Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Kiên cố lâm              堅固林    Śāla
Rừng cây Sa-la, c̣n gọi là Kiên lâm, Song thọ lâm, Hạc lâm. Theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3, th́ cây Sa-la vốn không tàn rụi sơ xác trong cả bốn mùa, v́ vậy mà dịch là Kiên cố.

Kim cang thừa              金剛乘    Vajra-yāna
C̣n gọi là Đăn-đặc-la phái (Tāntrika), Mật giáo.
Một trường phái tu học có ít nhiều ảnh hưởng Phật giáo, hoặc là một loại h́nh Phật giáo bị biến thái v́ những lư do nội tại lẫn ngoại tại. Một trường phái h́nh thành từ những vay mượn giáo lư Phật giáo và những tín ngưỡng dân gian cùng những tôn giáo ngoại đạo khác, tạo thành một hệ thống tín ngưỡng phức tạp, xa rời Phật giáo chính thống.
Kim cang thừa hay Mật giáo lấy Mật pháp và Chú pháp của Veda trong Hậu kỳ Bà-la-môn giáo làm ư nghĩa trọng yếu, h́nh thành vào khoảng thế kỷ đầu Tây lịch, đến thế kỷ thứ 5, thứ 6 Tây lịch lại h́nh thành thêm Ấn khế (mudrā) và Mạn-đà-la (maṇḍala).
Cơ sở để Mật giáo xác lập là Kinh đại nhậtKinh Kim cang đỉnh xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ thứ 7 Tây lịch. Bấy giờ, Mật giáo lấy Đại Nhật Như Lai (Mahāvaircana) làm chủ và thêm vào Đại Uy Đức Minh Vương (Yamāntaka), Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Amogha-pāśa) làm Chư tôn đặc hữu, đồng thời lấy Phật giáo truyền thống và chư tôn của Bà-la-môn giáo kết hợp tổ chức thành hệ thống hoá Mạn-đà-la, chế định các nghi thức, sử dụng Ấn khế và Minh chú để tổ chức trong các nghi quỹ.
Xem bài chi tiết ở đây


Kinh      Sûtra        經    Sūtra, Sutta)
Là tên gọi của các bài giảng của đức Phật.
Kinh ghi lại những ǵ chính đức Phật giảng dạy. Khởi đầu bộ kinh ta hay nghe câu “Tôi nghe như vầy…” (Như thị ngă văn 如是我聞, sa. evaṃ śrute mayā). Câu này tương truyền xuất phát từ A-nan-đà, một đệ tử của Phật. A-nan-đà là người có trí nhớ phi thường, đă thuật lại những lời Phật nói trong buổi Kết tập lần thứ nhất ngay sau khi Phật diệt độ. Sau câu này, thường thường kinh kể lại buổi nói chuyện đó gồm có người tham dự, nơi chốn, thời gian. Sau đó là những lời khai thị của Phật, có khi là những cuộc đối thoại sinh động. Thường thường lối hành văn của kinh giản đơn, dễ hiểu, có tính giáo khoa. Kinh hay lấy những thí dụ và so sánh, ẩn dụ. Có khi kinh nhắc lại quá đầy đủ các yếu tố trong bài giảng làm người đọc thấy rất trùng điệp. Mỗi một kinh là một bài riêng biệt, xử lí một vấn đề riêng biệt.
Các kinh độc lập quan trọng của Đại thừa là: Diệu pháp liên hoa kinh (sa. saddharmapuṇḍarīka), Nhập Lăng-già kinh (sa. laṅkāvatāra), Phổ diệu kinh (hay Thần thông du hí, sa. lalitavistara), Chính định vương kinh (sa. samādhirāja), Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (sa. sukhāvatī-vyūha), Hiền kiếp kinh (sa. bhadrakalpika), Phạm vơng kinh (sa. brahmajāla), Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (sa. buddhāvataṃsaka), Thắng Man kinh (sa. śrīmālādevī), A-di-đà kinh (sa. amitābha), Quán vô lượng thọ kinh (sa. amitāyurdhyāna), Duy-ma-cật sở thuyết (sa. vimalakīrti-nirdeśa), Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh (sa. śūraṅgama).

Kinh Đại Bát Nê Hoàn              大般泥洹經    Mahā-parinirvāṇa
Kinh Phật Thuyết Đại Bát Nê Hoàn trong bộ Niết Bàn là một bộ kinh tiêu biểu của Phật giáo Bắc truyền do Đại sư Pháp Hiển (380-418/423), thời Đông Tấn dịch, 6 quyển, được xếp vào Đại Chánh tạng ở quyển 12, kinh số 376, được gọi là kinh Đại Niết Bàn Nam bản.

Xem Kinh Đại Bát Nê Hoàn (dưới dạng PDF)


Kinh Diệu Pháp Liên Hoa      Sûtra du Lotus        妙法蓮華經    Saddharma-puṇḍarīka sūtra
Gồm 7 quyển, 28 phẩm, do ngài Kumārajīva dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại tạng kinh tập 9. Là một trong những bộ kinh chủ yếu của Phật giáo Đại thừa.

Diệu pháp hàm ư là giáo pháp nói trong bộ kinh mầu nhiệm không ǵ hơn; Liên hoa kinh ví dụ kinh điển thanh khiết hoàn mĩ.

Kinh Lăng Nghiêm      Sûtra Surangama        楞嚴經    Śūraṃgama-sūtra
Gọi đủ là Đại Phật đỉnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh Thủ lăng nghiêm kinh.

Kinh có 10 quyển, do sa môn Paramiti, người trung Thiên Trúc dịch vào đời Đường, được thu vào Đại tạng kinh, tập 19.

Thủ lăng nghiêm là tên của một loại thiền định mà đức Phật đă chứng được, cũng là tiếng gọi chung cho cả muôn hạnh.

Nội dung kinh này trước hết kể chuyện ngài A Nan ra ngoài thành khất thực, bị nàng Ma đăng già cám dỗ, mê hoặc đến nỗi gần mất giới thể. Đức Phật biết A Nan đang bị dâm thuật làm khốn, liền sai ngài Văn Thù Sư Lợi đem thần chú đến hộ tŕ. Sau khi Ngài A Nan trở về tinh xá, nàng Ma đăng già cũng theo đến. Khi ấy Đức Phật nói pháp chỉ dạy Ma đăng già và khiến nàng xuất gia học đạo. Phần nổi bật nhất trong kinh này là 25 pháp môn viên thông ở quyển 5, trong đó, pháp môn thứ 24 Bồ tát Đại Thế Chí tŕnh bày về pháp môn niệm Phật viên thông, rất thường được tông Tịnh độ dẫn chứng.

Kinh Lăng Nghiêm nói về các yếu chỉ của pháp Thiền, như: Khai thị tu thiền, Nhĩ căn viên thông, Ngũ uẩn ma cảnh,...

Kinh Phước Đức              福德經     Maha Mangala Sutta
Đây là những điều tôi được nghe hồi đức Thế Tôn c̣n cư trú gần thành Xá Vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn Kỳ Đà. Hôm đó, trời đă vào khuya, có một vị thiên gỉa hiện xuống thăm người, hào quang và vẻ đẹp của thiên gỉa làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, vị thiên gỉa xin tham vấn Người bằng một bài kệ:

"Thiên và nhân thao thức
Muốn biết về phước đức
Để sống đời an lành
Xin Thế Tôn chỉ dạy."
(và sau đây là lời đức Thế Tôn:)

"Lánh xa kẻ xấu ác
Được thân cận người hiền
Tôn kính bậc đáng kính
Là phước đức lớn nhất

"Sống trong môi trường tốt
Được tạo tác nhân lành
Được đi trên đường chánh
Là phước đức lớn nhất

"Có học, có nghề hay
Biết hành tŕ giới luật
Biết nói lời ái ngữ
Là phước đức lớn nhất

"Được cung phụng mẹ cha
Yêu thương gia đ́nh ḿnh
Được hành nghề thích hợp
Là phước đức lớn nhất

"Sống ngay thẳng, bố thí,
Giúp quyến thuộc, thân bằng
Hành xử không tỳ vết
Là phước đức lớn nhất

"Tránh không làm điều ác
Không say sưa nghiện ngập
Tinh cần làm việc lành
Là phước đức lớn nhất

"Biết khiêm cung lễ độ
Tri túc và biết ơn
Không bỏ dịp học đạo
Là phước đức lớn nhất

"Biết kiên tŕ, phục thiện
Thân cận giới xuất gia
Dự pháp đàm học hỏi
Là phước đức lớn nhất

"Sống tinh cần,tỉnh thức
Học chân lư nhiệm mầu
Thực chứng được Niết Bàn
Là phước đức lớn nhất

"Chung đụng trong nhân gian
Tâm không hề lay chuyển
Phiền năo hết, an nhiên,
Là phước đức lớn nhất

"Ai sống được như thế
Đi đâu cũng an toàn
Tới đâu cũng vững mạnh
Phước đức của tự thân."

Kinh Pháp Cú      Les vers du Dharma        法句經    Dhammapāda Sutra
Bản kinh thu chép những bài kệ do Đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành.
Hiện có bốn bản khác nhau:
1. Bản tiếng Pāli: có 26 phẩm, 423 bài tụng.
2. Bản Ưu đà na, tiếng Phạm, do Pháp Cứu sưu tập, sa-môn Duy-ḱ-na, người Thiên Trúc dịch sang tiếng Hán (bản dịch tiếng Việt do Tỳ theo Thích Nguyên Hùng và Thích Đồng Ngộ hợp dịch), gồm 2 quyển, 39 phẩm, 752 bài tụng).
3. Bản dịch Tây Tạng
4. Kinh Pháp tập yếu tụng, 4 quyển, do ngài Thiên Tức Tai dịch vào đời Tống.
Kinh Pháp cú là tác phẩm phản ánh sự thể nghiệm sâu sắc, đầy đủ về đời sống thực tiễn của con người, là cuốn sách nhập môn hay nhất của Phật giáo.

Kinh Từ Bi          Metta Sutta    慈經    Mettā-sutta
Kinh Từ Bi, Mettàsuta, là một bài kinh ngắn trong một tập kinh ngắn thuộc kinh tập (Suttanipàta), thuộc Tiểu bộ kinh (Khudakanikàya), kinh tạng Pàli.
Đây là bản kinh duy nhất trong kinh tạng Nikàya đặc biệt giới thiệu một nếp sống hành Từ hạnh, một pháp hành Giới, Định, Tuệ mà đối tượng an trú tâm là ḷng Từ vô lượng. Nếu Kinh Kim Cương Bát Nhă, và nhiều kinh khác thuộc Nikayà và hệ Phát triển (Đại thừa) tập chú vào công phu hành thiền quán (vipassara) phát triển trí tuệ để cắt đứt các kiết sử, lậu hoặc, th́ kinh Từ Bi giới thiệu công phu tập chú phát triển niệm Từ với tâm tỉnh giác (có chánh kiến, trí tuệ) cũng sẽ dẫn đến thành tựu sự dập tắt được các ngă tướng, từ đó dập tắt các lậu hoặc, chấm dứt sinh tử, luân hồi.

Lưỡng túc tôn              兩足尊    Dvipadottama
Cũng gọi Vô thượng lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn.
Tôn hiệu của đức Phật. Đấng có đầy đủ phước đức và trí tuệ, hiểu và thực hành đi đôi (giải hạnh tương ưng).
Ngoài ra, v́ Phật có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, thành tựu các pháp vô học vô lậu như Tận trí, Vô sinh trí và các pháp bất cộng như 10 lực, 4 vô sở uư, nên tôn xưng Ngài là bậc tôn quư nhất trong các loài chúng sinh 2 chân ở cơi người và cơi trời.

Lậu      infections     Leak    漏    Āsrava
Tên khác của phiền năo. Nghĩa đen của chữ 'lậu' có nghĩa ṛ rỉ, tiết ra ngoài. V́ chúng sinh sống trong phiền năo, cho nên từ 6 căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... thường tiết ra những tội lỗi, khiến phải sống chết trôi lăn trong 3 cơi, do đó mà phiền năo được gọi là Lậu.

Lộc Uyển      Parc des Gazelles    Mrgadava    鹿苑    Mṛgadāva
Gọi đủ là Lộc Dă Uyển: Vườn nai, nơi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên sau khi thành đạo, nay là Sārnāth, nằm cách thành phố Varanasi 6 cây số về mạn bắc, thuộc Bắc Ấn độ.

Kinh điển

Một thời, Phật trú trong vườn Lộc dă, Tiên nhơn trú xứ, nước Ba-la-nại. Bấy giờ Thế Tôn bảo năm vị Tỳ-kheo:
“Đây là Khổ Thánh đế, là pháp vốn chưa từng được nghe, khi được tư duy chân chánh, phát sanh nhăn, trí, minh, giác. Đây là Khổ tập, là nguyên nhân của khổ đau, chính là khát ái. Đây là Khổ diệt, tức niềm hạnh phúc sau khi đă diệt hết khổ và nguyên nhân của khổ, chính là Niết-bàn. Đây là Khổ diệt đạo tích Thánh đế, tức là con đường đưa đến Niết-bàn, chính là Thánh đạo tám chi, là pháp vốn chưa từng nghe, khi được tư duy chân chánh, phát sanh nhăn, trí, minh, giác.” (Kinh Chuyển Pháp Luân)

Vị trí địa lư

Thời Phật tại thế, Lộc dă uyển là một khu rừng thuộc quốc vương Ba-la-nại, nay thuộc thành phố Sāranāth, bang Varanasi, niềm bắc Ấn độ.

Tên gọi

Lộc dă uyển c̣n gọi là Lộc dă viên, Lộc uyển, Lộc dă. Tên đầy đủ là Tiên nhân trú xứ lộc dă uyển (Rṣipatana mṛgadāva).

Về tên gọi của khu rừng này, theo Kinh Xuất Diệu, quyển 14, ghi: ‘Vùng đất này là chỗ Tiên nhân và những người đắc quả Ngũ thông thường lui tới, cư ngụ, chẳng phải là chỗ của người phàm phu cư trú, cho nên mới gọi là Tiên nhân trú xứ’.
Tương truyền, Vua thành Ba-la-nại từng đến vùng đất này săn bắn, vây bắt cả ngàn con nai vào lưới. Bấy giờ, nai chúa quỳ xuống khóc xin vua thả cả đàn nai, quốc vương liền thả hết, để cho đàn nai trở về núi rừng sống yên ổn. Do sự kiện này mà vùng đất ấy có tên là Lộc dă uyển.

Thánh tích

Sau Phật Niết-bàn, Vườn Nai trở thành trung tâm tu học rất lớn.
Trong khu vực chia ra làm tám phần liên hệ với nhau, nhà cửa lầu các tráng lệ quy mô. Tăng sĩ sống hơn 1500 người, tu theo Chánh Luợng Bộ thuộc Tiểu Thừa.
Trong thành lớn có một Tinh Xá cao hơn 200 thước. Phía bên trên tạo h́nh một trái xoài được thếp màu vàng. Đá nhiều tầng chồng chất tạo thành. Đá chất lên bốn bên như thế cả hàng trăm miếng, mỗi miếng đều có chạm tượng Phật màu vàng. Ở trong Tịnh Xá đó, có một tượng Phật bằng đá gần bằng thân của đức Như Lai, tạc theo tư thế chuyển Pháp Luân.
Phía Tây Nam Tịnh Xá có một Bảo Tháp bằng thạch do Vua A Dục dựng nên, đă hư hoại, chiều cao hơn 100 thước. Phía trước đó có dựng một trụ đá cao hơn 70 thước.


Lục đạo      six mauvaises voies    six destinies    六道    
Cũng gọi Lục thú.
Sáu đường mà chúng sinh đi tới để thụ sinh tuỳ theo nghiệp đă tạo.
1. Địa ngục.
2. Ngạ quỷ.
3. Súc sinh.
4. A tu la.
5. Người.
6. Trời.
Trong 6 đường này, 3 đường trước gọi là 3 đường ác, 3 đường sau gọi là 3 đường lành.

Lục căn      Six portes sensorielles    Six sense-organs    六根    Ṣaḍ indriyāṇi
Căn là h́nh thể của sự sống.
Có sáu căn:
1. Mắt (nhăn),
2. Tai (nhĩ),
3. Mũi (tỹ),
4. Lưỡi (thiệt),
5. Thân,
6. Ư


Lục dục thiên              六欲天    
Trong ba cơi, Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, th́ Dục giới có tất cả sáu tầng trời, gọi là Sáu tầng trời cơi Dục, gồm : Tứ vương thiên, Đao-lợi thiên, Dạ-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hoá lạc thiên và Tha hoá tự tại thiên.

Cộng đồng của sáu cơi trời này đều có chung một đặc chất đó là hưởng thụ dục lạc.

Tứ vương thiên và Đao-lợi thiên ở trên đỉnh núi Tu-di, nên gọi là Địa cư thiên. Bốn cơi trời c̣n lại trụ giữa hư không, ẩn trong mây, nên gọi là Không cư thiên.

1. Tứ vương thiên, Catur-mahārājika-devāḥ, c̣n gọi là Tứ đại vương thiên, Tứ thiên vương thiên. Bốn cơi trời này nằm ở bốn phía của núi Tu-di. Mỗi cơi trời có một vị vua, phía Đông là Tŕ quốc thiên, phía Nam là Tăng trưởng thiên, phía Tây là Quảng mục thiên, phía Bắc là Đa văn thiên; bốn thiên vương này thống lănh thiên chúng.
Bao quanh núi Tu-di c̣n có bảy lớp núi vàng, và mỗi núi cũng có bốn vị thiên vương cai quản thiên chúng bốn phía, cho nên, trong các tầng trời cơi Dục th́ Tứ vương thiên rộng lớn hơn cả.
Tứ vương thiên cách mặt nước biển bốn vạn do-tuần, cách trời Đao-lợi cũng bốn vạn do-tuần.
Về mặt thời gian th́ cứ một ngày một đêm của cơi trời này bằng năm mươi năm ở cơi nhân gian. Thọ mạng của họ là 500 tuổi.

2. Đao-lợi thiên, Trayastriṃśat-deva. Đao-lợi là dịch âm của từ Trayastriṃśat, dịch ư là tam thập tam. Deva là thiên. Đao-lợi thiên c̣n gọi là Tam thập tam thiên, bởi tầng trời này gồm có ba mươi ba cơi nằm trên đỉnh núi Tu-di. Đế-thích là chúa tể của ba mươi ba tầng trời này, trụ ở trung ương, trong thành Thiện kiến, bốn phía c̣n lại, mỗi phía có tám tầng trời (gọi là bát thành).
Bốn góc của đỉnh núi có bón ngọn núi cao 500 do-tuần, do Kim cang thủ dược-xoa cư trú bên trong để bảo hộ chư thiên. Đế-thích thiên cư trú trong thành Thiện kiến, bên ngoài thành bốn mặt đều có vườn ngự uyển, đó là nơi dân chúng cơi trời vui chơi.
Đao-lợi thiên cách mặt biển lớn tám vạn do-tuần, cách Dạ-ma thiên cũng tám vạn do-tuần.
Tuổi thọ của dân chúng cơi trời này là một ngàn năm. Một ngày đêm của cơi trời này bằng một trăm năm của cơi nhân gian.

3. Dạ-ma thiên, Suyamā-deva, c̣n gọi là Thiện thời thiên, Thời phần thiên. Cơi trời này nằm giữa hư không, cách mặt biển 16 vạn do-tuần, cách cơi trời Đâu-suất 16 vạn do-tuần, thường hưởng thọ khoái lạc. Một ngày một đêm ở cơi này bằng 200 năm ở cơi nhân gian, tuổi thọ hai ngàn tuổi.

4. Đâu-suất thiên, Tuṣita-deva, c̣n gọi là Tri túc thiên. Cơi trời này nằm giữa hư không, cách mặt biển 32 vạn do-tuần, cách cơi Hoá lạc cũng 32 do-tuần. Đối với năm dục, thiên chúng cơi này biết đủ và dừng lại, không mong cầu thêm nữa. Một ngày đêm ở cơi này bằng 400 năm ở cơi nhân giân, tuổi thọ 4000 ngàn tuổi.

5. Hoá lạc thiên, Nirmāṇarati-deva, cơi này nằm giữa hư không, cách mặt biển 64 vạn do-tuần, cách cơi Tha hoá tự tại cũng 64 vạn do-tuần. Dân chúng cơi này thường tự biến hoá ra năm thứ dục trần để tự vui thích. Một ngày đêm ở cơi này bằng 800 năm ở cơi nhân gian, tuổi thọ 8000 tuổi. Nam nữ nh́n nhau mỉm cười là thoả măn dục vọng, không cần xúc chạm hay giao hợp.

6. Tha hoá tự tự thiên, Paranirmitavaśavatin-deva, tức Ma vương thiên, thường biến hoá, giả dạng người khác để tự tại hưởng thụ dục lạc. Cơi này nằm giữa hư không, cách mặt biển 120 vạn do-tuần. Một ngày đêm ở cơi này bằng 1600 năm ở cơi nhân gian, thọ mạng một vạn sáu ngàn tuổi.

Chúng sanh ở sáu tầng trời cơi dục đều do giữ giới, tu tập thiền định thế gian hoặc hành thập thiện mà sanh về đó.


Lục ḥa          Six points of harmony    六和    
Sáu phương pháp của đức Phật dạy cho Tăng chúng cư xử ḥa hợp với nhau trong tổ chức :
1. Thân ḥa đồng trụ: Sống chung với nhau vui vẻ.
2. Khẩu ḥa vô tranh: Lời nói nhu hoà, không tranh căi.
3. Ư ḥa đồng duyệt: Tâm ư luôn vui vẻ với nhau, không phải vui bề ngoài.
4. Giới ḥa đồng tu: Cùng nhau giữ ǵn giới pháp, bảo vệ cho nhau, che chở cho nhau, không để ai phạm giới.
5. Kiến ḥa đồng giải: Vui vẻ chia sẻ hiểu biết cho nhau, cùng nhau thảo luận Phật pháp trong tinh tần cầu học.
6. Lợi ḥa đồng quân: Chia đều cho nhau những lợi ích có được, không giữ cho riêng ḿnh.

Lục thức              六識    
1. Nhăn thức
2. Nhĩ thức
3.Tỷ thức
4.Thiệt thức
5. Thân thức
6. Ư thức.

Lục thành tựu              六成就    
Cũng gọi là Lục chủng thành tựu.
Các kinh Phật nói đều được mở đầu bằng phần Tựu chung: "Như thị ngă văn nhất thời Phật tại... dữ chúng tỳ kheo..." (Như vậy tôi nghe một thời Phật ở tại... cùng với chúng tỳ kheo...), căn cứ vào phần Tựa chung này mà 6 thứ thành tựu được thiết lập, đó là:
1. Tín thành tựu (Như thị): Tức chỉ cho sự tin tưởng của tôn giả A nan. Biển lớn Phật pháp chỉ có ḷng tin mới vào được, tin nhận pháp ấy là do đức Phật nói mà không c̣n nghi ngờ.
2. Văn thành tựu (ngă văn): Chính tôn giả A nan nghe đức Phật thuyết pháp, chứ không phải nghe ai nói lại.
3. Thời thành tựu (nhất thời): Chỉ cho thời gian thuyết pháp. Khi đấng Pháp vương mở ra pháp hội, chúng sinh nào có nhân duyên mà cảm được, th́ Phật liền hiện thân đáp ứng, cảm và ứng cùng lúc, không mất thời cơ.
4. Chủ thành tựu (Phật): Chỉ cho người thuyết pháp. Phật là bậc chủ tŕ việc thuyết pháp giáo hoá thế gian và xuất thế gian.
5. Xứ thành tựu (tại): Chỉ nơi thuyết pháp, một địa điểm rơ ràng, có thật, kiểm chứng được, chứ không phải nói ở đâu đó mà con người không biết, không kiểm chứng được.
6. Chúng thành tựu (chúng): Chỉ cho chúng nghe pháp, là những người mà ai cũng biết.

Lục thông              六通    ṣaḍ abhijñāḥ
Sáu phép thần thông, biểu hiện năng lực trí tuệ của chư Phật và Bồ tát.
1. Thân như ư thông, Phạm ṛiddhi viṣaga-jñānaṃ, c̣n gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ư muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi... tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ư muốn, không hề chướng ngại.
2. Thiên nhăn thông, Phạm divyaṃ-cakṣuḥ-jñānaṃ: nh́n thấy tất cả mọi h́nh sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nh́n thấy mọi h́nh tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
3. Thiên nhĩ thông, Phạm divyaṃ-śrotraṃ-jñānaṃ: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
4. Tha tâm thông, Phạm paracitta-jñānaṃ: biết hết tất cả mọi ư nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
5. Túc mệnh thông, Phạm purvanivasānusmṛiti-jñānaṃ, c̣n gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân ḿnh và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rơ, nhớ rơ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên ǵ, làm ǵ...
6. Lậu tận thông , Phạm āsravakṣaya-jñānaṃ: lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cơi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cơi, không c̣n sinh tử luân hồi trong ba cơi, được giải thoát hoàn toàn.
Căn cứ Luận câu xá quyển 27, trong 6 phép thần thông trên, 5 phép thần thông đầu th́ mọi người đều có thể đạt được, duy nhất phép thần thông thứ 6 th́ chỉ có những bậc thánh mới có thể đạt được.

Lục trần          six data fields    六塵    guṇas
Cũng gọi Ngoại trần (bụi bên ngoài), Lục tặc (sáu tên giặc bên ngoài).
Đó là sáu cảnh: Màu sắc, Âm thanh, Mùi hương, Vị ngon ngọt, Xúc chạm dịu êm, và các Pháp. Sáu trần cảnh này như bụi bặm làm nhơ bẩn chân tính, ô nhiễm tâm linh, nên gọi là Trần. V́ 6 trần này ở bên ngoài tâm, nên gọi là Ngoại trần. V́ chúng giống như bọn trộm cướp, chiếm đoạt tất cả pháp lành nên gọi là Lục tặc.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27