Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Chỉ tŕ              止持    
Chỉ là dừng lại, là kiềm chế , không cho thân, khẩu làm các điều ác. Nhờ vào chỉ mà bảo tŕ được giới thể, nên gọi là chỉ tŕ. Chỉ tŕ giới dạy cho mọi người chớ làm các việc ác (chư ác mạc tác).

Chủng tử              種子    bīja
Chủng tử nguyên nghĩa chỉ cho hạt giống thực vật, Phật giáo mượn ư nghĩa này để làm ví dụ chỉ cho căn cứ khởi sinh ra các hiện tượng. Những hành vi ở thế gian, sau khi phát sinh nó để lại một năng lực tiềm tàng, giống như hạt giống được lưu trữ trong ḷng đất, năng lực này sẽ làm nguyên nhân sinh khởi những hành vi tương lai hoặc ảnh hưởng đến những hành vi tương lai. Nguồn năng lực ấy gọi là chủng tử.
Nói một cách tổng quát, ở thời kỳ đầu tiên, Phật giáo xem năng lực tiềm tàng của nghiệp thiện, nghiệp ác cùng với những quả báo của nó tồn tại liên tục, không gián đoạn ví như những hạt giống. Đến thời kỳ Phật giáo bộ phái, đặc biệt là phái Kinh lượng bộ, Hoá địa bộ… cho rằng, chủng tử chính là năng lực duy tŕ sự sinh tồn của nhân loại. Phật giáo Đại thừa, Du-già hành phái th́ cho rằng, chủng tử chính là yếu tố cấu thành và duy tŕ Thức a lại da thức, đồng thời, chủng tử có công năng làm sinh khởi các hiện hành. Thuyết này chính là khái niệm quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng của tông Duy thức.
Duy thức tông cho rằng, chủng tử nằm trong Thức a-lại-da làm nguyên nhân phát sinh hiện thật (chủng tử sinh hiện hành), đồng thời hiện hành cũng ảnh hưởng lên kết quả (hiện hành huân chủng tử), hoặc làm nguyên nhân phát sinh chủng tử tương tự (chủng tử sinh chủng tử).
Thuật ngữ liên quan đến chủng tử c̣n có từ tập khí (vāsanā) và huân tập. Thời xưa c̣n có thuật ngữ ‘phiền năo tập khí’, trong tư tưởng Duy thức học, từ này cùng khái niệm với từ chủng tử.
Chủng tử gồm có danh ngôn chủng tử (tức là chủng tử h́nh thành do khái niệm, ngôn ngữ, c̣n gọi là đẳng lưu tập khí), nghiệp chủng tử (chủng tử h́nh thành do hành vi, do nghiệp, rồi nghiệp là phát sinh ra hành vi, c̣n gọi là dị thục tập khí).
Đặc tính của chủng tử
Một cách tổng quát, có sáu đặc tính của chủng tử.
(1) Sát-na diệt. Thể của nó vừa sinh tức th́ diệt một cách vô gián, có công lực đặc sắc mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại ra những ǵ là pháp thường hằng. Cái ǵ thường hằng không biến chuyển th́ không thể nói nó có khả năng phát sinh tác dụng.

(2) Quả câu hữu. Cái cùng với pháp là quả hiện hành đă được sản sinh, cùng hiện hữu và cùng ḥa hiệp, mới có thể làm chủng tử. Đặc tính này loại bỏ những ǵ tồn tại trước nó, sau nó và ly cách nó.

Hiện hành và chủng tử khác loại, không chống nhau, đồng thời hiện hữu trong cùng một thân, cái đó mới có khả năng phát sinh tác dụng. Không phải như chủng tử cùng loại sinh sản lẫn nhau, cái trước và cái sau chống nhau, tất không thể cùng hiện hữu. Tuy nhân và quả có trường hợp cùng hiện hữu hay không cùng hiện hữu, nhưng chỉ trong thời hiện tại mới có thể có tác dụng như là nhân, v́ cái chưa sinh và cái đă diệt không có tự thể. Y trên cái sản sinh quả hiện tại mà đặt tên chủng tử, chứ không phải y trên trường hợp nó dẫn sinh cái cùng loại mà gọi là chủng tử, do đó cần phải nói chủng tử là cái cùng tồn tại với quả.

(3) Hằng tùy chuyển. Trong một thời gian dài cần phải tồn tại như một chủng loại duy nhất liên tục cho đến giai đoạn cứu cánh, như thế mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại trừ các chuyển thức vốn chuyển dịch một cách gián đoạn, v́ như vậy không tương ưng với chủng tử. Đặc tính này cũng chỉ rơ tính cách tự loại sinh sản lẫn nhau của chủng tử.

(4) Quyết định tính. Chủng tử phải là cái quyết định bản chất của công năng dẫn sinh thiện ác tùy theo ảnh hưởng của nhân. Đặc tính này bác bỏ quân điểm của các bộ phái khác cho rằng nhân của dị tính sản sinh quả của dị tính cũng mang ư nghĩa nhân duyên.

(5) Đăi chúng duyên. Chủng tử là loại công năng đặc biệt khi hội hiệp đủ các điều kiện riêng biệt của nó. Đặc tính này bác bỏ quan điểm của Ngoại đạo cho rằng do nguyên nhân tự nhiên, chứ không do hội đủ các điều kiện, quả thường xuyên được sản sinh một cách đột nhiên. Hoăc bác bỏ quan điểm các bộ phái khác cho rằng các duyên vốn hằng hữu chứ không phải không tồn tại. Ở đẩy nêu rơ các điều kiện (duyên) cần hội đủ không có tính hằng hữu. Do đó, chủng tử không thường xuyên ngẩu sinh quả.

(6) Dẫn tự quả. Dẫn sinh kết quả của riêng nó. Chủng tử là cái, từng loại riêng biệt, dẫn sinh các quả sắc, tâm từng loại riêng biệt. Đặc tính này bác bỏ quân điểm của Ngoại đạo cho rằng một nhân độc nhất sản sinh hết thảy quả. Cũng bác bỏ các bộ phái khác cho rằng sắc tâm các thứ làm nhân duyên cho nhau.

a. Duy chỉ công năng sai biệt trong Bản thức mới có đủ sáu đặc tính này để thành chủng tử; ngoài ra là không thể. Ở ngoại giới, như thóc lúa các thứ, vốn là biến thái của thức, cho nên giả lập chúng là chủng tử, nhưng không phải là chủng tử thực nghĩa.

b. Thế lực của loại chủng tử này sản sinh quả chính thức và gân gũi nhất được gọi là sinh nhân. Khi nó dẫn sinh quả dư tàn xa khiến không đột nhiên dứt tuyệt, bấy giờ được gọi là dẫn nhân.

c. Nội chủng sinh trưởng tất do huân tập; trực tiếp sản sinh quả. Đó là nhân duyên tính. Ngoại chủng hoặc được huận tập hoặc không; nó làm tăng thượng duyên để tác thành quả được sản sinh. Nhân duyên của quả kia như vậy phải là nội chủng. V́ quả được sản sinh từ chủng tử có đặc tính chung.


Chủng trí          all-inclusive wisdom; universal wisdom    種智    sarvathā-jñāna
Nói tắt của Nhất thiết chủng trí. Trí tuệ của Phật, biết rơ hết thảy mọi thứ, mọi loại pháp.

Chánh định      Concentration juste    right concentration    正定    samyaktva-niyata-rāśi
Định là trạng thái tâm chuyên chú vào một đối tượng, tinh thần tập trung một chỗ, không tán loạn, giữ tâm ở trạng thái vắng lặng, tịch tĩnh, hay nói cách khác Định có nghĩa là trạng thái tâm ư chuyên chú tập trung vào một đề mục, một đối tượng, một biểu thức nhất định nhằm mục đích để cho tâm không bị xao động, tán loạn do những tác động chủ quan và khách quan.
Chánh định là tập trung chân chánh và đồng đều tâm vương và các tâm sở đồng phát sanh vào một đối tượng duy nhất. Như vậy, tâm định là trạng thái tinh thần khi các thành phần của tâm được đặt trên một đối tượng duy nhất một cách đồng đều và chân chánh, không dao động và không phân tán. Chánh định là trạng thái tâm thức vượt thắng mọi sự trói buộc của triền cái, không c̣n bị thúc đẩy hay bị lôi cuốn vào bất cứ một đối tượng nào, luôn luôn giữ được trạng thái tâm thức thăng bằng, an ổn, định tĩnh.


Chánh biến tri      Sage parfait        正遍知    Samyak-sambuddha
Cái biết cùng khắp không gian thời gian chẳng có năng sở đối đăi, tức là cái biết bản thể Phật tánh, khắp thời gian th́ chẳng sanh diệt, gọi là Niết Bàn; khắp không gian th́ chẳng khứ lai, gọi là Như Lai.

Chánh kiến      Compréhension juste    Right Belief    正見    samyag-dṛṣṭi
Là nhận thức đúng đắn, ngay thẳng, chân chánh; là sự hiểu biết sáng suốt và hợp lư. Nhận thức này có tác dụng đưa con người thoát khỏi lối sống mê lầm, điên đảo. Người có Chánh kiến thấy như thế nào th́ nhận đúng như thế ấy, không đổi trắng thay đen, không kỳ thị xấu tốt, không phê phán hay dở. Chánh kiến là sự hiểu biết và nhận thức không bị tập quán, thành kiến, dục vọng hay tâm phân biệt ngăn che và làm sai lạc.
Chánh kiến hay Chánh tri kiến có nghĩa là nhận thức đúng đắn về định luật nhân quả ở thế gian và xuất thế gian; bằng trí tuệ hữu lậu hoặc vô lậu, thẩm định đúng đắn về tánh và tướng của các pháp, xa ĺa nhận thức nhị nguyên.
Định nghĩa theo truyền thống kinh tạng Nikàya và A-hàm th́, Chánh kiến là thấy rơ Tứ thánh đế, thấy rơ duyên khởi, thấy các pháp vô ngă.
Chánh kiến c̣n được ngài Xá-lợi-phất định nghĩa một cách rất đơn giản: phân biệt được bốn loại thức ăn là Chánh kiến; phân biệt được thiện và bất thiện là Chánh kiến; thấy được Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định là Chánh kiến.
Tóm lại, Chánh kiến là nhận chân được sự thật của cuộc đời, thấy được bản chất thực tướng của các pháp. Sự thật của cuộc đời hay bản chất của các pháp là ǵ? Là duyên sinh, vô ngă. Đó là nhận thức hay thế giới và nhân sinh quan của Phật giáo.

Xem bài nói về Chánh kiến


Chánh mạng          right livelihood    正命    samyag-ājīva
Chánh mạng là sự sống, lối sống chân chánh. Nuôi sống bản thân bằng nghề nghiệp, bằng phương tiện chân chính, không gây tổn hại đến người khác, loài khác, gọi là chánh mạng.
Hành vi trộm cắp, bướp bóc là tà nghiệp. Nếu nuôi sống bản thân bằng cái nghề ăn cướp th́ gọi là lối sống tà mạng.

Xem bài nói về Chánh mạng


Chánh ngữ          correct speech    正語    samyag-vāc
Chánh ngữ là lời nói chân chánh, lời nói thật thà, lương thiện, công bằng ngay thẳng, công minh chánh trực, có lợi ích chánh đáng, không gây tổn thương cho ḿnh và cho người. Chánh ngữ là lời nói chân thật, không bị chi phối bởi thế lực, tiền tài hay dục vọng. Chánh ngữ là lời nói hợp với Chánh pháp, đem lại hoà b́nh, yên vui cho mọi người mọi nơi. Chánh ngữ là lời nói không thiên vị, không xuyên tạc, không vu oan giá họa, không khủng bố đe dọa.
Hầu hết các kinh điển khi nói đến Chánh ngữ đều định nghĩa như Kinh Tạp A hàm: “Là xa ĺa nói dối, xa ĺa nói hai lưỡi, xa ĺa nói ác khẩu, xa ĺa nói thêu dệt”.
Xem bài nói về Chánh ngữ


Chánh nghiệp          right behavior    正業    samyak-karmānta
Nghiệp, Phạn karmā, là hành động có dụng tâm (có tác ư). Hành động, theo Phật giáo, gồm có hành động của thân, gọi là thân nghiệp; hành động của miệng, gọi là khẩu nghiệp; và hành động của ư, gọi là ư nghiệp.
Chánh nghiệp, Phạn samyak-karmānta, có nghĩa là sự thanh tịnh của ba nghiệp thân, khẩu, và ư. Nhưng trong Bát chánh đạo, khi nói đến Chánh nghiệp là nói đến sự thanh tịnh của thân nghiệp. Khẩu nghiệp thuộc về Chánh ngữ, và ư nghiệp thuộc về Chánh niệm (nó cũng thuộc về Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh định). Trong các kinh, khi nói đến Chánh nghiệp thường định nghĩa là hành vi không sát sinh, không trộm cướp và không tà dâm… thực hành việc tôn trọng sự sống, bố thí, và sống đời trong sạch không trái đạo lư.

Xem bài nói về Chánh nghiệp


Chánh niệm          correct mindfulness    正念    samyak-smṛti
- Niệm, smrti, là trạng thái chú tâm, sự hiện hữu của tâm trên đối tượng, là phát khởi và duy tŕ ư thức về một đối tượng. Niệm đơn giản là để tâm tới đối tượng và chỉ để tâm tới thôi, không cần phải suy tư, tưởng tượng và phân tích ǵ hết, ngoài đối tượng hoàn toàn không hay biết ǵ khác xảy ra bên trong hay bên ngoài ta.
- Chánh niệm, samyak smrti, là sự ư thức và tập trung chân chánh, rơ ràng, an tĩnh, sự ư thức về đối tượng bên trong và bên ngoài (của thân, thọ, tâm, pháp) một cách không chấp trước và vướng mắc, tức là sự ư thức đơn thuần để tiếp xúc thực tại như thật của nó (hiện lượng) mà không liên hệ đến các hoạt động lư luận, đánh giá và phân biệt.
Chánh niệm là ư thức được cái ǵ đang xảy ra trong giây phút hiện tại, sống với giờ phút hiện tại, trong cái xảy ra đang là. Do đó, nó loại bỏ mọi khuynh hướng của chủ nghĩa quá khứ và tương lai.

Chánh pháp nhăn tạng              正遍知    
Tạng dụ cho kho tàng, kho này tự tánh sẵn có. Khi hiện cái dụng của chánh pháp nhăn, th́ theo căn cơ mà tùy duyên hóa độ mọi chúng sanh, gọi là chánh pháp nhăn tạng.

Chánh tư duy          correct thought    正思惟     samyak-saṃkalpa
Chánh tư duy là suy nghĩ chân chính, là quán chiếu, nghiệm xét một cách đúng đắn, hợp với chân lư, không trái với lẽ phải, có lợi cho ḿnh và cho người, không gây khổ đau cho ḿnh và cho mọi loài; những suy nghĩ không bị dính mắc bởi tham dục, sân hận, hại người hại vật...
Chánh tư duy là suy nghĩ dựa trên sự thật, không phải tư duy trên mây, không dính líu ǵ đến thực tế. Tư duy trên sự thật là tư duy về Tứ diệu đế, về Vô thường, Vô ngă và Duyên sinh. Trong đời sống tu tập hằng ngày, nếu như những suy nghĩ của chúng ta mà không dính líu ǵ đến những sự thật đó, th́ có nghĩa là con Ma đă và đang dẫn chúng ta đi. Con Ma đó là Tà tư duy. Một ư nghĩ không đúng đắn, tức Tà tư duy, sẽ dẫn đến một hành động không đúng đắn, một lời nói không ái ngữ.

Chánh tinh tiến          correct effort    正精進    samyak-prahāṇāni
C̣n gọi là Chánh phương tiện. Phát nguyện nổ lực đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện đă sanh; ngăn chặn những pháp bất thiện chưa sanh, không cho pháp bất thiện h́nh thành; những pháp thiện chưa sanh th́ t́m cách cho nó phát sanh; những pháp thiện đă sanh rồi th́ nuôi dưỡng, khiến cho ngày thêm lớn mạnh.
Tinh tiến là siêng năng. Chánh tinh tiến là siêng năng làm việc tốt, những việc lợi ḿnh, lợi người và cùng đi đến an lạc, hạnh phúc chân chánh.

Chân đế              真諦    
Chân lư của tự tánh siêu việt không gian thời gian và số lượng, chẳng thể diễn tả gọi là Chân đế.

Chân như      ainsité    true thusness    真如    bhūta-tathatā、tathatā
Bản thể chân thật tràn khắp vũ trụ, là nguồn gốc của hết thảy muôn vật. C̣n gọi là Như như, Như thực, Pháp giới, Pháp tính, Thực tướng, Như lai tạng, Phật tính...
Chân: chân thật không hư dối. Như: tính của sự chân thật ấy không thay đổi. Tức là cái bản thế của muôn vật.

Chiên đàn               栴檀    Candana
Một loại cây, gỗ rất thơm, c̣n gọi là gỗ đàn hương, mọc trên núi Malaya, miền Nam Ấn Độ, có thân giống đầu trâu, nên c̣n gọi là Ngưu đầu chiên-đàn.

Chiêu-đề Tăng               招提僧    catuddisā-saṅgha
Tăng du hành bốn phương, không trú xứ nhất định.

Chính tính ly sinh              正性離生    samyaktva-nyāma
Chính tính ly sinh (Phạn samyaktva-nyāma, Tạng yaṅ-dag-par skyon-med-pa):
Tên gọi khác của Kiến đạo.
Chính tính chỉ cho Thánh đạo vô lậu. Ly sinh chỉ đoạn trừ phiền năo khởi lên do phân biệt. Cũng có thuyết giải thích Ly sinh là chỉ sự thoát ly đời sống phàm phu. Bởi v́ khi nhập vào địa vị Kiến đạo th́ chứng đắc được Chính tính thánh đạo Niết-bàn, viễn ly đời sống phiền năo, cho nên gọi là Chính tính ly sinh.
Câu-xá luận, quyển 23, nói: ‘Chính tính chính là Niết-bàn, hoặc nói Chính là là Thánh đạo vô lậu, Sinh là phiền năo, Thánh đạo có khả năng siêu việt phiền năo nên gọi là Ly sinh’.
Phát trí luận, quyển 1, nói: ‘Như vậy, tâm và tâm sở pháp là Đẳng vô gián. Xả Dị sinh tính, đắc Thánh tính, xả Tà tính đắc Chính tính, nên nhập vào Chính tính ly sinh, đó gọi là Thế đệ nhất pháp’.
Đại Tỳ-bà-xa luận, quyển 3, cũng thuyết minh rơ ràng về ư nghĩa của Chính tính ly sinh.
Tóm lại, Chính tính là Niết-bàn, Thánh đạo, bởi v́ tính của nó chân chính, thuần tịnh không một chút nhiễm ô. Ly sinh, chữ sinh ở đây là tên gọi khác của phiền năo, hoặc chỉ cho thiện căn chưa chín muồi, khiến cho chúng sanh hữu t́nh luân hồi trong sinh tử. Chứng được niết-bàn th́ thoát ly sinh tử phiền năo, trí vô lậu thánh đạo th́ siêu việt thiện căn chưa chín muồi, cho nên gọi là Chính tính lư sinh.
Nói một cách khái quát th́ không những Kiến đạo mà ngay cả Tu đạo và Vô học đạo cũng có nghĩa Chính tính ly sinh, nhưng vị Kiến đạo là địa vị đầu tiên, mang nhiều ư nghĩa hơn so với các vị khác, cho nên mới nói Chính tính ly sinh là tên gọi khác của Kiến đạo.
Cách dịch xưa chỉ dịch là Chính định, hoặc Ly sinh. Các nhà phiên dịch ngày nay đều thống nhất dịch là Chính tính ly sinh, có khi dịch là Thánh tính.
Du-già luận kư, quyển 13, nói rằng: Chính tính cũng có tên là Thánh tính, là ngược lại Tà tính, tức tính của phàm phu. Khi nhập vào địa vị Kiến đạo th́ xả Tà tính đắc Chính tính, có khả năng diệt trừ và thoát ly sự thọ nhận sinh tử không giới hạn.
Cũng có thuyết giải thích: Nhớ nghĩ lư Chân như là Chính tính; đoạn kiến hoặc, thoát khỏi gốc rễ của sinh tử gọi là Ly sinh.


Chuyển ngữ              轉語    
Tiếng dùng trong nhà Thiền. Tuỳ từng căn cơ mà thay đổi lời nói một cách tự do tự tại để dẫn đạo học tṛ, gọi là Chuyển ngữ. Trong lúc học tṛ mê hoặc không hiểu, tiến lui đều bị kẹt, thầy bèn thay đổi phương pháp, chuyển biến lời nói, khiến học tṛ lănh hội.

Chú Đại Bi - Đại Bi Tâm Đà La Ni      Mantra de la Grande Compassion    Great Compassion Mantra    大悲咒    Maha Karunika citta Dharani
Theo kinh Mahakarunikacitta, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokiteśvara Bodhisatva) đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhăn vô ngại đại bi tâm đà ra ni. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam Mô A rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn tŕ. Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa (na ma bà tát đa). Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca la đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da.Giá ra gía ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê lị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ Bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn tŕ. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dủ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn tŕ. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn tŕ bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ. Ta bà ha. Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.
Án. Tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha. (3 lần)


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27