Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17 

Chánh tinh tiến          correct effort    正精進    samyak-prahāṇāni
C̣n gọi là Chánh phương tiện. Phát nguyện nổ lực đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện đă sanh; ngăn chặn những pháp bất thiện chưa sanh, không cho pháp bất thiện h́nh thành; những pháp thiện chưa sanh th́ t́m cách cho nó phát sanh; những pháp thiện đă sanh rồi th́ nuôi dưỡng, khiến cho ngày thêm lớn mạnh.
Tinh tiến là siêng năng. Chánh tinh tiến là siêng năng làm việc tốt, những việc lợi ḿnh, lợi người và cùng đi đến an lạc, hạnh phúc chân chánh.

Chiêu-đề Tăng               招提僧    catuddisā-saṅgha
Tăng du hành bốn phương, không trú xứ nhất định.

Chính tính ly sinh              正性離生    samyaktva-nyāma
Chính tính ly sinh (Phạn samyaktva-nyāma, Tạng yaṅ-dag-par skyon-med-pa):
Tên gọi khác của Kiến đạo.
Chính tính chỉ cho Thánh đạo vô lậu. Ly sinh chỉ đoạn trừ phiền năo khởi lên do phân biệt. Cũng có thuyết giải thích Ly sinh là chỉ sự thoát ly đời sống phàm phu. Bởi v́ khi nhập vào địa vị Kiến đạo th́ chứng đắc được Chính tính thánh đạo Niết-bàn, viễn ly đời sống phiền năo, cho nên gọi là Chính tính ly sinh.
Câu-xá luận, quyển 23, nói: ‘Chính tính chính là Niết-bàn, hoặc nói Chính là là Thánh đạo vô lậu, Sinh là phiền năo, Thánh đạo có khả năng siêu việt phiền năo nên gọi là Ly sinh’.
Phát trí luận, quyển 1, nói: ‘Như vậy, tâm và tâm sở pháp là Đẳng vô gián. Xả Dị sinh tính, đắc Thánh tính, xả Tà tính đắc Chính tính, nên nhập vào Chính tính ly sinh, đó gọi là Thế đệ nhất pháp’.
Đại Tỳ-bà-xa luận, quyển 3, cũng thuyết minh rơ ràng về ư nghĩa của Chính tính ly sinh.
Tóm lại, Chính tính là Niết-bàn, Thánh đạo, bởi v́ tính của nó chân chính, thuần tịnh không một chút nhiễm ô. Ly sinh, chữ sinh ở đây là tên gọi khác của phiền năo, hoặc chỉ cho thiện căn chưa chín muồi, khiến cho chúng sanh hữu t́nh luân hồi trong sinh tử. Chứng được niết-bàn th́ thoát ly sinh tử phiền năo, trí vô lậu thánh đạo th́ siêu việt thiện căn chưa chín muồi, cho nên gọi là Chính tính lư sinh.
Nói một cách khái quát th́ không những Kiến đạo mà ngay cả Tu đạo và Vô học đạo cũng có nghĩa Chính tính ly sinh, nhưng vị Kiến đạo là địa vị đầu tiên, mang nhiều ư nghĩa hơn so với các vị khác, cho nên mới nói Chính tính ly sinh là tên gọi khác của Kiến đạo.
Cách dịch xưa chỉ dịch là Chính định, hoặc Ly sinh. Các nhà phiên dịch ngày nay đều thống nhất dịch là Chính tính ly sinh, có khi dịch là Thánh tính.
Du-già luận kư, quyển 13, nói rằng: Chính tính cũng có tên là Thánh tính, là ngược lại Tà tính, tức tính của phàm phu. Khi nhập vào địa vị Kiến đạo th́ xả Tà tính đắc Chính tính, có khả năng diệt trừ và thoát ly sự thọ nhận sinh tử không giới hạn.
Cũng có thuyết giải thích: Nhớ nghĩ lư Chân như là Chính tính; đoạn kiến hoặc, thoát khỏi gốc rễ của sinh tử gọi là Ly sinh.


Chú Đại Bi - Đại Bi Tâm Đà La Ni      Mantra de la Grande Compassion    Great Compassion Mantra    大悲咒    Maha Karunika citta Dharani
Theo kinh Mahakarunikacitta, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokiteśvara Bodhisatva) đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhăn vô ngại đại bi tâm đà ra ni. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam Mô A rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn tŕ. Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa (na ma bà tát đa). Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca la đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da.Giá ra gía ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê lị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ Bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn tŕ. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dủ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn tŕ. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn tŕ bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ. Ta bà ha. Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.
Án. Tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha. (3 lần)

Dị sinh tính              異生性    prthag-janatva
Tính phàm phu.
Đặc tính khiến cho chúng sinh thành kẻ phàm phu. Đặc tính đó chính là vô minh (ngu si), cho nên vô minh là ư nghĩa của Dị sinh tính.
Xưa người ta dịch là Phàm phu tính (tính phàm phu).
Thành duy thức luận thuật kư, quyển 3, nói: ‘Dị có hai nghĩa là Biệt dị và Biến dị. Biệt dị chỉ cho phàm phu thọ sinh khác nhau trong năm đường (địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh, người, trời); Biến dị chỉ cho phàm phu do v́ trải qua nhiều loại chuyển biến thọ sinh khác nhau mà khởi lên những tà kiến sai biệt. Do đó, có thể nói rằng, Dị sinh là những sinh loại khác hẳn với Thánh giả. Tính chất làm các sinh loại khác với Thánh giả là ‘thú’ và ‘kiến’, nghĩa là sự thọ sinh thú hướng đến năm đường và chất chứa kiến giải sai lầm, tính chất đó được gọi là Dị sinh tính’.
Đại Tỳ-bà-sa luận, quyển 45, ghi: ‘Những tính chất khiến cho chúng sinh hữu t́nh phát khởi những nhận thức khác nhau, phiền năo khác nhau, tạo nghiệp khác nhau, thọ quả báo khác nhau, thú sinh đến những cảnh giới khác nhau… th́ gọi Dị sinh tính’.


Dị thục              異熟    vipāka
Từ dùng để chỉ chung cho quả báo của cái nhân thiện hay ác đă tạo ra từ đời trước. V́ quả khi chín (thục) th́ tính chất lại khác (dị) với nhân nên gọi là Dị thục.
Kết quả đă chín (dị thục) của nghiệp thiện và bất thiện.
Do nghiệp nhân th́ có thiện, có ác, nhưng quả báo th́ có đủ các tính chất vô kư, phi thiện, phi ác; và do thụ thuộc vào những tác nhân khác loại mà đưa tới sự chín muồi, nên gọi là Dị thục.
Câu-xá luận nói: ‘Khi nghiệp đă tạo đi đến thời gian cho kết quả, nó biến thái rồi mới chín, cho nên gọi là Dị thục. Nghĩa là, nghiệp sau khi được nấu chín (tức là đến lúc phát sinh quả báo), cái phát sinh từ đó được gọi là dị thục. Nói cách khác, khi quả là cái đă chín, nó được gọi là dị thục sinh. Quả báo có được khác loại với nghiệp nhân, v́ nó đă được nấu chín (đă biến thái), nên gọi là Dị dục’.
Thành Duy thức luận thuật kư nói Dị thục có ba nghĩa:
1. Biến dị thục: Nghĩa là khi nghiệp nhân đă tạo đi đến thời gian cho kết quả, nó đă biến thái rồi (được nấu chín rồi).
2. Dị thời thục: Nghĩa là nghiệp nhân phải cần có thời gian mới cho kết quả (quả cần có thời gian mới chín).
3. Dị loại thục: Quả khi đă chín khác loại với nhân, v́ nhân đă bị nấu chín.
Thức A-lại-da c̣n gọi là Dị thục thức.

Dị thục nhân              異熟因    vipāka-hetu
Nghiệp nhân đưa tới quả dị thục.
Câu-xá luận nói: ‘Duy chỉ các pháp thiện và bất thiện có nhân dị thục’.
Dị thục nhân, đó là các pháp bất thiện, và thiện hữu lậu, mà tự thể của chúng được bảo tồn, v́ trong tương lai chúng dẫn đến quả dị thục, đến t́nh trạng chín muồi.
Những ǵ là hữu lậu có tính thiện và bất thiện là dị thục nhân; c̣n những ǵ vô kư do năng lực yếu kém không thể đưa tới dị thục.


Dị thục quả              異熟果    vipāka-phala
Dị thục quả là quả báo ứng với nghiệp nhân thiện ác (dị thục nhân) đă gây. Đặc trưng của Dị thục quả là vô phú vô kư, tức không hẳn là thiện hay ác là do biến hành nhân và đồng loại nhân sinh ra và thuộc loại quả khác.
Cái gọi là “nhân th́ có thiện, ác, quả chỉ là vô kư” chính là quan hệ giữa Dị thục nhân và Dị thục quả vậy.


Dị thục sinh              異熟生    vipāka-svabhāva
Tập khí của dị thục làm điều kiện như là tăng thượng để chiêu cảm thức thứ 8, do đáp ứng thế lực của nghiệp dắc dẫn và do thường hằng tương tục, nên được gọi là Dị thục. Nếu chiêu cảm sáu thức trước để đáp ứng nghiệp được thành măn, xuất hiện từ Dị thục, được gọi là Dị thục sinh.
Tạp tập luận, quyển 5, ghi : “Duy chỉ A-lại-da và các pháp tương ưng là Dị thục. Ngoài ra, là Dị thục sinh... V́ xuất sinh từ Dị thục.”
Câu-xá luận, quyển 2, ghi : “Được sản sinh do bởi nhân là Dị thục nên gọi là Dị thục sinh... Hoặc nghiệp đă được tạo tác khi đạt đến kết quả th́ biến thái để chín muồi nên gọi là Dị thục. Quả được sản sinh từ đó nên gọi là Dị thục sinh.”

Dị thục tập khí              異熟習氣    
Chỉ cho nghiệp chủng tử (hạt giống nghiệp) có năng lực đưa tới quả báo Dị thục trong ba cơi. Nghiệp chủng tử này là do nghiệp thiện, ác hữu lậu của sáu thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư) huân tập trong thức thứ 8 mà sinh ra.

Tập khí là tên gọi khác của Chủng tử, v́ nó (tức Chủng tử) bao hàm ư nghĩa huân tập, cho nên gọi là Tập khí.

Nghiệp chủng tử này là hạt giống của Tư tâm sở thiện, ác tương ứng với thức thứ 6, làm tăng thượng duyên chiêu cảm quả Dị thục thức thứ 8, mà Dị thục thức thứ 8 chính là quả thể tổng báo của tất cả chúng sinh hữu t́nh. Chủng tử này có hai công năng là tự nó sinh hiện hành và giúp đỡ các chủng tử vô kư Dị thục khác sinh khởi. Trong đó, chủng tử tự sinh hiện hành gọi là Đẳng lưu tập khí; chủng tử giúp đỡ các chủng tử vô kư Dị thục khác hiện hành gọi là Dị thục tập khí. Tuy nhiên, đây là cùng một thể mà có hai tác dụng, chứ không phải ngoài Đẳng lưu tập khí c̣n có thể riêng biệt.

Cái gọi là giúp đỡ quả vô kư khác sinh khởi là chỉ cho thức thứ 8 tổng báo và sáu thức trước biệt báo. C̣n thức thứ 7 chỉ là vô kư, cho nên không phải là nhân Dị thục, lại có tính chất che lấp Thánh đạo nên cũng chẳng phải là quả Dị thục.

Ngoài ta, tổng quả thức thứ 8 gọi là Dị thục hoặc Chân dị thục; biệt quả sáu thức trước gọi là Dị thục sinh. Dị thục và Dị thục sinh gọi chung là Dị thục quả.

Danh ngôn tập khí              名言習氣    abhilāpavāsanā
Danh ngôn tập khí: Chủng tử trực tiếp của từng pháp hữu vi cá biệt. Danh ngôn có hai: Một, danh ngôn biểu nghĩa, đó là sự sai biệt của âm thanh chuyển tải ư nghĩa. Hai, danh ngôn hiển cảnh, tức tâm, tâm sở pháp nhận thức đối tượng cá biệt. Tùy theo hai danh ngôn mà chủng tử được huận tập thành để làm nhân duyên cho từng pháp hữu vi cá biệt.
“Khi một đối tượng nhận thức được lưu trữ trong kho chứa của thức để sau này có thể truy cập như là hoài niệm hay kinh nghiệm, nó được lưu trữ với một tên gọi hay danh. Ảnh tượng được lưu trữ của nó bấy giờ là công năng tiềm thế, tồn tại ở đó cho đến khi hội đủ điều kiện th́ tái hiện trở lại. Công năng ấy được gọi là danh ngôn tập khí, tức chủng tử được tích lũy dưới dạng danh ngôn.” (Thích Tuệ Sỹ)

Diệt tận định          Concentration of cessation    滅盡定     Nirodhasamāpatti
Cũng gọi Diệt thụ tưởng định, Diệt tận tam muội.
Định Diệt tận (diệt hết).
Cảnh giới Thiền định trong đó mọi hoạt động tâm lư đều bị diệt hết và hành giả hoàn toàn ở trong trạng thái vô tâm. Diệt tận định và Vô tưởng định gọi chung là hai định Vô tâm. Nhưng Vô tưởng định là định của phàm phu chứng được, c̣n Diệt tận định th́ Phật và các bậc A la hán giải thoát hoàn toàn do xa ĺa chướng ngại của định mà chứng được, tức là chư Phật, A la hán dùng sức thắng giải của hiện pháp Niết bàn mà tu định này.

Giải thoát      Libération    Liberation    解脫    mokṣa, vimokṣa, mukti, vimukti, pi. vimutti
Nghĩa là đạt tự do sau khi buông xả tất cả những trói buộc trong cuộc sống.
Phàm tất cả cảm thọ ảnh hưởng sự khổ vui của thân tâm đều được giải tỏa, mà đạt đến chỗ sanh tử tự do, chẳng bị thời gian không gian hạn chế, mới là chân giải thoát.

Hữu đỉnh thiên              有頂天    Bhavāgra
Chỉ Hữu đỉnh thiên, cơi cao nhất trong Tam giới, tức cơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tầng thứ tư của vô sắc định.

Hữu chi tập khí              有支習氣    bhavāṅgavāsanāprabheda
C̣n gọi là Nghiệp chủng tử, Dị thục tập khí, Hữu chi huân tập.
Chủng tử chiêu cảm đến quả báo trong ba cơi . 'Hữu' là 'tam hữu' (dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu); 'chi' là cái 'nhân'; 'tập khí' là phân khí, là thói quen đă được huân tập do hành động, tức là chủng tử.
Thành duy thức luận ghi: Hữu chi tập khí, đó là chủng tử của nghiệp dẫn đến dị thục trong ba cơi. Hữu chi có hai: Một, thiên hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái. Hai, bất thiện, nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hữu chi mà có sự sai biệt của các cơi do bởi nghiệp dị thục.

Hữu dư niết bàn          Nirvāṇa with remainder    有餘涅槃    Sopadhi-śeṣa-nirvāṇa
Niết-bàn c̣n sót lại chút ít quả báo. Những nguyên do của đau khổ đă gây ra trong quá khứ, khi được ḿnh đoạn tận và chuyển hoá, cố nhiên sẽ không c̣n đưa tới kết quả đau khổ nữa, nhưng mà cái ǵ tồn tại một thời gian thật lâu đến khi bị cắt đứt vẫn có thể c̣n tiếp tục một thời gian mới ngưng hẳn được. Cái mà ta bảo là đă ngưng hẳn đây không phải là thân ngũ uẩn của ḿnh mà chính là cái nghiệp báo c̣n lại. Ví dụ như khi ḿnh bật quạt máy lên th́ cánh quạt quay vù vù. Và khi ḿnh tắt quạt, tuy điện cắt rồi mà cánh quạt vẫn c̣n quay. Nghĩa là nhân đă đoạn rồi nhưng quả vẫn c̣n. Quả đây là những cái quả khổ c̣n rơi rớt lại chớ không phải là thân ngũ uẩn. Thân ngũ uẩn là khác mà cái quả khổ là khác. Ví dụ là tuy Phật đă giác ngộ rồi mà một hôm vẫn c̣n bị Đề-bà Đạt-đa lăn đá và bị thương nơi chân. Bị thương chân không phải là do ngũ uẩn. Phật không c̣n nghiệp nhân, tại sao c̣n nghiệp báo? Ḿnh chỉ có thể cắt nghĩa rằng tuy đă hết nghiệp nhân rồi nhưng cái đà nghiệp báo vẫn c̣n. Và như thế không phải có nghĩa là sau khi Phật nhập diệt rồi, Ngài mới đạt Niết-bàn Vô dư. Kinh đại thừa hay nói là bồ-tát cỡi trên sóng sanh tử mà đi. Cỡi trên sóng sanh tử là tuy có sanh có tử nhưng mà ḿnh không ch́m đắm trong sanh tử. Trong khi đi dạo chơi trong biển sanh tử các vị thánh nhân ấy đang an trú trong Vô dư Niết-bàn chứ không phải là đang ở trong Hữu dư. Tuy là có thân thể, tuy đang cỡi trên pháp thuyền mà đi nhưng họ không thấy khổ đau. V́ vậy Hữu dư ở đây không phải là thân ngũ uẩn mà là những cái khổ đau c̣n rơi rớt lại do cái đà nghiệp báo.

Hữu t́nh      êtres sensitifs ou êtres émotionnels     sentient being    有情     sattva
Chúng sinh có t́nh cảm.

Hiện pháp niết-bàn luận              現法涅槃論     
Một trong 62 kiến chấp của ngoại đạo (một trong 62 học thuyết của ngoại đạo Ấn độ xưa). Trong 62 kiến chấp này người ta phân ra 5 loại kiến chấp, gọi là Ngũ chủng hiện pháp niết-bàn luận.
Kiến chấp thứ 5 là Hiện pháp niết-bàn luận, chủ trương hưởng thụ năm thứ dục lạc hiện tại, cho đó là niết-bàn ở Dục giới; c̣n Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền là niết-bàn ở Sắc giới.

Hôn trầm              惛沈    styāna
Hôn trầm, đó là tính chất không hoạt động, không mềm dịu dễ dụng của tâm.
Luận nói: Hôn trầm là ǵ ? Đó là tính mông muội, tâm không điều ḥa và không kham nhiệm. Là một phần của si. Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho tất cả phiền năo và tùy phiền năo.

Huân tập               熏習    vāsanā、pravṛtti、abhyāsa
Lấy thế lực của pháp này xông ướp lên pháp khác. Giống như lấy hương liệu xông ướp đồ vật.
Đại thừa khởi tín luận giải thích: ‘Huân tập nghĩa là ǵ? Là giống như thế gian họ lấy hương thơm xông ướp cho áo quần. Áo quần vốn không có mùi hương, người ta lấy hương liệu huân tập cho nó th́ nó mới có mùi hương’.
Nói một cách khác, hồi xưa, để cho đồ vật có mùi thơm người ta để đồ vật đó trong chỗ có mùi thơm, lâu ngày, mùi thơm sẽ thấm vào đồ vật, khi lấy đồ vật ra dùng mùi thơm vẫn c̣n tồn tại một thời gian, cách làm đó gọi là huân tập. Phật giáo dùng từ ngữ này để chỉ cho các pháp do sức huân tập, do sự lập đi lập lại một thói quen lâu ngày mà thành tính.
Thành duy thức luận quyển 2, nói: ‘Làm cho chủng tử sinh trưởng gọi là Huân tập’.
Nhiếp luận thích nói: ‘Thế nào là huân tập (vāsanā)? Cái y nơi pháp kia mà cùng sinh cùng diệt; trong đó nó mang tính chất của nhân để sản sinh pháp kia; cái đó là sự huân tập. Như vừng được ướp hoa; vừng và hoa cùng sinh cùng diệt. Vừng mang trong nó cái tự thể làm nguyên nhân cho mùi thơm xuất hiện.
Y nơi các pháp tạp nhiễm kia, cùng sinh cùng diệt, thức a-ại-da sản sinh pháp kia, là nhân tính của các pháp. Đó gọi là huân tập.’


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17