Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17 

Bố thí      Le don    donation    布施     Dāna
Thực hành hạnh Từ Bi, đem phúc lợi ban cho những người nghèo khổ, thiếu thốn những vật dụng như cơm ăn, áo mặc...
Phật giáo Đại thừa cho rằng Bố thí là một trong sáu pháp đưa đến giác ngộ (lục ba la mật) và ư nghĩa Bố thí được nâng cao hơn nhiều. Đó là, ngoài việc ban phát của cải, thức ăn uống (Tài thí), c̣n hai thứ bố thí nữa là Pháp thí (nói pháp cho người nghe) và Vô uư thí (cho người ta sự không sợ hăi).
Tóm lại, Bố thí là một phương pháp tu hành đem tài vật, thể lực, trí tuệ... cho người khác, v́ người mà tích luỹ công đức, tạo phúc thành trí, để cuối cùng được giải thoát.

Bồ Đề Đạt Ma      Boddhi Dharma    Bodhidharma    菩提達磨    Bodhidharma
470-543. Là Tổ thứ 28 sau Phật Thích-ca Mâu-ni của ḍng Thiền Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc.
Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Đế không thành, Bồ-đề-đạt-ma đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề-đạt-ma tu thiền định, chín năm quay mặt vào vách không nói; cũng tại đây, Huệ Khả đă gặp Bồ-đề-đạt-ma để lại truyền thuyết bất hủ về việc quyết tâm học đạo của ḿnh.

Bồ đề đạo tràng              菩提道場    Bodhi-maṇḍa, Buddha-gayā
Bồ-đề đạo tràng, Bodhi-maṇḍa, Buddha-gayā.

Thuở Phật tại thế, vùng đất này là khu rừng già thuộc nước Ma-kiệt-đà, nằm phía nam thành Già-da.

Căn cứ kinh điển ghi chép, sau khi trải qua sáu năm tu khổ hạnh, Đức Thế Tôn đă đến vùng đất này, ngồi kiết-già trên bó cỏ Ku-sa, dưới cây Tất-bát-la cho đến khi chứng quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Thời gian sau, trong tâm thức người Phật tử, bó cỏ Ku-sa trở thành ṭa Kim cang; cây Tất-bát-la trở thành cây Bồ-đề; và vùng đất nơi Đức Phật thành đạo trở thành Đạo tràng Bồ-đề.

Sau Phật Niết-bàn 200 năm, vua A-dục lên ngôi, tin theo tà đạo, đă cho người đến Buddha-gayā chặt phá cây Bồ-đề, tuy nhiên, v́ chưa phá tận gốc, nên ít lâu cây lại mọc chồi mới, vua thấy vậy liền sanh tâm hối ngộ, ra lệnh cho quần thần xây dựng hàng rào bằng đá cao hơn 10 thước bao quanh thân cây để bảo vệ. Ngoài ra, vua A-dục c̣n dựng tháp kỷ niệm ở các vùng phụ cận Buddha-gayā, như chỗ Phật tu khổ hạnh, chỗ Phật nhận bát cháo của mục nữ Sujātā, chỗ Phật vượt sông hướng đến cây Bồ-đề…

Về sau, vua c̣n nhiều lần tu sửa và nâng cấp các bảo tháp, tuy nhiên, trải qua nhiều thời gian binh biến, đổi thay của định luật vô thường, thánh tích phần lớn chỉ c̣n lại gạch đá điêu tàn. Nay tại Bồ-đề đạo tràng chỉ c̣n lại:

1. Đại tháp Bồ-đề: C̣n gọi là Tháp Đại giác. Tháp có kiến trúc giống Kim tự tháp, cao khoảng 56 mét. Tháp này do vua A-dục sáng kiến. Năm 1870, Phật giáo Miến-điện đă tu bổ lại tháp này.

2. Cây Bồ-đề: Nằm phía Tây của Đại tháp, cao khoảng 12 mét. Con gái của vua A-dục là Tỳ-kheo-ni Saṃghamittā đă từng chiếc nhánh từ cây Bồ-đề này đem trồng ở Tích-lan. Về sau, cây Bồ-đề nguyên thủy bị Dị giáo phá hoại, người ta đă đem nhánh cây từ Tích Lan về trồng lại ở Bồ-đề đạo tràng, tức là cây Bồ-đề hiện nay.

3. Ṭa Kim cang: Nằm ngay dưới cây Bồ-đề, là chỗ Đức Phật đă ngồi thiền định cho đến khi chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Bồ đề tâm      aspiration à l'Eveil    aspiration for enlightenment    菩提心    bodhi-citta
Bồ-đề tâm, nói đủ là vô thượng bồ-đề tâm, hay a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề tâm (Skt. anuttara-samyak-saṃbodhi-citta), tức tâm nguyện thành tựu sự giác ngộ tối thượng. Đại trí độ (Đại 25, tr. 362c28): «Bồ-tát sơ phát tâm, lấy vô thượng Bồ-đề làm đối tượng, nói rằng: Mong tôi sẽ thành Phật. Đó gọi là bồ-đề tâm.» Bồ tát Di-lặc nói với Thiện Tài: «Bồ-đề tâm là hạt giống của hết thảy Phật pháp. Bồ-đề tâm là ruộng phước v́ nuôi lớn pháp bạch tịnh. Bồ-đề tâm là cơi đất lớn, v́ nâng đỡ hết thảy thế gian. Bồ đề tâm là tịnh thủy, v́ rửa sạch tất cả cáu bợn phiền năo…»
Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy ḿnh đang sống trong cảnh tối tăm, giữa đọa đày khổ nhục, mong t́m một con đường sáng không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà c̣n là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ. Bồ-đề tâm, đó là ư chí kiên cường bất khuất của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. «Vui cười ǵ, thích thú ǵ, giữa ngọn lửa không ngừng thiêu đốt ? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi t́m ngọn đuốc? (Kinh Trường A-hàm»

Bồ đề thụ      Arbre de la Bodhi    Bodhi tree    菩提樹    bodhi druma
Cây bồ đề, nơi mà Đức Phật đă giác ngộ giải thoát.

Bồ tát      Bodhisattva    Bodhisattva    菩薩    Bodhisattva
Bồ Tát là lối viết tắt của Bồ-đề-tát-đỏa, dịch ư là Giác hữu t́nh (chúng sanh hữu t́nh đă giác ngộ và giúp cho chúng sanh hữu t́nh khác cũng được giác ngộ như ḿnh), hoặc Đại sĩ.
Bồ Tát là người có ḷng Từ Bi đi song song với Trí huệ. Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lănh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức ḿnh cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ tát bắt đầu bằng phát tâm Bồ-đề và giữ Bồ Tát hạnh nguyện. Hành tŕnh tu học của Bồ Tát theo kinh Hoa Nghiêm th́ có 52 quả vị gồm Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập địa và hai quả vị cuối cùng là Đẳng giác và Diệu giác.

Bồ Tát Địa Tạng      Bodhisattva Ksitigarbha    Ksitigarbha Bodhisattva    地藏菩薩    Kṣitigarbha Bodhisattva
Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa.
Căn cứ kinh điển ghi chép th́ Bồ-tát Địa Tạng đă nhận lời phó chúc của Đức Thế Tôn, đảm trách việc giáo hóa, cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo trong khoảng thời gian sau khi Đức Thích Tôn nhập niết-bàn và trước trước khi Đức Di-lặc thành Phật, với lời thề nguyện: “Nếu địa ngục chưa hết chúng sinh đau khổ th́ sẽ không thành Phật, chừng nào độ hết chúng sinh th́ mới chứng quả Bồ-đề”. Bởi do lời thề nguyện đó nên ngài được tôn xưng là Đại Nguyện Bồ-tát.
Bồ tát thường tùy nguyện ứng hiện vào thế giới Ta-bà bằng nhiều h́nh tướng sai khác để hóa độ chúng sinh. Tuy nhiên đa phần chúng ta biết đến Ngài qua h́nh ảnh một vị Tỳ-kheo thân tướng trang nghiêm, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm hạt minh châu, đầu đội mũ tỳ lư quán đảnh đứng hoặc ngồi trên con Đế thính. Sở dĩ Ngài hiện thân tướng Tỳ-kheo, do v́ bản nguyện của Ngài là cứu độ chúng sinh ra khỏi cảnh giới sinh tử, nên h́nh ảnh ngài là một con người giải thoát (xuất gia). Tay phải cầm tích trượng, trên đầu tích trượng có mười hai khoen để nói lên ư nghĩa, ngài luôn dùng pháp Thập nhị nhân duyên để giáo hóa chúng sinh. Tay trái cầm hạt minh châu biểu thị trí tuệ. Bồ tát với trí tuệ rộng lớn thường soi sáng tất cả chốn u minh khiến cho chúng sinh hiện đang bị giam cầm trong ngục tối trông thấy ánh sáng đều được thoát ngục h́nh. Bồ tát cỡi con Đế thính, Đế thính là con linh thú, khi mọp xuống đất trong giây lát th́ biết rơ tất cả sự vật trong trời đất. Bồ tát cỡi con Đế thính dụ cho ngài là vị đă nhiếp tâm thanh tịnh, an lập các pháp thức thành tựu cảnh giới thiền định.

Bồ Tát Hộ Pháp      Bodhisattva Skanda    Skanda Bodhisattva    韋馱天    Skanda
Skanda là 1 trong 8 vị Đại tướng quân trời Tăng trưởng phương Nam, đồng thời là người đứng đầu 32 vị tướng quân dưới quyền Tứ thiên vương. Vị thần này sinh ra đă thông minh, sớm ĺa dục thế gian, tu phạm hạnh đồng chân thanh tịnh. Vị thần này đă từng phát nguyện với Đức Phật rằng, nếu người nào hành tŕ chánh pháp, tụng đọc thần chú, th́ sẽ được bảo hộ cho an ổn, thoát khỏi những hiểm nguy và những ảnh hưởng xấu liên quan đến việc tu học.

Do chuyên trách bảo vệ chánh pháp và hộ tŕ cho những ai tu tập theo Phật giáo nên thường gọi là Bồ-tát Hộ Pháp.

Trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, Bồ-tát Hộ Pháp (Dhamrmapāla Bodhisattva) là danh từ chung chỉ cho tất cả những người bảo vệ và hộ tŕ chánh pháp.


Bồ Tát Phổ Hiền      Bodhisattva Samantabhadra        普賢菩薩    Samantabhadra Bodhisattva
Bồ-tát Phổ Hiền là vị Bồ-tát có hạnh nguyện rộng lớn. Hạnh ở đây có nghĩa là tất cả các hành động lợi tha, dù lớn hay nhỏ, nếu đem đến lợi ích, hạnh phúc và giác ngộ cho chúng sinh th́ Bồ-tát đều tích cực thực hiện. Nguyện là ước nguyện, mong ước, nghĩa là mong ước trên thành Phật đạo dưới hóa độ tất cả chúng sinh. Như vậy, ư nghĩa hạnh nguyện là tu tập muôn hạnh để mong cầu thành tựu Phật đạo hóa độ chúng sinh. Do đó, những ai mang hạnh nguyện làm lợi ích cho tha nhân, đưa mọi chúng sinh đến bến bờ giải thoát đều được gọi là Bồ-tát Phổ Hiền.

H́nh ảnh Bồ-tát ngồi trên lưng voi trắng biểu thị hạnh nguyện rộng lớn. Trong các loài thú có sức mạnh về chuyên chở th́ voi là loài mạnh hơn cả. Nó hay chuyên chở người và vật từ chỗ này sang chỗ khác. Bồ-tát Phổ Hiền cũng thế, dùng đại hạnh hóa độ chúng sinh, đưa họ từ bờ mê sang bến giác. Voi trắng c̣n biểu thị ư nghĩa Bồ-tát tuy lăn lộn trong trần thế ô nhiễm để hóa độ chúng sinh, nhưng ngài không vướng nhiễm bụi trần, tâm hoàn toàn trong sạch. Sáu ngà là trượng trưng cho sáu phương tiện, sáu công hạnh tu tập của chư vị Bồ-tát (lục độ ba-la-mật). Tóm thâu h́nh ảnh Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi trắng sáu ngà nói lên ư nghĩa ngài là vị Bồ-tát với tâm bồ-đề vững mạnh, tâm hoàn toàn trong sáng, khéo vận dụng lục độ ba-la-mật làm phương tiện để giáo hóa độ sinh.

Bồ Tát Quán Thế Âm      Bodhisattva Avaloskiteshvara    Avalokitesvara Bodhisattva     觀世音菩薩    Avalokiteśvara Bodhisattva
Quán Thế Âm là vị Bồ tát có hạnh nguyện đại từ, đại bi, thương yêu tất cả chúng sinh muôn loài như người mẹ thương yêu đứa con duy nhất của ḿnh. Ngài luôn quán sát, lắng nghe âm thanh kêu cứu, cầu nguyện của chúng sinh từ những nơi đau khổ để kịp thời đến cứu giúp.
Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn th́ Ngài thường vận dụng 14 năng lực vô úy để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính đáng khi nào chúng sinh thành tâm niệm đến danh hiệu của Ngài.
Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm th́ pháp môn tu của vị Bồ-tát nầy là Nhĩ Căn Viên Thông, nghĩa là tai Ngài có thể được sử dụng như năm giác quan khác. V́ vậy Ngài có thể hiện thân trong mọi h́nh dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi      Bodhisattva Manjushri         文殊師利    Mañjuśrī
Thường gọi tắt là Bồ Tát Văn Thù, là vị Bồ-tát có công đức vi diệu, luôn đem đến sự tốt đẹp vi diệu, luôn đem đến sự hạnh phúc, an lạc vi diệu, xứng đáng là con của bậc Pháp vương. Trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho trí tuệ. Ngài thường ngồi trên lưng Sư tử xanh, tay phải cầm kiếm sắc bén, tay trái cầm hoa sen xanh, hoặc cuốn kinh Bát-nhă, đôi khi là ngọc như ư. Tay phải của Ngài dương cao lên khỏi đầu là một lưỡi gươm đang bốc lửa mang hàm ư rằng chính lưỡi gươm vàng trí tuệ này sẽ chặt đứt tất cả những xiềng xích trói buộc của vô minh phiền năo đă cột chặt con người vào những khổ đau và bất hạnh của ṿng sinh tử luân hồi bất tận, đưa con người đến trí tuệ viên măn. Tay trái Ngài cầm hoa sen biểu thị cho đức tính đă đoạn trừ sạch mọi phiền năo và ngụ ư nói Bồ tát với tâm Từ Bi, tùy nguyện thị hiện vào cuộc đời để hóa độ chúng sinh nhưng không bị những nhiễm ô của cuộc đời làm vấy nhiễm mà luôn thuần nhất thanh tịnh; nhưng nếu Ngài cầm cuốn kinh Bát-nhă th́ biểu trưng cho sự tỉnh thức, giác ngộ. C̣n sư tử là biểu thị công năng và sức mạnh của trí tuệ - bởi sư tử là chúa tể của muôn thú có sức mạnh vĩ đại, mỗi khi rống lên muôn thú đều khiếp sợ - Bồ-tát do đă đạt được trí tuệ viên măn nên hay thuyết pháp phá dẹp các tà thuyết sai lạc. Văn Thù Sư Lợi là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ đạt được bằng phương tiện tri thức.

Ba dật đề      Fautes qui exigent l'expiation    Crimes which requires expiation    波逸提    Pāyattika
Là một trong những giới luật mà các tỳ kheo và tỳ kheo ni phải giữ. Nếu không giữ giới này th́ sẽ phạm tội nhẹ, có nghĩa là khi phạm các điều tội lỗi, nếu chịu sám hối th́ có thể diệt được tội, nếu không sám hối th́ sẽ rơi vào ngả ác.

Ba la mật      Perfection    Perfection    波羅蜜    pāramitā
Được dịch nghĩa là Đáo bỉ ngạn (zh. 到彼岸) tức là đến bờ giải thoát, Sự cứu cánh (zh. 事究竟) hay Đức tính hoàn hảo.

Ba loại Thiền      Trois démarches de méditations        三種禪    
Những pháp thiền nhằm đáp ứng ba loại căn cơ:
1. Như tu Ngũ đ́nh tâm quán, Tứ niệm xứ quán.v.v… Gọi là Tiểu thừa thiền.
2. Như tu Chỉ quán, Pháp giới quán, Duy Thức quán… Gọi là Đại thừa thiền.
3. Tham công án thoại đầu mà phát khởi nghi t́nh từ nghi đến ngộ chẳng có năng quán sở quán. Gọi là Tổ Sư Thiền.

Bát đảo              八倒    
Tám thứ chấp điên đảo. Chấp có “thường, lạc, ngă, tịnh” là thật có, ấy là bốn thứ điên đảo của phàm phu; chấp không có “thường, lạc, ngă, tịnh” là thật không, ấy là bốn thứ điên đảo của nhị thừa, nói chung là bát đảo.

Bát chánh đạo      Noble Sentier Octuple    Noble Eightfold Path    八正道    Aṣṭāṅgika-mārga
Con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ (sa. duḥkha), là chân lư cuối cùng của Tứ diệu đế.

Bát Chánh Đạo bao gồm:
1. Chánh kiến : Ǵn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lư vô ngă.
2. Chánh tư duy : Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ư nghĩa của bốn chân lư một cách không sai lầm.
3. Chánh ngữ : Không nói dối hay không nói phù phiếm.
4. Chánh nghiệp Tránh phạm giới luật.
5. Chánh mệnh : Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật) như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện.
6. Chánh tinh tiến : Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7. Chánh niệm : Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ư;
8. Chánh định : Tập trung tâm ư đạt bốn định xuất thế gian.


Bát công đức thuỷ          waters with eight attributes    八功德水    
Nước có đầy đủ 8 thứ công đức thù thắng. C̣n gọi là Bát vị thuỷ, Bát chi đức thuỷ, Bát định thuỷ.
Nước trong thế giới Tịnh độ của chư Phật có 8 thứ công đức: Trong trẻo, mát mẻ, đủ các vị ngon, mềm mại, thấm nhuần, an hoà, trừ được đói khát, nuôi lớn thiện căn.

Bát kỉnh pháp              八敬法    
Đây là điều kiện của Phật cho người nữ xuất gia.
1. Ni dù trăm hạ cũng phải lễ Tỳ kheo sơ hạ;
2. Không được mắng, báng Tỳ kheo;
3. Không được cử tội Tỳ kheo;
4. NI thọ giới Cụ túc phải thọ với hai bộ Tăng (nam, nữ);
5. Ni phạm tội Tăng tàn phải sám trừ với hai bộ Tăng;
6. Mỗi nửa tháng phải thỉnh cầu Tỳ kheo dạy bảo;
7. Kiết hạ an cư chẳng được cùng chung một chỗ với Tỳ kheo, cũng chẳng được quá xa chỗ ở của Tỳ kheo (đại khái cách 500m);
8. Giải hạ nên cầu Tỳ kheo chứng kiến ba thứ: Kiến, Văn, Nghi, để kiểm thảo.

Bát nhă      Sagesse    Wisdom    般若    prajñā
Dịch ư là tuệ, trí tuệ, minh, hiệt tuệ (tuệ sáng). Tức là trí tuệ chân thực nhờ tu tâm chính đạo và quán chiếu (nh́n sâu) vào các pháp mà có. Trí tuệ cao sâu, thấy suốt hết thảy sự vật và đạo lư.

Bát phong              八風    
Được, mất, khen, chê, vinh, nhục, khổ,vui.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17