Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3 

Bạch liên xă      Société du Lotus Blanc    the white lotus society    白蓮社    
Đạo tràng tu tập theo pháp môn niệm Phật. C̣n gọi là Bạch liên hoa xă, Liên xă: Đạo tràng hoa sen trắng.
Khởi nguyên từ thời Đông Tấn, do ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn chủ trương, tập hợp những người cùng chung chí hướng tu tập lại một chỗ để niệm Phật, về sau h́nh thức tu tập này thịnh hành và lấy danh xưng là Bạch liên xă.
Đời Đông Tấn, niên hiệu Thái nguyên thứ 9 (384 dl), ngài Huệ Viễn đến Lô Sơn, trú ở Hổ Khê, chùa Đông Lâm, mọi người kính mộ đức độ của ngài vân tập về chùa cùng tu học rất đông. Niên hiệu Nguyên Hưng năm đầu (402 dl), số người đến tu gồm có cả tăng lẫn tục, như Huệ Vĩnh, Huệ Tŕ, Lưu Di Dân, Lôi Thứ Tông... cả thảy 123 người. Tất cả cùng kéo đến tinh xá đài Bát Nhă, quỳ trước tượng Phật A Di Đà lập thệ nguyện tinh chuyên tu tập niệm Phật tam muội cho đến ngày văng sinh Tây phương. Lúc ấy, do trước chùa có một cái ao trồng toàn hoa sen trắng, lại nguyện cùng nhau văng sinh về Cực lạc Liêng bang, cho nên mới lấy hiệu là Bạch liên xă. Về sau, tiếng đồn ngày càng vang khắp, tạo thành nhân duyên hưng thịnh pháp môn Tịnh độ. Từ đời nhà Đường, Tống trở về sau pháp môn này càng hưng thịnh hơn nữa, và lịch sử đă suy tôn ngài Huệ Viễn là sơ tổ của Liên xă, đồng thời cũng là sơ tổ của Tịnh độ tông tại Trung Hoa.

Bạch y      adepte en blanc,    White clothing    白衣    avadāta-vasana
Nguyên ư là áo mầu trắng, được chuyển dụng mà gọi người mắc áo trắng, tức chỉ những người tại gia. Thông thường, người Ấn độ đều cho áo mầu trắng tinh là sang, cho nên, ngoài tăng lữ ra, tất cả đều mặc áo trắng, từ đó, gọi người tại gia là bạch y, trong kinh Phật phần nhiều cũng dùng từ ngữ bạch y để thay cho người tại gia.

Bản giác           original enlightenment    本覺    
Tính giác sẵn có. Là cái bản tính từ xưa đến nay vẫn trong sạch sáng suốt, không bị phiền năo mê vọng nhiễm ô chi phối, ảnh hưởng.

Bản môn              本門    
Cảnh giới của chân lư thực chứng được nhận thức bởi trí vô phân biệt của Phật được gọi là bản môn.

Bất động nghiệp              不動業    
Nghiệp chiêu cảm dị thục của Sắc và Vô sắc, và dẫn tái sinh trong Sắc và Vô sắc.

Bất cộng pháp              不共法    aveṇika-buddha-dharma
Bất cộng có nghĩa là riêng một ḿnh, chỉ có một. Bất cộng pháp là những pháp, những năng lực hoặc những đặc tính mà chỉ có chư Phật và Bồ-tát mới có, c̣n hàng phàm phu, nhị thừa… không có hoặc chưa thành tựu những pháp này.
Luận Đại Tỳ-bà-sa (Abhidharma-mahāvibhāṣā-śa-stra) nói Phật và Bồ-tát có 18 pháp bất cộng, là: Thập lực (mười lực), Tứ vô sở uư (bốn năng lực đưa tới sự không sợ hăi), Đại bi (t́nh thương lớn), Tam niệm trụ (an trụ trong ba niệm).
(Xem 18 pháp bất cộng)

Bất khả tư nghị      Inconcevable        不可思議    Acintya
Không thể nào suy nghĩ bàn luận ra được, vượt ngoài lư luận. Câu này dùng để tả cái Tuyệt đối, chỉ có ai đạt giác ngộ mới biết.
Phật Thích-ca Mâu-ni khuyên:
"Có bốn hiện tượng bất khả tư nghị, này tỉ-khâu, bốn trường hợp mà người ta không nên suy ngẫm, đó là: năng lực của một vị Phật (pi. buddhavisaya), Định lực (pi. jhāna-visaya), nghiệp lực (pi. kamma-visaya) và suy ngẫm, t́m hiểu thế giới (pi. lokacintā)…" (Tăng nhất bộ kinh, IV. 77).

Bất nhị      Non dualité        不二     Advaya
Không hai. Cũng gọi là Vô nhị, Ly lưỡng biên (ĺa hai bên). Đối với hết thảy hiện tượng không phân biệt, hoặc vượt lên các thứ phân biệt.

Bế quan bảo nhậm              閉關保任    
Bảo nhậm là dứt trừ tập khí thế gian và xuất thế gian dần dần. Ví như nằm mơ khóc chảy nước mắt, khi tĩnh dậy vẫn cần phải lau nước mắt mới sạch được. (Nằm mơ dụ cho mê, tĩnh dậy dụ cho ngộ). Thiền tông nói: “Bất phá trùng quan bất bế quan”, là sau khi ngộ rồi muốn bảo nhậm bổn lai diện mục của tự tánh nên mới cần phải bế quan.

Bỉ ngạn      autre rive    other shore    彼岸    pāra
1. Bỉ ngạn, tiếng Phạm pāra: Bờ bên kia, ngược lại với bờ bên này. Thế giới này là thế giới mê muội, gọi là bờ mê. Thế giới bên kia là thế giới giác ngộ, gọi là bến giác, cho nên bỉ ngạn là chỉ cho bến giác. Bờ bên này là cảnh giới sinh tử, mà ḍng chảy chính là những phiền năo, nghiệp chướng; bến bên kia là cảnh giới niết bàn, hoàn toàn vắng lặng.
2. Bỉ ngạn, tiếng Phạm pāramitā: Dịch âm là ba la mật đa, dịch nghĩa đầy đủ là đáo bỉ ngạn, tức là đến được bến bờ giải thoát, đạt được giác ngộ.

Bố tát              布薩    Uposatha
Là dịch âm từ tiếng Phạn, nghĩa là một h́nh thức hội họp. Theo giới luật nhà Phật, mỗi tháng có hai kỳ Bố tát để cử hành việc tụng giới (xưa kia, việc truyền giới cũng trong ngày Bố tát). Trước khi tụng giới phải qua việc tự kiểm thảo, vị Chủ tịch lâm thời hỏi Tăng chúng: “Trong nửa tháng qua, ai có phạm giới phải đứng ra tự bạch và sám hối với chúng?” Hỏi như vậy ba lần, nếu cả chúng im lặng th́ tuyên bố: “Tất cả giữ giới trong sạch”, rồi mới bắt đầu tụng giới.

Bố thí      Le don    donation    布施     Dāna
Thực hành hạnh Từ Bi, đem phúc lợi ban cho những người nghèo khổ, thiếu thốn những vật dụng như cơm ăn, áo mặc...
Phật giáo Đại thừa cho rằng Bố thí là một trong sáu pháp đưa đến giác ngộ (lục ba la mật) và ư nghĩa Bố thí được nâng cao hơn nhiều. Đó là, ngoài việc ban phát của cải, thức ăn uống (Tài thí), c̣n hai thứ bố thí nữa là Pháp thí (nói pháp cho người nghe) và Vô uư thí (cho người ta sự không sợ hăi).
Tóm lại, Bố thí là một phương pháp tu hành đem tài vật, thể lực, trí tuệ... cho người khác, v́ người mà tích luỹ công đức, tạo phúc thành trí, để cuối cùng được giải thoát.

Bồ Đề Đạt Ma      Boddhi Dharma    Bodhidharma    菩提達磨    Bodhidharma
470-543. Là Tổ thứ 28 sau Phật Thích-ca Mâu-ni của ḍng Thiền Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc.
Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Đế không thành, Bồ-đề-đạt-ma đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề-đạt-ma tu thiền định, chín năm quay mặt vào vách không nói; cũng tại đây, Huệ Khả đă gặp Bồ-đề-đạt-ma để lại truyền thuyết bất hủ về việc quyết tâm học đạo của ḿnh.

Bồ đề      boddhéité    perfect wisdom    菩提    Bodhi
Dịch là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền năo thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đă đạt được ở quả vị của các ngài.

Bồ đề đạo tràng              菩提道場    Bodhi-maṇḍa, Buddha-gayā
Bồ-đề đạo tràng, Bodhi-maṇḍa, Buddha-gayā.

Thuở Phật tại thế, vùng đất này là khu rừng già thuộc nước Ma-kiệt-đà, nằm phía nam thành Già-da.

Căn cứ kinh điển ghi chép, sau khi trải qua sáu năm tu khổ hạnh, Đức Thế Tôn đă đến vùng đất này, ngồi kiết-già trên bó cỏ Ku-sa, dưới cây Tất-bát-la cho đến khi chứng quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Thời gian sau, trong tâm thức người Phật tử, bó cỏ Ku-sa trở thành ṭa Kim cang; cây Tất-bát-la trở thành cây Bồ-đề; và vùng đất nơi Đức Phật thành đạo trở thành Đạo tràng Bồ-đề.

Sau Phật Niết-bàn 200 năm, vua A-dục lên ngôi, tin theo tà đạo, đă cho người đến Buddha-gayā chặt phá cây Bồ-đề, tuy nhiên, v́ chưa phá tận gốc, nên ít lâu cây lại mọc chồi mới, vua thấy vậy liền sanh tâm hối ngộ, ra lệnh cho quần thần xây dựng hàng rào bằng đá cao hơn 10 thước bao quanh thân cây để bảo vệ. Ngoài ra, vua A-dục c̣n dựng tháp kỷ niệm ở các vùng phụ cận Buddha-gayā, như chỗ Phật tu khổ hạnh, chỗ Phật nhận bát cháo của mục nữ Sujātā, chỗ Phật vượt sông hướng đến cây Bồ-đề…

Về sau, vua c̣n nhiều lần tu sửa và nâng cấp các bảo tháp, tuy nhiên, trải qua nhiều thời gian binh biến, đổi thay của định luật vô thường, thánh tích phần lớn chỉ c̣n lại gạch đá điêu tàn. Nay tại Bồ-đề đạo tràng chỉ c̣n lại:

1. Đại tháp Bồ-đề: C̣n gọi là Tháp Đại giác. Tháp có kiến trúc giống Kim tự tháp, cao khoảng 56 mét. Tháp này do vua A-dục sáng kiến. Năm 1870, Phật giáo Miến-điện đă tu bổ lại tháp này.

2. Cây Bồ-đề: Nằm phía Tây của Đại tháp, cao khoảng 12 mét. Con gái của vua A-dục là Tỳ-kheo-ni Saṃghamittā đă từng chiếc nhánh từ cây Bồ-đề này đem trồng ở Tích-lan. Về sau, cây Bồ-đề nguyên thủy bị Dị giáo phá hoại, người ta đă đem nhánh cây từ Tích Lan về trồng lại ở Bồ-đề đạo tràng, tức là cây Bồ-đề hiện nay.

3. Ṭa Kim cang: Nằm ngay dưới cây Bồ-đề, là chỗ Đức Phật đă ngồi thiền định cho đến khi chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Bồ đề tâm      aspiration à l'Eveil    aspiration for enlightenment    菩提心    bodhi-citta
Bồ-đề tâm, nói đủ là vô thượng bồ-đề tâm, hay a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề tâm (Skt. anuttara-samyak-saṃbodhi-citta), tức tâm nguyện thành tựu sự giác ngộ tối thượng. Đại trí độ (Đại 25, tr. 362c28): «Bồ-tát sơ phát tâm, lấy vô thượng Bồ-đề làm đối tượng, nói rằng: Mong tôi sẽ thành Phật. Đó gọi là bồ-đề tâm.» Bồ tát Di-lặc nói với Thiện Tài: «Bồ-đề tâm là hạt giống của hết thảy Phật pháp. Bồ-đề tâm là ruộng phước v́ nuôi lớn pháp bạch tịnh. Bồ-đề tâm là cơi đất lớn, v́ nâng đỡ hết thảy thế gian. Bồ đề tâm là tịnh thủy, v́ rửa sạch tất cả cáu bợn phiền năo…»
Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy ḿnh đang sống trong cảnh tối tăm, giữa đọa đày khổ nhục, mong t́m một con đường sáng không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà c̣n là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ. Bồ-đề tâm, đó là ư chí kiên cường bất khuất của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. «Vui cười ǵ, thích thú ǵ, giữa ngọn lửa không ngừng thiêu đốt ? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi t́m ngọn đuốc? (Kinh Trường A-hàm»

Bồ đề thụ      Arbre de la Bodhi    Bodhi tree    菩提樹    bodhi druma
Cây bồ đề, nơi mà Đức Phật đă giác ngộ giải thoát.

Bồ tát      Bodhisattva    Bodhisattva    菩薩    Bodhisattva
Bồ Tát là lối viết tắt của Bồ-đề-tát-đỏa, dịch ư là Giác hữu t́nh (chúng sanh hữu t́nh đă giác ngộ và giúp cho chúng sanh hữu t́nh khác cũng được giác ngộ như ḿnh), hoặc Đại sĩ.
Bồ Tát là người có ḷng Từ Bi đi song song với Trí huệ. Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lănh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức ḿnh cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ tát bắt đầu bằng phát tâm Bồ-đề và giữ Bồ Tát hạnh nguyện. Hành tŕnh tu học của Bồ Tát theo kinh Hoa Nghiêm th́ có 52 quả vị gồm Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập địa và hai quả vị cuối cùng là Đẳng giác và Diệu giác.

Bồ Tát Địa Tạng      Bodhisattva Ksitigarbha    Ksitigarbha Bodhisattva    地藏菩薩    Kṣitigarbha Bodhisattva
Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa.
Căn cứ kinh điển ghi chép th́ Bồ-tát Địa Tạng đă nhận lời phó chúc của Đức Thế Tôn, đảm trách việc giáo hóa, cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo trong khoảng thời gian sau khi Đức Thích Tôn nhập niết-bàn và trước trước khi Đức Di-lặc thành Phật, với lời thề nguyện: “Nếu địa ngục chưa hết chúng sinh đau khổ th́ sẽ không thành Phật, chừng nào độ hết chúng sinh th́ mới chứng quả Bồ-đề”. Bởi do lời thề nguyện đó nên ngài được tôn xưng là Đại Nguyện Bồ-tát.
Bồ tát thường tùy nguyện ứng hiện vào thế giới Ta-bà bằng nhiều h́nh tướng sai khác để hóa độ chúng sinh. Tuy nhiên đa phần chúng ta biết đến Ngài qua h́nh ảnh một vị Tỳ-kheo thân tướng trang nghiêm, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm hạt minh châu, đầu đội mũ tỳ lư quán đảnh đứng hoặc ngồi trên con Đế thính. Sở dĩ Ngài hiện thân tướng Tỳ-kheo, do v́ bản nguyện của Ngài là cứu độ chúng sinh ra khỏi cảnh giới sinh tử, nên h́nh ảnh ngài là một con người giải thoát (xuất gia). Tay phải cầm tích trượng, trên đầu tích trượng có mười hai khoen để nói lên ư nghĩa, ngài luôn dùng pháp Thập nhị nhân duyên để giáo hóa chúng sinh. Tay trái cầm hạt minh châu biểu thị trí tuệ. Bồ tát với trí tuệ rộng lớn thường soi sáng tất cả chốn u minh khiến cho chúng sinh hiện đang bị giam cầm trong ngục tối trông thấy ánh sáng đều được thoát ngục h́nh. Bồ tát cỡi con Đế thính, Đế thính là con linh thú, khi mọp xuống đất trong giây lát th́ biết rơ tất cả sự vật trong trời đất. Bồ tát cỡi con Đế thính dụ cho ngài là vị đă nhiếp tâm thanh tịnh, an lập các pháp thức thành tựu cảnh giới thiền định.

Bồ Tát Hộ Pháp      Bodhisattva Skanda    Skanda Bodhisattva    韋馱天    Skanda
Skanda là 1 trong 8 vị Đại tướng quân trời Tăng trưởng phương Nam, đồng thời là người đứng đầu 32 vị tướng quân dưới quyền Tứ thiên vương. Vị thần này sinh ra đă thông minh, sớm ĺa dục thế gian, tu phạm hạnh đồng chân thanh tịnh. Vị thần này đă từng phát nguyện với Đức Phật rằng, nếu người nào hành tŕ chánh pháp, tụng đọc thần chú, th́ sẽ được bảo hộ cho an ổn, thoát khỏi những hiểm nguy và những ảnh hưởng xấu liên quan đến việc tu học.

Do chuyên trách bảo vệ chánh pháp và hộ tŕ cho những ai tu tập theo Phật giáo nên thường gọi là Bồ-tát Hộ Pháp.

Trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, Bồ-tát Hộ Pháp (Dhamrmapāla Bodhisattva) là danh từ chung chỉ cho tất cả những người bảo vệ và hộ tŕ chánh pháp.



Trang : 1  2  3