại gọi chung là 10 phiền năo, 10 sử hay 10 tuỳ miên. Ngoài ra, căn cứ sự có mặt của nó trong 3 cơi người ta cộng chung lại thành 88 sử hoặc 98 sử.
Những phiền năo phát sinh từ căn bản phiền năo, cũng có tác dụng làm ô nhiễm tâm và ô nhiễm tâm sở, được gọi là Tuỳ phiền năo hay Tuỳ hoặc (những phiền năo phụ thuộc).

Cảnh giới              境界    Viṣaya
1. Đối tượng của cảm giác, của nhận thức nhờ sáu thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư.
2. Thật tướng của các pháp được các bậc tu chứng nh́n thấy, chứng nghiệm được, gọi là cảnh giới giác ngộ. Mỗi người tuỳ theo chỗ tu tập của ḿnh mà đạt được một cảnh giới riêng nhất định mà người chưa giác ngộ, hoặc giác ngộ chưa tới, không thể cảm nhận được. Cũng khó thể chia sẻ cho người khác biết được cảnh giới giác ngộ của ḿnh, bởi ngôn ngữ không thể diễn tả một cách trung thực và toàn vẹn những ǵ người giác ngộ chứng nghiệm được.
Kinh Vô lượng thọ ghi: "Tỳ kheo bạch Phật: Ư nghĩa này quá sâu rộng, không phải cảnh giới của con". Kinh Nhập lăng già, ghi: "Trí chứng được bên trong Ta c̣n bỏ, th́ vọng giác đâu phải là cảnh giới".

Cấp cô độc      Bienfaiteur des nécessiteux    Anathapindika    給孤獨    Anàthapindika
Cấp cô độc sống tại thành Xá Vệ. Là một quan Trưởng giả đại thần dưới quyền cai trị của vua Ba Tư Nặc. Ông cũng là người mua lại vườn thượng uyển của Thái Tử Kỳ Đà dâng cúng cho Phật làm tinh xá tên gọi Kỳ viên.

Cận phần định              近分定    sāmantaka-samādhi
phương tiện nhập môn cho tám Định căn bản.
Định căn bản có tám loại: Tứ tĩnh lự (Tứ thiền) và Tứ vô sắc định, cho nên Cận phần định cũng có tám loại.


Cận sự nam               優婆塞     Upāsaka
Tức ưu-bà-tắc, cư sĩ nam, Phật tử tại gia đă quy y Tam bảo và thọ tŕ năm giới, luôn gần gũi, thân cận hộ tŕ Tam bảo nên gọi là Cận sự.

Cộng pháp              共法    
Pháp chung với Nhị thừa (như có sanh tử để diệt, có Niết Bàn để chứng) và pháp chung với Đại thừa (như thấy sanh tử, Niết Bàn đều như hoa đốm trên không).

Cứ khoản kết án              據款結案    
Là căn cứ theo căn cơ tŕnh độ của người học (nghi ngộ, sâu cạn, chân giả…) mà dùng các phương tiện linh động để tùy cơ quét sạch dấu tích có sở trụ của người học.

Cam lộ      ambroisie, élixir    nectar    甘露    amṛta
Pháp vị của Phật pháp là vị mầu nhiệm nuôi dưỡng thân tâm chúng sinh.

Câu sinh ngă chấp              俱生我執    sahaja -ahaṃkāra-manaskāratā
Ngă chấp câu sinh, do năng lực của nhân nội tại được huân tập bởi hư vọng kể từ thời vô thủy đến nay, thường hằng tồn tại cùng với thân; không cần chịu ảnh hưởng bởi tà giáo và tà phân biệt, mà chuyển hiện một cách tự nhiên, do đó gọi là câu sinh.
Loại ngă chấp này lại có hai thứ:
a. Thường tương tục, ở tại thức thứ bảy; nó lấy thức thứ tám làm đối tượng khiến sinh khởi h́nh tướng của tự tâm, rồi chấp đó là thực ngă.
b. Có gián đoạn, tại thức thứ sáu; nó lấy h́nh tướng năm thủ uẩn, vốn là biến hiện của thức, làm đối tượng, hoặc tổng thể hoặc cá biệt, khiến sinh khởi tướng của tự tâm rồi chấp đó là thực ngă.
Cả hai chấp trước này rất khó đoạn trừ, v́ rất vi tế. Về sau, trong tu đạo, thường xuyên tu tập sinh không quán đặc biệt mới có thể diệt trừ.

Câu thi na              拘尸那    Kuśinagara
Câu-thi-na, Kuśi-nagara, nơi Đức Phật nhập Niết-bàn.
Thuở Phật tại thế, Câu-thi-na là một thị trấn của nước Mạt-la (Mallas).
Theo Kinh Trường A-hàm, khi Thế Tôn tuyên bố nhập Niết-bàn ở thành Câu-thi-na, tôn giả A-nan đă ‘Xin Phật chớ diệt độ tại chỗ đất hoang vu trong thành chật hẹp thô lậu này’. Đức Phật liền dạy, thành này xưa kia, vào thời vua Đại Thiện Kiến, đă từng xinh đẹp như một Tịnh độ. Rồi Phật dạy: “Này A-nan, Ta nhớ đă từng ở nơi này, Ta sáu lần tái sanh làm Chuyển Luân Thánh vương và cuối cùng bỏ xác tại chỗ này. Nay Ta thành Vô thượng Chánh giác, lại cũng muốn xả bỏ mạng căn, gởi thân tại đây. Từ nay về sau, Ta đă dứt tuyệt sanh tử, không c̣n có chỗ nào là nơi bỏ xác Ta nữa. Đây là đời cuối cùng. Ta không c̣n thọ sinh trở lại nữa”.
Đức Thế Tôn chọn thành Câu-thi-na, một mảnh đất đă từng xinh đẹp như Tịnh độ, để nhập Niết-bàn là muốn khai thị cho chúng sanh đời sau biết rằng, muốn vào Niết-bàn phải về Tịnh độ. Đó là di giáo tối hậu của Đức Thế Tôn.
Vùng đất này đă từng được các tín đồ Phật giáo xây dựng và tổ chức các hoạt động văn hóa. Nhưng đến thế kỷ thứ 5, khi ngài Pháp Hiển đến đây chiêm bái th́ chỉ thấy thưa thớt người sinh sống và đại bộ phận chùa viện đều đă hoang phế.
Thế kỷ thức 7, Đường Huyền Trang đến đây chiêm bái th́ thành này đă hủy hoại, thôn ấp tiêu điều, dân cư càng thưa thớt.
Năm 1853, nhà khảo cổ M.A.C. Carlyle tiến hành khai quật thành Câu-thi-na, và công tác khảo cổ tiến hành cho đến ngày nay đă phát hiện được:
1. Điện Phật nằm: Trong điện này có tượng Đức Phật Niết-bàn, dài 20 mét, nằm trên bệ thờ được điêu khắc tinh mỹ. Đầu giường khắc h́nh tôn giả A-nan, Tu-bồ-đề (Subhadda), Ngơa-cát-lạp-bà-ni (Vajrapaṇi) và 5 tượng khác không rơ danh tánh, cùng với những hoa văn. Nghệ thuật tạo tượng và những hoa văn cho biết pho tượng này được kiến tạo vào khoảng thế kỷ thứ 5 công nguyên.
2. Tháp Đại Niết-bàn: Tháp này được xây dựng ngay nơi Phật nhập Niết-bàn. Măi đến năm 1912 công tác khai quật tháp này mới hoàn thành. Tháp cao 167 thước Anh. Trong tháp người ta t́m thấy rất nhiều di vật bằng đồng, có hoa văn và chữ viết của vương triều (Kumara Curta, niên đại 413-455).
3. Di tích và tường đá của một số ít chùa viện: Có rất nhiều hoa văn chuyển tải và ghi chép tên gọi các tự viện cũng như người kiến tạo Chùa Đại Niết-bàn. Những phát hiện này có giá trị lịch sử vô cùng lớn lao.
4. Tháp trà tỳ: Tháp này có tên là An-già-la (Angara Chaitya), tương truyền là nơi trà tỳ thân Phật. Người địa phương gọi tháp này là Rambhar. Trong tháp có di vật quan trọng nhưng đă bị kẻ gian đào đường hầm trộm mất.


Chư hành vô thường      impermanence des multiples mouvements    Whatever is phenomenal is impermanent.    諸行無常    Anityāḥ sarva-saṃskārāḥ
Hết thảy hiện tượng và muôn vật trong thế gian luôn luôn biến chuyển không ngừng. Đây là đại cương căn bản của Phật pháp. Cùng với Chư pháp vô ngă, Niết bàn tịch tĩnh cùng là một trong ba pháp ấn, gọi là Chư hành vô thường ấn, Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn. Gọi là ba pháp ân, tức là nhờ vào ba thứ pháp môn mà phán đoán được Phật pháp có cùng tột hay không.

Chỉ tŕ              止持    
Chỉ là dừng lại, là kiềm chế , không cho thân, khẩu làm các điều ác. Nhờ vào chỉ mà bảo tŕ được giới thể, nên gọi là chỉ tŕ. Chỉ tŕ giới dạy cho mọi người chớ làm các việc ác (chư ác mạc tác).

Chủng tử              種子    bīja
Chủng tử nguyên nghĩa chỉ cho hạt giống thực vật, Phật giáo mượn ư nghĩa này để làm ví dụ chỉ cho căn cứ khởi sinh ra các hiện tượng. Những hành vi ở thế gian, sau khi phát sinh nó để lại một năng lực tiềm tàng, giống như hạt giống được lưu trữ trong ḷng đất, năng lực này sẽ làm nguyên nhân sinh khởi những hành vi tương lai hoặc ảnh hưởng đến những hành vi tương lai. Nguồn năng lực ấy gọi là chủng tử.
Nói một cách tổng quát, ở thời kỳ đầu tiên, Phật giáo xem năng lực tiềm tàng của nghiệp thiện, nghiệp ác cùng với những quả báo của nó tồn tại liên tục, không gián đoạn ví như những hạt giống. Đến thời kỳ Phật giáo bộ phái, đặc biệt là phái Kinh lượng bộ, Hoá địa bộ… cho rằng, chủng tử chính là năng lực duy tŕ sự sinh tồn của nhân loại. Phật giáo Đại thừa, Du-già hành phái th́ cho rằng, chủng tử chính là yếu tố cấu thành và duy tŕ Thức a lại da thức, đồng thời, chủng tử có công năng làm sinh khởi các hiện hành. Thuyết này chính là khái niệm quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng của tông Duy thức.
Duy thức tông cho rằng, chủng tử nằm trong Thức a-lại-da làm nguyên nhân phát sinh hiện thật (chủng tử sinh hiện hành), đồng thời hiện hành cũng ảnh hưởng lên kết quả (hiện hành huân chủng tử), hoặc làm nguyên nhân phát sinh chủng tử tương tự (chủng tử sinh chủng tử).
Thuật ngữ liên quan đến chủng tử c̣n có từ tập khí (vāsanā) và huân tập. Thời xưa c̣n có thuật ngữ ‘phiền năo tập khí’, trong tư tưởng Duy thức học, từ này cùng khái niệm với từ chủng tử.
Chủng tử gồm có danh ngôn chủng tử (tức là chủng tử h́nh thành do khái niệm, ngôn ngữ, c̣n gọi là đẳng lưu tập khí), nghiệp chủng tử (chủng tử h́nh thành do hành vi, do nghiệp, rồi nghiệp là phát sinh ra hành vi, c̣n gọi là dị thục tập khí).
Đặc tính của chủng tử
Một cách tổng quát, có sáu đặc tính của chủng tử.
(1) Sát-na diệt. Thể của nó vừa sinh tức th́ diệt một cách vô gián, có công lực đặc sắc mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại ra những ǵ là pháp thường hằng. Cái ǵ thường hằng không biến chuyển th́ không thể nói nó có khả năng phát sinh tác dụng.

(2) Quả câu hữu. Cái cùng với pháp là quả hiện hành đă được sản sinh, cùng hiện hữu và cùng ḥa hiệp, mới có thể làm chủng tử. Đặc tính này loại bỏ những ǵ tồn tại trước nó, sau nó và ly cách nó.

Hiện hành và chủng tử khác loại, không chống nhau, đồng thời hiện hữu trong cùng một thân, cái đó mới có khả năng phát sinh tác dụng. Không phải như chủng tử cùng loại sinh sản lẫn nhau, cái trước và cái sau chống nhau, tất không thể cùng hiện hữu. Tuy nhân và quả có trường hợp cùng hiện hữu hay không cùng hiện hữu, nhưng chỉ trong thời hiện tại mới có thể có tác dụng như là nhân, v́ cái chưa sinh và cái đă diệt không có tự thể. Y trên cái sản sinh quả hiện tại mà đặt tên chủng tử, chứ không phải y trên trường hợp nó dẫn sinh cái cùng loại mà gọi là chủng tử, do đó cần phải nói chủng tử là cái cùng tồn tại với quả.

(3) Hằng tùy chuyển. Trong một thời gian dài cần phải tồn tại như một chủng loại duy nhất liên tục cho đến giai đoạn cứu cánh, như thế mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại trừ các chuyển thức vốn chuyển dịch một cách gián đoạn, v́ như vậy không tương ưng với chủng tử. Đặc tính này cũng chỉ rơ tính cách tự loại sinh sản lẫn nhau của chủng tử.

(4) Quyết định tính. Chủng tử phải là cái quyết định bản chất của công năng dẫn sinh thiện ác tùy theo ảnh hưởng của nhân. Đặc tính này bác bỏ quân điểm của các bộ phái khác cho rằng nhân của dị tính sản sinh quả của dị tính cũng mang ư nghĩa nhân duyên.

(5) Đăi chúng duyên. Chủng tử là loại công năng đặc biệt khi hội hiệp đủ các điều kiện riêng biệt của nó. Đặc tính này bác bỏ quan điểm của Ngoại đạo cho rằng do nguyên nhân tự nhiên, chứ không do hội đủ các điều kiện, quả thường xuyên được sản sinh một cách đột nhiên. Hoăc bác bỏ quan điểm các bộ phái khác cho rằng các duyên vốn hằng hữu chứ không phải không tồn tại. Ở đẩy nêu rơ các điều kiện (duyên) cần hội đủ không có tính hằng hữu. Do đó, chủng tử không thường xuyên ngẩu sinh quả.

(6) Dẫn tự quả. Dẫn sinh kết quả của riêng nó. Chủng tử là cái, từng loại riêng biệt, dẫn sinh các quả sắc, tâm từng loại riêng biệt. Đặc tính này bác bỏ quân điểm của Ngoại đạo cho rằng một nhân độc nhất sản sinh hết thảy quả. Cũng bác bỏ các bộ phái khác cho rằng sắc tâm các thứ làm nhân duyên cho nhau.

a. Duy chỉ công năng sai biệt trong Bản thức mới có đủ sáu đặc tính này để thành chủng tử; ngoài ra là không thể. Ở ngoại giới, như thóc lúa các thứ, vốn là biến thái của thức, cho nên giả lập chúng là chủng tử, nhưng không phải là chủng tử thực nghĩa.

b. Thế lực của loại chủng tử này sản sinh quả chính thức và gân gũi nhất được gọi là sinh nhân. Khi nó dẫn sinh quả dư tàn xa khiến không đột nhiên dứt tuyệt, bấy giờ được gọi là dẫn nhân.

c. Nội chủng sinh trưởng tất do huân tập; trực tiếp sản sinh quả. Đó là nhân duyên tính. Ngoại chủng hoặc được huận tập hoặc không; nó làm tăng thượng duyên để tác thành quả được sản sinh. Nhân duyên của quả kia như vậy phải là nội chủng. V́ quả được sản sinh từ chủng tử có đặc tính chung.


Chủng trí          all-inclusive wisdom; universal wisdom    種智    sarvathā-jñāna
Nói tắt của Nhất thiết chủng trí. Trí tuệ của Phật, biết rơ hết thảy mọi thứ, mọi loại pháp.

Chánh định      Concentration juste    right concentration    正定    samyaktva-niyata-rāśi
Định là trạng thái tâm chuyên chú vào một đối tượng, tinh thần tập trung một chỗ, không tán loạn, giữ tâm ở trạng thái vắng lặng, tịch tĩnh, hay nói cách khác Định có nghĩa là trạng thái tâm ư chuyên chú tập trung vào một đề mục, một đối tượng, một biểu thức nhất định nhằm mục đích để cho tâm không bị xao động, tán loạn do những tác động chủ quan và khách quan.
Chánh định là tập trung chân chánh và đồng đều tâm vương và các tâm sở đồng phát sanh vào một đối tượng duy nhất. Như vậy, tâm định là trạng thái tinh thần khi các thành phần của tâm được đặt trên một đối tượng duy nhất một cách đồng đều và chân chánh, không dao động và không phân tán. Chánh định là trạng thái tâm thức vượt thắng mọi sự trói buộc của triền cái, không c̣n bị thúc đẩy hay bị lôi cuốn vào bất cứ một đối tượng nào, luôn luôn giữ được trạng thái tâm thức thăng bằng, an ổn, định tĩnh.


Chánh biến tri      Sage parfait        正遍知    Samyak-sambuddha
Cái biết cùng khắp không gian thời gian chẳng có năng sở đối đăi, tức là cái biết bản thể Phật tánh, khắp thời gian th́ chẳng sanh diệt, gọi là Niết Bàn; khắp không gian th́ chẳng khứ lai, gọi là Như Lai.

Chánh kiến      Compréhension juste    Right Belief    正見    samyag-dṛṣṭi
Là nhận thức đúng đắn, ngay thẳng, chân chánh; là sự hiểu biết sáng suốt và hợp lư. Nhận thức này có tác dụng đưa con người thoát khỏi lối sống mê lầm, điên đảo. Người có Chánh kiến thấy như thế nào th́ nhận đúng như thế ấy, không đổi trắng thay đen, không kỳ thị xấu tốt, không phê phán hay dở. Chánh kiến là sự hiểu biết và nhận thức không bị tập quán, thành kiến, dục vọng hay tâm phân biệt ngăn che và làm sai lạc.
Chánh kiến hay Chánh tri kiến có nghĩa là nhận thức đúng đắn về định luật nhân quả ở thế gian và xuất thế gian; bằng trí tuệ hữu lậu hoặc vô lậu, thẩm định đúng đắn về tánh và tướng của các pháp, xa ĺa nhận thức nhị nguyên.
Định nghĩa theo truyền thống kinh tạng Nikàya và A-hàm th́, Chánh kiến là thấy rơ Tứ thánh đế, thấy rơ duyên khởi, thấy các pháp vô ngă.
Chánh kiến c̣n được ngài Xá-lợi-phất định nghĩa một cách rất đơn giản: phân biệt được bốn loại thức ăn là Chánh kiến; phân biệt được thiện và bất thiện là Chánh kiến; thấy được Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định là Chánh kiến.
Tóm lại, Chánh kiến là nhận chân được sự thật của cuộc đời, thấy được bản chất thực tướng của các pháp. Sự thật của cuộc đời hay bản chất của các pháp là ǵ? Là duyên sinh, vô ngă. Đó là nhận thức hay thế giới và nhân sinh quan của Phật giáo.

Xem bài nói về Chánh kiến


Chánh mạng          right livelihood    正命    samyag-ājīva
Chánh mạng là sự sống, lối sống chân chánh. Nuôi sống bản thân bằng nghề nghiệp, bằng phương tiện chân chính, không gây tổn hại đến người khác, loài khác, gọi là chánh mạng.
Hành vi trộm cắp, bướp bóc là tà nghiệp. Nếu nuôi sống bản thân bằng cái nghề ăn cướp th́ gọi là lối sống tà mạng.

Xem bài nói về Chánh mạng


Chánh ngữ          correct speech    正語    samyag-vāc
Chánh ngữ là lời nói chân chánh, lời nói thật thà, lương thiện, công bằng ngay thẳng, công minh chánh trực, có lợi ích chánh đáng, không gây tổn thương cho ḿnh và cho người. Chánh ngữ là lời nói chân thật, không bị chi phối bởi thế lực, tiền tài hay dục vọng. Chánh ngữ là lời nói hợp với Chánh pháp, đem lại hoà b́nh, yên vui cho mọi người mọi nơi. Chánh ngữ là lời nói không thiên vị, không xuyên tạc, không vu oan giá họa, không khủng bố đe dọa.
Hầu hết các kinh điển khi nói đến Chánh ngữ đều định nghĩa như Kinh Tạp A hàm: “Là xa ĺa nói dối, xa ĺa nói hai lưỡi, xa ĺa nói ác khẩu, xa ĺa nói thêu dệt”.
Xem bài nói về Chánh ngữ


Chánh nghiệp          right behavior    正業    samyak-karmānta
Nghiệp, Phạn karmā, là hành động có dụng tâm (có tác ư). Hành động, theo Phật giáo, gồm có hành động của thân, gọi là thân nghiệp; hành động của miệng, gọi là khẩu nghiệp; và hành động của ư, gọi là ư nghiệp.
Chánh nghiệp, Phạn samyak-karmānta, có nghĩa là sự thanh tịnh của ba nghiệp thân, khẩu, và ư. Nhưng trong Bát chánh đạo, khi nói đến Chánh nghiệp là nói đến sự thanh tịnh của thân nghiệp. Khẩu nghiệp thuộc về Chánh ngữ, và ư nghiệp thuộc về Chánh niệm (nó cũng thuộc về Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh định). Trong các kinh, khi nói đến Chánh nghiệp thường định nghĩa là hành vi không sát sinh, không trộm cướp và không tà dâm… thực hành việc tôn trọng sự sống, bố thí, và sống đời trong sạch không trái đạo lư.

Xem bài nói về Chánh nghiệp



Trang : 1  2