Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Ngă sở          possessions of the self    我所    mama-kāra
Ngă sở hữu.
Quan niệm cho rằng các vật ngoài tự thân đều là vật sở hữu của ta.

Ngă si          delusion regarding the self    我癡    ātmamoha
Si mê nơi ngă tướng, ngu tối không thấy lư vô ngă. Cùng với Ngă kiến, Ngă mạn, Ngă ái hợp thành 4 thứ phiền năo căn bản.
Duy thức tam thập tụng nói rằng, bốn thứ phiền năo thường liên hệ với nhau là ngă si, ngă kiến, ngă mạn và ngă ái. Tất cả mọi phiền năo, nghiệp chướng phát sinh đều do sự ngu si dẫn đầu, cho nên biết rằng do ngă si mà ba thứ phiền năo kia phát sinh. Ngă si là đứng đầu trong các phiền năo vô minh.

Nghiệp      karma    action    業    Karman
Nghiệp là hành động có dụng tâm (có tác ư). Ư chí trong nội tâm muốn làm một việc ǵ đó gọi là Ư nghiệp; c̣n dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ư chí th́ gọi là Thân nghiệp, Ngữ (Khẩu) nghiệp.

Nghiệp bệnh          karmic illness    業病    
Cũng gọi là Nghiệp chướng bệnh.
Chỉ cho bệnh tật do nghiệp đời trước sinh ra. Do nghiệp ác gây nên ở đời trước mà bị bệnh nan y, nằm liệt giường, thuốc thang chẳng khỏi, khổ sở trăm bề, cầu sống không được, cầu chết không xong. Nguyên nhân là do nghiệp cũ, th́ cần phải sám hối nghiệp chướng, đọc tụng và viết chép kinh điển, cúng dường tán thán chư Phật, Bồ tát, bố thí pháp giới chúng sinh, nhờ công đức ấy tiêu trừ nghiệp bệnh.

Nghiệp báo          Karma-reward    業報    
Cũng gọi là nghiệp quả.
Kết quả của nghiệp nhân đă tạo nên. Tuỳ theo nghiệp nhân đă tạo là thiện hay ác mà thọ lấy quả báo vui hay khổ. Nghiệp thiện th́ được quả báo tốt đẹp, nghiệp bất thiện th́ cảm quả báo xấu ác, nghiệp vô kí (không thiện không ác) th́ không mang lại quả báo.

Nghiệp cảm          experience    業感    
Năng lực củ các nghiệp nhân thiện, ác chiêu cảm quả báo khổ vui.

Nghiệp cảm duyên khởi              業感緣起    
Nghiệp là hành động, những hành động thiện, ác, đẹp, xấu của ḿnh. Chính những hành động đó đưa tới sự có mặt của ḿnh và của hoàn cảnh của ḿnh. Nghiệp cảm duyên khởi đưa tới chánh báo và y báo. Chánh báo là con người, là ngũ uẩn của ḿnh. Y báo là hoàn cảnh của ḿnh. Các pháp duyên khởi là do nghiệp nhân chiêu cảm.

Quả báo của loài hữu t́nh chúng sinh có Chính báo và Y báo khác nhau, trong Chính báo có sai biệt như đẹp, xấu, trí, ngu..., trong Y báo cũng có những khác biệt như núi, sông, cây cỏ... Những quả báo khổ vui này có thiên h́nh vạn trạng, tất cả đều do nghiệp lực chiêu cảm. Ba nghiệp thân, khẩu, ư của chúng inh ngày đêm tạo tác, các việc thiện ác được thực hiện tuy biến diệt trong sát na, nhưng cái nghiệp đă được tạo ra ấy, chắc chắn sẽ mang lại kết qua tương ứng trong đời này hoặc đời sau. Tức do mối quan hệ phức tạp của sức nghiệp mà h́nh thành những hiện tượng muôn ngàn sai biệt trong thế giới này. Giáo lư 12 duyên khởi đă giải thích tất cả hiện tượng sai biệt này trong thế gian, và các bộ phái Tiểu thừa đă lập 12 duyên khởi này thành thuyết Nghiệp cảm duyên khởi.

Nghiệp chướng          Hindrance    業障    Karmāvaraṇa
Chướng ngại do nghiệp ác đă làm. Nghiệp ác làm trở ngại sự tập. Kinh Niết bàn nói: "Năm tội cực ác khiến chúng sinh đoạ vào địa ngục vô gián là nghiệp chướng nặng nề nhất". Luận Câu xá nói: "Thứ nhất hại mẹ, thứ hai hại cha, thứ ba hại A la hán, thứ tư phá hoà hợp tăng, thứ năm làm thân Phật chảy máu, đó là năm thứ nghiệp chướng nặng nề nhất". Kinh Hoa nghiêm nói: "Nêú chúng sinh nào nh́n thấy được đức Phật, dù chỉ một lần, th́ bao nhiêu nghiệp chướng đều tiêu trừ hết".

Nghiệp chủng tử              業種子    karma-vāsanā
Cũng gọi là Nghiệp tập khí. Gọi tắt là Nghiệp chủng: Hạt giống của nghiệp quả.
Nghiệp có nghĩa là tạo tác, những sự tạo tác thiện ác huân tập thành chủng tử (hạt giống), gọi là Nghiệp chủng tử.

Nghiệp nhân          deed as cause    業因    karma-hetu
Nhân của nghiệp, có 2 nghĩa:
1. Nghiệp tức nhân (cũng gọi Nhân nghiệp): Nghiệp làm nhân sinh ra quả báo ở đời sau.
2. Nhân của nghiệp: Nhân làm chop nghiệp sinh trưởng.
Kinh Đại niết bản nói: "Nghiệp nhân tức là Vô minh, Xúc. V́ Vô minh, Xúc nên chúng sinh mong cầu Hữu. Nhân duyên mong cầu Hữu tức là Ái vậy. Do nhân duyên Ái mà tạo tác các nghiệp thiên, khẩu, ư".


Nghiệp quả          The fruit of karma    業果    
Cũng gọi là nghiệp báo.
Kết quả của nghiệp. Nghiệp nhân đă tạo hoặc thiện hoặc ác sẽ đưa đến quả báo sinh vào cơi người, trời, ngă quỉ, súc sinh...
Do nghiệp mà có quả báo, đây là pháp lư tự nhiên, gọi là "Nghiệp quả pháp nhiên". Nghiệp và quả tương tục không ngừng. Nghiệp nhân là nhân, quả là báo; nhân quả tiếp nối không dứt.

Như Lai      Ainsi venu        如來    Tathāgata
Là một danh hiệu của Phật. Đức Phật theo chân lư mà đến và từ chân như mà hiện thân, nên tôn xưng là Như Lai.
Phật Thích Ca sử dụng danh từ này để tránh sử dụng ngôi thứ nhất "ta", "tôi" trong lúc giảng dạy, thuyết Pháp và đây cũng là một phong cách biểu lộ sự khiêm tốn của Ngài.

Như Lai tạng      Nature de bouddha        如來藏    Tathāgata garbha
Đồng nghĩa với pháp tánh, pháp thân, chơn như, Phật tánh, Niết bàn…Tạng là cái bọc chứa, theo nghĩa ban sơ là cái bọc thai, tạng là giấu kín che phủ phiền năo mê lầm, giấu kín che phủ Phật tính là cái mầm giác ngộ vốn có trong mọi chúng sanh. Tạng là chất chứa, Như lai tạng là chất chứa mọi công đức quyền năng của Như lai, là tất cả pháp do Phật giảng dạy tập hợp lại thành Như Lai tạng.

Như lai thập lực      Dix pouvoirs de Bouddha    Ten powers of Budha    如來十力    Daśa balāni
Xem "Thập lực"

Như thị ngă văn      Ainsi ai-je entendu    Thus have I heard    如是我聞    Evaṁ mayā srutam
C̣n gọi Ngă văn như thị, Văn như thị.
Là câu mở đầu một bản kinh.
Lúc đức Thế tôn sắp nhập diệt, Ngài đă dặn tôn giả A nan, vị đệ tử đa văn bậc nhất, rằng kinh tạng do Ngài tuyên thuyết trong một đời đều phải đặt ở đầu quyển câu "Như thị ngă văn" để phân biệt với kinh điển của ngoại đạo.
Như thị là chỉ cho lời nói, việc làm và cử chỉ của đức Phật được tŕnh bày trong kinh. C̣n Ngă văn th́ chỉ cho người biên tập kinh tạng là tôn giả A nan, tự nói chính ḿnh đă được nghe những lời đức Phật nói và thấy những việc đức Phật làm. Như thị cũng có nghĩa là tin thuận theo giáo pháp mà chính ḿnh đă được nghe; Ngă văn là người có niềm tin vững chắc vào giáo pháp được nghe ấy. Đây chính là Tín thành tựu và Văn thành tựu, cũng gọi là Chứng tín tự.

Như thuyết tu hành              如說修行    
Như thuyết tu hành: tu tập đúng như những điều đă được giảng dạy. Tất cả những thực hành chân chánh, đúng với Chánh pháp; sự giảng dạy về những điều thực hành ấy được gọi là «Sư tử hống.» Thí dụ, khi đức Phật bác bỏ các lối tu khổ hạnh và chỉ ra con đường chân chính, thiết thực hơn các khổ hạnh ấy cho các người Ưu-đàm-bà-la, th́ đấy là lúc Ngài đang nói bằng tiếng rống của sư tử, và do đó kinh được đặt tên là Ưu-đàm-bà-la sư tử hống.

Nhất hạnh tam muội          One-practice samādhi    一行三昧    Ekavyūha-samādhi
Cũng gọi là nhất tam-muội, chân như tam-muội, là chánh định do tâm chuyên chư vào một hạnh mà tu tập, có hai loại, lư và sự. Lư nhất hạnh tam-muội là tam-muội định tâm quán xét pháp giới một tướng b́nh đẳng. Sự nhất hạnh tam-muội là niệm Phật tam-muội, do nhất tâm niệm Phật mà thành.

Nhất sinh bổ xứ               一生補處    eka-jāti-pratiboddha
Nhất sinh bổ xứ (tiếng Phạm là eka-jāti-pratiboddha) là giai vị tối cao của Bồ-tát, tức địa vị Đẳng giác, c̣n gọi là Nhất sinh sở hệ.
Nhất sinh bổ xứ hay Nhất sinh sở hệ có nghĩa là, vị Bồ-tát này chỉ c̣n trải qua một kiếp hiện tại này nữa là thành Phật.
Kinh Vô lượng thọ quyển thượng ghi: ‘Chư Bồ-tát ở các cơi Phật khác đến thế giới chúng ta, họ đều là những bậc đă đạt đến chỗ cuối cùng, là những bậc Nhất sinh bổ xứ’.
Kinh Đại thừa Bồ-tát tạng chính pháp ghi: ‘những bậc Nhất thiết hữu học, A-na-hàm, Bích-chi-phật, dùng phước hạnh ḿnh đă thành tựu để phát khởi tâm thù thắng th́ chứng đắc được quả vị Bất thoái chuyển, c̣n một kiếp nữa (Nhất sinh bổ xứ) là thành Phật’.
Kinh A-di-đà ghi: ‘Những chúng sinh sinh về thế giới Cực lạc đều chứng quả vị A-thệ-bạt-trí (Bất thoái), trong đó có nhiều vị chứng được Nhất sinh bổ xứ’.
Tóm lại, địa vị của Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ vẫn c̣n nguyên phẩm vô minh (tức căn bản vô minh), vẫn bị biến dị sinh tử chi phối, cho nên gọi là nhất sinh (một lần sinh nữa); đến cuối cùng, vị Bồ-tát này đoạn hết lậu hoặc, nhập vào địa vị Diệu giác, bổ nhiệm vào chỗ trước khi thành Phật, nên gọi là bổ xứ.
Ví dụ, Bồ-tát Di-lặc được gọi là Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ. Điều này chủ yếu căn cứ vào kinh Phật thuyết quán Di-lặc Bồ-tát thượng sinh Đâu-suất thiên mà nói. Theo đó, hiện nay Bồ-tát Di-lặc đang ở tại cung trời Đâu-suất, khi thọ mạng của ngài kết thúc, ngài sẽ đản sinh vào cơi Ta-bà để thay thế vị trí của Phật Thích-ca.

Nhất tâm bất loạn              一心不亂    avikṣipta-citta
Chỉ cho người tŕ niệm danh hiệu Phật A Di Đà đạt được tâm chuyên nhất, không tán loạn. Đây là cảnh giới lư tưởng của người tu tŕ theo pháp môn niệm Phật, tông Tịnh độ. Theo Kinh A Di Đà: "Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào nghe được danh hiệu của Phật A Di Đà, người ấy chấp tŕ danh hiệu này từ một ngày cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn th́ đến lúc lâm chung, tâm người ấy vẫn không điên đảo, th́ người ấy tức th́ được văng sanh về cơi Cực lạc của Phật A Di Đà".
Trong cuốn A Di Đà Kinh Thông Tán, Ngài Từ Ân giải thích rằng: "Chấp tŕ danh hiệu từ một đến bảy ngày không gián đoạn là nhất tâm, chuyên chú không tán loạn là bất loạn".
Trong cuốn A Di Đà Kinh Yếu Giải, Ngài Ngẫu Ích giải thích: "Chấp tŕ danh hiệu có hai cách: 1. Không thông đạt cái lư tâm làm Phật, tâm chính là Phật, chỉ một ḷng cầu nguyện văng sanh th́ gọi là Sự tŕ; 2. Thông đạt được cái lư tâm làm Phật, tâm chính là Phật th́ gọi là Lư tŕ. Nhất tâm cũng có hai cách: 1. Không luận là Sự tŕ hay Lư tŕ, nếu niệm Phật mà hàng phục được phiền năo, cho đến đoạn trừ hết kiến hoặc và tư hoặc th́ đều gọi là nhất tâm; 2. Không luận là Sự tŕ hay Lư tŕ, nếu niệm Phật mà tâm khai mở, thấy bản tính Phật th́ cũng gọi là nhất tâm. Sự nhất tâm th́ không bị phiền năo kiến hoặc và tư hoặc làm cho tán loạn; Lư nhất tâm th́ không bị nhị biên làm cho tán loạn. Tu tập như vậy gọi là tu huệ."

Nhất thiết chủng trí      Omniscience    All-inclusive wisdom; universal wisdom    一切種智    Sarvathā-jñāna
Một trong ba trí. Trí tuệ này chỉ có Đức Phật mới chứng được. Tức là dùng một loại trí tuệ mà biết được nhân chủng của tất cả các pháp và tất cả chúng sanh, đồng thời cũng là trí rơ suốt tướng vắng lặng và hành loại của các pháp. Trí tuệ hoàn hảo. Trí tuệ hiểu biết một cách trọn vẹn tất cả các pháp.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27