Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Từ Bi          compassion    慈悲    maitrya
Quan tâm, lo lắng, thương yêu tất cả chúng sanh.
Từ bi là tâm niệm của chư Phật, là cánh cửa mở ra Phật đạo.
Kinh Niết-bàn Nam bản nói : “Tất cả các bậc Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, chư Phật Như lai đều lấy tâm từ bi làm gốc rễ cho mọi thiện căn”.
Kinh Quán vô lượng thọ nói: “Tâm của Phật chính là tâm đại từ bi, thương yêu tất cả mọi loài chúng sanh mà không cần một điều kiện nào”.
Luận Đại trí độ nói: “Từ bi là nền tảng căn bản của con đường thành Phật, v́ tâm từ bi là một thứ sức mạnh, cho dù trải qua vô lượng a-tăng-kỳ kiếp sinh tử, tâm này vẫn không mất”.
Luận Thập trụ tỳ-bà-sa nói: “Tất cả chư Phật Như Lai đều sinh ra từ tâm đại bi. Cho nên, bước đầu tiên của quá tŕnh tu hành Phật đạo là lấy Ngũ đ́nh tâm quán để đối trị những tâm ư loạn động, quán từ bi để đối trị tâm sân hận… từ từ tu hành phát triển lên. Hoặc tu tập bốn tâm vô lượng, hoặc tu thập hạnh, hay tu tập bất cứ pháp môn ǵ th́ cũng không thể thiếu tâm từ bi, thương yêu tất cả muôn loài. Từ bi và trí tuệ là biểu hiện đạo đức và giác ngộ của Phật pháp. Trong khi đó, Bồ-tát Quán thế âm tượng trưng cho tâm từ bi của Phật A-di-đà, Bồ-tát Phổ hiền tượng trưng cho tâm từ bi của Phật Thích-ca”.
Từ bi trong đạo Phật bao gồm những ư nghĩa sau đây:
1. Trừ khổ - ban vui: Tâm từ là bạt trừ nỗi khổ cho chúng; tâm bi là đem đến niềm vui hạnh phúc cho chúng sanh, hoặc ngược lại từ là ban vui, bi là cứu khổ.
Kinh Niết-bàn nói: “Làm cho chúng sanh nhổ trừ mọi việc không đưa tới lợi ích, gọi là đại từ; mong muốn đem đến cho chúng sanh vô lượng lợi ích an lạc, gọi là đại bi”.
Luận Đại trí độ cũng nói: “Đại từ là cho chúng sanh niềm vui; đại bi là giúp chúng sanh hết khổ”.
2. Ba duyên từ bi (ba cấp bậc của tâm từ bi):
- Một là, chúng sanh duyên từ: Chúng sanh là đối tượng của tâm từ bi. Bồ-tát quán chúng v́ muốn làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên tâm từ lấy chúng sanh là đối tượng, từ chúng sanh mà hiện khởi, y trên chúng sanh mà diệu dụng, gọi là chúng sanh duyên từ, tức từ bi tâm lấy chúng sanh làm đối tượng.
- Hai là, pháp duyên từ, đó: Quán chiếu pháp, thấy rơ bản chất hư huyễn, bất thực của chúng, nhân đó Bồ-tát khởi tâm từ bi, gọi là pháp duyên từ. Các bậc Thánh hiền đă phá trừ được cái tướng chấp ngă, không c̣n thấy tướng dị diệt giữa ta và người, quán thấy tất cả chúng sanh chỉ là cái thân vay mượn năm uẩn hoà hợp mà thành, từ đó khởi ḷng từ bi. Nói một cách khác, tất cả chúng sanh ở đây v́ không biết các pháp là Không, cho nên khởi lên vọng tưởng tham muốn; các bậc Thánh hiền thấy chúng sanh như vậy rất lấy làm thương xót, liền khởi ḷng từ bi mong muốn làm cho chúng sanh được vui giải thoát.
- Ba là, vô duyên từ: Cứu cánh là tâm từ bi tuyệt đối, khởi lên không do bởi điều kiện, gọi là vô duyên từ. Tâm của chư Phật không trụ nơi pháp có tính hữu vi hay vô vi, không trụ nơi quá khứ, hiện tại, tương lai, biết rơ các pháp vốn không thật, chỉ là cái tướng điên đảo hư nguỵ giả dối mà thôi, cho nên tâm của chư Phật không duyên vào đâu cả, không duyên vào đâu hết mà khởi tâm từ bi. Cái tâm từ bi không điều kiện ấy gọi là tâm Phật. Phật thương chúng sanh không thấy, không biết thật tướng của các pháp, tương lai sẽ đoạ lạc năm đường; thương chúng sanh cứ măi chấp trước, bám víu vào các pháp, phân biệt thủ xả; v́ vậy, Phật khai thị, giáo hoá cho chúng sanh có được trí tuệ để thấy được tướng thật của các pháp.