Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Tứ duyên              四緣    catvāraḥ pratyayāḥ
4 điều kiện, 4 yếu tố làm sinh khởi các pháp.

1. Nhân duyên (pratyayāhetu): Tất cả pháp từ thế giới nội tại cho đến thế giới khách quan, không có sự sinh khởi nào độc lập ngoài quan hệ nhân duyên.
Nhân (hetu) là năng lực tác động; duyên (pratīya) là điều kiện giúp đỡ, để cho năng lực tác động ấy được sinh khởi và h́nh thành.

2. Đẳng vô gián duyên (Anantara-pratīya): Hay c̣n gọi là thứ đệ duyên, nghĩa là tất cả các pháp làm nhân, làm duyên cho nhau một cách liên tục, không bị gián cách. Hay nói khác đi, pháp trước làm nhân cho pháp sau, pháp sau làm duyên cho pháp trước, các pháp cứ tuần tự làm nhân, làm duyên cho nhau như vậy mà sinh khởi liên tục. Do đó gọi là đẳng vô gián duyên hay là thứ đệ duyên.

3. Sở duyên duyên (Alambanapratītya): Nghĩa là duyên và sở duyên. Duyên là pratītya và sở duyên là alambana. Alambana đi từ động từ căn là lam, có nghĩa là leo, vin vào, dựa vào, nương vào, vướng vào.
Nói tóm lại, cái nào có khả năng dẫn sinh sự phân biệt, và sự phân biệt ấy mang ảnh tượng tương tợ với chúng th́ cái ấy gọi là duyên và sở duyên, hay gọi là sở duyên duyên (alampanapratītya).
Tăng thượng duyên (adhipapeyampratīya): Là duyên tăng thêm sự sinh khởi cho các pháp một cách nhanh chóng từ nhân đến quả.

4. Tăng thượng duyên gồm có thuận và nghịch.
Thuận duyên, là duyên hỗ trợ và tác động một cách tích cực để cho các pháp sinh khởi một cách nhanh chóng từ duyên đến quả.
Nghịch duyên, là duyên làm đối kháng sự sinh trưởng của nhân.
Mọi pháp có thể sinh khởi, tồn tại hay hủy diệt đều lệ thuộc vào bốn duyên này. Ở trong bốn duyên này th́ sở duyên duyên, tăng thượng duyên, đẳng vô gián duyên là biệt tướng, c̣n nhân duyên là tổng tướng.

Tứ hoằng thệ nguyện      quatre vœux du bodhisattva     four great vows of bodhisattvahood    四弘誓願    
Bốn lời nguyện rộng lớn.
1. Chúng sinh vô số lượng, thệ nguyện đều độ khắp
2. Phiền năo nhiều vô lượng, thệ nguyện đều dứt trừ
3. Pháp môn vô số kể, thệ nguyện đều học hết
4. Phật đạo không ǵ hơn, thệ nguyện sẽ chứng thành (đạt được)

Tứ ma      Quatre démons        四魔    Catvāro mārāḥ
Bốn loài ma đoạt mất thân mạng và trí tuệ của con người.
1. Ấm ma, skandha-māra, c̣n gọi là Uẩn ma, Ngũ ấm ma, Thân ma: Con ma 5 uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức. 5 uẩn tích tụ lại thành quả khổ sinh tử, pháp sinh tử này thường cướp đi tuệ mạng của chúng sinh.
2. Phiền năo ma, kleśa-māra, cũng gọi là Dục ma: 108 thứ phiền năo trong ḿnh thường năo loạn tâm thần chúng sinh, cướp đi tuệ mạng, khiến không thành tuệ được bồ đề.
3. Tử ma, mṛtyu-māra: Con ma chết. Sự chết làm cho 4 đại của chúng sinh phân tán, hoặc chết yểu, khiến người tu hành mất cơ hội tiếp tục tu tập, không thể kéo dài tuệ mạng.
4. Thiên tử ma, deva-putra-māra, cũng gọi là Tha hoá tự tại thiên tử ma, Thiên ma: Tức vua ma ở tầng trời thứ 6 của cơi Dục, thường phá hại các việc tốt lành của con người, ghen ghét với pháp của bậc Hiền thánh, gây những việc nhiễu loạn, làm cho người tu hành không thành tựu được thiện căn xuất thế.

Tứ nhiếp pháp          Four methods of winning (people) over    四攝法    Catvāri saṃgraha-vastūni
Là bốn phương pháp Bồ tát dùng để nhiếp hóa chúng sinh, khiến họ khởi tâm cảm mến, rồi dẫn dắt họ vào Phật đạo, hướng dẫn họ tu tập để đạt được giải thoát. Gồm bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.

Xem bài Tứ nhiếp pháp


Tứ niệm xứ      quatre méditations hinayana ou theravada    The fourfold stage of mindfulness    四念處    catvāri smṛty-upasthānāni
Là bốn phép quán cơ bản về sự tỉnh giác. Phương pháp thiền quán của Phật giáo nguyên thủy gồm :
- quán thân (sa., pi. kāya),
- quán thụ (sa., pi. vedanā),
- quán tâm (sa., pi. citta) ,
- quán pháp (tức là những ư nghĩ, khái niệm, gom lại là tâm pháp).

Phương pháp quán chiếu này được nói rơ trong kinh Tứ niệm xứ (pi satipaṭṭhāna-sutta) và Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn. Ngày nay tại phương Tây, phép quán bốn niệm xứ được phổ biến rộng, trong đó hành giả ngồi (Toạ thiền) hay áp dụng phép quán này trong các hoạt động hàng ngày.
● Quán Thân bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào (pi. ānāpānasati), cũng như tỉnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi.
● Quán Thụ là nhận biết rơ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thường của chúng.
● Quán Tâm là chú ư đến các tâm pháp (ư nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).
● Quán Pháp là biết rơ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngă, biết rơ Ngũ chướng có hiện hành hay không, biết rơ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rơ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rơ Tứ diệu đế.

Tứ pháp ấn      quatre sceaux du Dharma         四法印    dharma-mudrā
Bốn pháp ấn, bốn khuôn dấu, bốn pháp đặc biệt của Phật giáo. Trong Tam pháp ấn, thêm một pháp ấn là Nhất thiết hành khổ mà thành ra Tứ pháp ấn. C̣n gọi là Tứ pháp bản mạt, Tứ ưu đà na (udāna).
Cũng như Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn là bốn pháp đặc biệt dùng để ấn chứng, làm tiêu chuẩn xác định có phải là kinh điển do Phật nói hay không.
1. Nhất thiết hành vô thường ấn: Tất cả các pháp đều vô thường.
2. Nhất thiết hành khổ ấn: Tất cả các pháp vô thường nên đưa đến khổ đau.
3. Nhất thiết pháp vô ngă ấn: Tất cả các pháp đều vô ngă, không có tự tính riêng biệt.
4. Niết bàn tịch diệt ấn: Niết bàn là vắng mặt, dập tắt mọi khổ đau, là hạnh phúc tuyệt đối.

Tứ sinh      quatre formes de naissance     four kinds of birth    四生    catasro-yonayaḥ
Chỉ cho 4 chúng sinh khác nhau của loài hữu t́nh trong 6 đường thuộc 3 cơi.
1. Noăn sinh, Phạm aṇḍaja-yoni: Loài sinh ra từ trứng.
2. Thai sinh, Phạm jarāyujā-yoni: Loài sinh ra từ thai mẹ.
3. Thấp sinh, Phạm Saṃsvedajā-yoni: Loài sinh ra từ khí ẩm thấp tại những chỗ ướt át.
4. Hoá sinh, Phạm upapādukā-yoni: Như hữu t́nh ở các cơi trời, trong địa ngục, trung hữu... đều do nghiệp lực quá khứ mà hoá sinh.

Tứ tất đàn              四悉檀    catvāraḥ siddhāntāḥ
Bốn pháp thành tựu. Bốn tiêu chuẩn để tŕnh bày sự thật.
Giáo pháp mà đức Phật dùng để giáo hoá, dẫn dắt chúng sinh có thể được chia làm 4 phạm trù, gọi là Tứ tất đàn. Tất đàn là từ ghép chung cả tiếng Phạm và Hán. Tất nghĩa là khắp hết; đàn nói đủ là đàn na, dāna, có nghĩa là Bố thí; Phật dùng bốn pháp này để bố thí khắp hết tất cả chúng sinh.
Theo Luận Đại trí độ của Bồ tát Long Thọ, Tứ tất đàn có đại ư như sau:
1. Thế giới tất đàn: Tuỳ thuận theo pháp thế gian mà nói nghĩa nhân duyên hoà hợp; cũng tức là dùng những pháp phổ thông ở thế gian như tư tưởng, ngôn ngữ, quan niệm... để thuyết minh chân lư duyên khởi. Chẳng hạn như: Con người là do nhân duyên hoà hợp mà có, v́ thế nên chẳng phải là thực thể. Cho rằng con người có thật xưa nay vốn là cái thấy phổ thông của thế tục, nên Phật nói pháp thích hợp với thế tục để thuận theo mọi người, khiến cho phàm ohu vui mừng mà được chính trí thế gian, cho nên Tất đàn này c̣n được gọi là Lạc dục tất đàn.
2. Các vị nhân tất đàn: Gọi tắt là Nhân tất đàn. Tức tuỳ theo căn cơ và năng lực khác nhau của mỗi chúng sinh mà nói các pháp thực tiễn xuất thế, khiến chúng sinh sinh khởi niệm thiện căn, cho nên cũng gọi là Sinh thiện tất đàn.
3. Đối trị tất đàn: Đối với phiền năo của chúng sinh như tham, sân, si... tuỳ bệnh mà cho thuốc pháp để đối trị. Đây là giáo pháp nhằm diệt trừ phiền năo và ác nghiệp của chúng sinh. V́ giáo pháp này có công năng dứt các điều ác của chúng sinh, cho nên cũng gọi là Đoạn ác tất đàn.
4. Đệ nhất nghĩa tất đàn: Tức dẹp bỏ tất cả ngôn ngữ, luận nghị mà trực tiếp dùng Đệ nhất nghĩa đế giải thích rơ lư thực tướng của các pháp, khiến chúng sinh chân chính khế nhập giáo pháp, cho nên cũng gọi là Nhập lư tất đàn.

Tứ thần túc          Four bases of supernatural power    四神足    catvāra ṛddhi-pādāḥ
Cũng gọi Tứ như ư túc, Tứ như ư phần.
4 pháp đạt được thiền định phát sinh ra các thứ thần thông, lực dụng.
1. Dục như ư túc: Thiền định phát khởi do ư muốn, nhờ tưởng mà đạt được thần thông.
2. Niệm thần túc: Thiền định do năng lực niệm mà phát khởi.
3. Tiến như ư túc: Thiền định do năng lực không ngừng đoạn những điều ác, thực hành những điều thiện mà phát khởi.
4. Tuệ như ư túc: Thiền định do năng lực tư duy về Phật lư mà phát khởi.

Tứ thiền      Quatrième niveau d'expérience méditative    Fourth meditation    四禪    Catvāri dhyāna
Đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đă cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Tứ thiền xả bỏ diệu lạc đă chứng trước đây, gọi là Xả thanh tịnh, chỉ nhớ nghĩ tu dưỡng công đức, gọi là Niệm thanh tịnh, do đó mà có được cảm nhận chẳng phải khổ chẳng phải vui. Tất cả những hoạt động và cảm thụ vừa nói trên đều diễn ra trong trạng thái thiền định "Tâm nhất cảnh tính".

Tứ thiền thiên          four meditation heavens    四禪天    Caturdhyānabhūmi
Chỉ các tầng trời cơi Sắc, là quả báo do tu tập 4 thiền định mà có được, hoặc chỉ cho chúng sinh ở các tầng trời này, tức các tầng trời Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền.
Ở Tứ thiền chi có hoạt động của thức ư, tương ứng với cảm giác không khổ không vui. Có 8 tầng trời: Vô vân, Phúc sinh, Quảng quả, Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến, và Sắc cứu cánh.

Tứ trí          four wisdoms    四智    catvāri jñānāni
Gọi đủ là Tứ trí tương ưng tâm phẩm. Gọi tắt là Tứ trí tâm phẩm. Chỉ bốn loại trí tuệ tương ưng với tâm và tâm sở, là bốn loại đức năng của tâm bồ-đề, cũng chính là bốn loại trí tuệ của Phật, do chuyển các thức thứ 8, thứ 7, thứ 6 và 5 thức giác quan mà thành: thức thứ 8 thành Đại viên cảnh trí, thức thứ 7 thành B́nh đẳng tính trí, thức thứ 6 thành Diệu quan sát trí, 5 thức giác quan thành Thành sở tác trí.
Bốn trí này, ngài Chân Đế dịch trong Nhiếp đại thừa luận thích là Hiển liễu trí, B́nh đẳng trí, Hồi quan trí, Tác sự trí; ngài Gupta dịch trong Nhiếp đại thừa luận thích luận là Cảnh trí, B́nh đẳng trí, Chính quán trí, Tác sở ứng tác trí; ngài Prabhākaramitra dịch trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận là Cảnh trí, B́nh đẳng trí, Quán trí, Tác sự trí.
1. Đại viên cảnh trí: Do chuyển thức hữu lậu thứ 8 là A lại da thức mà thành. Trí này có được do xa ĺa hết thảy sự chấp vào cái tôi, cái của tôi; xa ĺa sự phân biệt, khả năng nắm giữ và cái được nắm giữ; hành tướng của năng duyên và nội cảnh của sở duyên đều vi tế, rất khó nhận biết, nhưng đối với tất cả cảnh giới ấy, Trí vô lậu này có khả năng nhận biết rơ ràng, không mê muội, không quên mất (thường hiện tại). Tính và tướng của Trí này hoàn toàn thanh tịnh, xa ĺa hết thảy mọi nhiễm ô phiền năo, là Trí thuần tịnh viên măn; là chỗ phát sinh, biểu hiện hay hiện hành mọi công đức của thân và tâm, nhưng cũng đồng thời là chỗ thu nhiếp, cất giữ tất cả mọi hạt giống công đức thanh tịnh vô lậu. Trí này có khả năng biểu hiện thân Phật và quốc độ của Phật để tự thọ dụng; nó cũng phản ánh ảnh tượng của ba trí c̣n lại. Trí này không bị gián đoạn, soi suốt tận cùng vị lai, giống như một tấm gương lớn, có khả năng phản chiếu mọi h́nh ảnh. Kinh Phật Địa nói: Đại viên cảnh trí giống như tấm gương lớn soi rơ mọi h́nh ảnh. Cho nên, nương vào tấm kinh trí tuệ của Như Lai, tất cả mọi h́nh ảnh từ sáu xứ, sáu cảnh, sáu thức đều hiển hiện rơ ràng.
2. B́nh đẳng tính trí Trí này chuyển hóa từ thức thứ bảy, thức Mạt Na. Thức Mạt Na phân biệt ta và không ta, kỳ thị giữa của tôi và không phải của tôi. Nhưng nếu thực tập thông minh, ta có thể chuyển hóa Thức thứ bảy thành Trí mang tính B́nh Đẳng, thấy ḿnh và người khác là một, và mầu nhiệm như nhau. Như khi gặp kẻ thù mà ta lạy xuống một lạy, th́ ta sẽ thấy thù cũng cùng một bản tính với bạn, người kia với ḿnh là một và ư niệm hận thù không c̣n nữa. Đó là B́nh Đẳng Tánh Trí, phát hiện ngay trong ḷng của thức Mạt Na, cái thức chấp ngă.
3. Diệu quan sát trí: Diệu quan sát trí là khả năng quan sát một cách mầu nhiệm, được chuyển hóa từ thức thứ sáu. Thức thứ sáu, tức Ư Thức, đầy dẫy những tri giác sai lầm. Nó tạo tác biết bao nhiêu khổ đau. Nhờ Trí Đại Viên Cảnh, nhờ sự chuyển hóa, Ư Thức trở thành Trí Diệu Quan Sát, có thể quán sát muôn vật mà không bị kẹt vào tri giác sai lầm.
4. Thành sở tác trí: Là một Trí tuệ mà gốc là các Thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Con mắt có vô minh làm cho ta say đắm, nh́n giả thành thật. Con mắt làm cho ta mù tối. Bây giờ con mắt có minh tạo tác được những thành tựu, mở cửa cho ta thấy pháp Thân mầu nhiệm.


Tứ Vô Lượng Tâm (Từ Bi Hỷ Xả)      Quatre incommensurables    four immeasurable minds    四無量心    catvāry apramāṇāni
Bốn tâm rộng lớn làm lợi ích cho chúng sanh. V́ muốn giúp cho vô lượng chúng sanh ĺa khổ được vui mà khởi bốn loại tâm Từ - Bi – Hỷ - Xả, hoặc nhập vào bốn loại thiền quán Từ - Bi – Hỷ - Xả.
C̣n gọi là Bốn vô lượng, Bốn đẳng tâm, Bốn đẳng, Bốn phạm trụ, Bốn phạm hạnh, Vô lượng tâm giải thoát.
- Từ: Tâm thương yêu.
- Bi: Tâm đồng cảm với nỗi khổ đau của chúng sanh.
- Hỷ: Hoan hỷ khi nh́n thấy chúng sanh hạnh phúc.
- Xả: Xả bỏ tất cả các tướng sai biệt giữa người oán kẻ thân mà khởi cái nh́n b́nh đẳng với mọi loài chúng sanh.
- Từ tâm vô lượng là tâm đem cho chúng sanh an lạc không cùng tận.
- Bi tâm vô lượng là tâm cứu bạt chúng sanh thoát khỏi khổ năo không giới hạn.
- Hỷ tâm vô lượng là tâm không bao giờ ganh tỵ khi nh́n thấy chúng sanh hưởng hạnh phúc an lạc, ngược lạc c̣n vô cùng hoan hỷ.
- Xả tâm vô lượng là tâm xả bỏ tất cả mọi ư niệm phân biệt giữa người thân, kẻ oán, khởi tâm b́nh đẳng nh́n chúng sanh và đem đến cho chúng sanh vô lượng lợi ích.

Tứ vô sở uư               四無所畏    catvāri-vaiśāradyāni
Bốn điều không sợ hăi, hay không do dự, không mơ hồ, gồm bốn điều của Bồ Tát và bốn điều của Như Lai. C̣n gọi là bốn loại trí lực (tứ chủng trí lực, 四種智力), bốn điều tự tín, gọi tắt là Tứ vô uư.

A. Tứ vô sở uư của Phật

Phạm Catvāri tathāgatasya vaiśāradyāni. Phật thành tựu trí tuệ đầy đủ mười thứ sức mạnh, thuyết pháp giữa đại chúng không có ǵ đáng lo sợ.

1. Chư pháp hiện đẳng giác vô uư (Phạm sarva-dharmābhisaṃbodhi-vaiśāradya): không hề sợ hăi hay do dự khi tự tuyên bố là đă chứng ngộ hết thảy pháp. Đối với tất cả các pháp, Phật đều rơ biết một cách tường tận. Do đó, đối với những chúng sinh v́ không biết về các pháp mà đặt câu hỏi th́ Ngài giải đáp một cách tự tại, không có ǵ sợ hăi. Điều vô uư này c̣n gọi là Nhất thiết trí vô sở uư.

2. Lậu vĩnh tận vô uư (Phạm sarvāsrava-kṣaya-jñāna-vaiśāradya): không hề sợ hăi hay do dự khi tuyên bố là biết rơ sự diệt tận hết thảy ô nhiễm. C̣n gọi là Lậu tận vô sở uư. Phật đă dứt sạch hết tất cả mọi phiền năo, không có sự sợ hăi từ các nạn bên ngoài.
3. Thuyết chướng pháp vô uư (antarāyika-dharmānanyathātva-niścita-vyākaraṇa-vaiśāradya): không hề sợ hăi, không mơ hồ, khi nói một cách dứt khoát những yếu tố ǵ cản trở sự chứng ngộ. Phật nói ‘pháp nhiễm ô chắc chắn gây trở ngại sự tu tập’. Khi nói như vậy, Phật không hề lo sợ sự bắt bẻ hay gạn hỏi của bất cứ ai. Điều này c̣n được gọi là Thuyết chướng đạo vô sở uư.

4. Thuyết xuất đạo vô uư (saṃpad-adhigamāya nairyāṇika-pratipat-tathātva-vaiśāradya): không sợ hăi khi công bố tính chân thật của sự thực hành dẫn đến sự chứng ngộ. Phật chỉ bày con đường thoát ly sinh tử, chỉ bày phương pháp tu tập để thoát ly khổ đau. Vô uư này c̣n được gọi là Thuyết tận khổ đạo vô sở uư, bởi Phật tuyên thuyết đạo xuất ly mà không sợ hăi điều ǵ.

Bốn điều Vô uư trên đây, căn cứ vào Thuận chính lư luận, quyển 75, th́ hai điều Vô uư trước là biểu hiện cho đức tính tự lợi của Phật, hai điều Vô uư sau là biểu hiện cho đức tính lợi tha của Phật. Trong đức tự lợi, điều thứ nhất gọi là Trí đức (thành tựu trí tuệ), điều thứ hai gọi là Đoạn đức (dứt hết phiền năo). Trong đức lợi tha, điều thứ nhất gọi là Linh tu đoạn đức (giúp chúng sinh tu tập đoạn trừ phiền năo), điều thứ hai là Linh tu trí đức (giúp chúng sinh tu tập thành tựu trí tuệ).

Theo Luận câu xá, quyển 27, th́: Chính đẳng giác vô uư lấy 10 trí (thế tục, pháp, loại, khổ, tập, diệt, đạo, tha tâm, tận, vô sinh trí - xem Thập trí) làm tính, tương đương với Xứ phi xứ trí lực trong 10 lực. Lậu vĩnh tận vô uư lấy 6 trí (trong 10 trí, trừ khổ, tập, đạo, tha tâm) làm tính, tương đương với Lậu tận trí lực. Thuyết chướng pháp vô uư lấy 8 trí (trừ diệt, đạo) làm tính, tương đương với Nghiệp dị thục trí lực. Thuyết xuất đạo vô sở uư lấy 9 trí (trừ diệt trí) làm tính, tương đương với Biến thú hành trí lực.

Ngoài ra, trong kinh luận của Tiểu thừa thường lấy bốn sự không sợ hăi này cùng với 10 lực, 3 niệm trụ, đại bi… làm thành 18 pháp bất cộng. Tuy nhiên, đại thể th́ cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa đều nói như nhau về Tứ vô sở uư của Phật.

B. Bốn vô sở uư của Bồ tát

Phạm Bodhisattvānāṃ catvāri vaiśāradyāni. Bồ tát cũng thành tựu đầy đủ trí tuệ, thuyết pháp giữa đại chúng cũng không có ǵ sợ hăi.

Theo luận Đaị trí độ và Đại thừa nghĩa chương, Tứ vô sở uư của Bồ tát là:

1. Năng tŕ vô sở uư: Bồ tát lắng nghe, ghi nhớ tất cả các pháp, không bao giờ quên mất, do đó, lúc ở giữa đại chúng thuyết pháp, không có ǵ sợ hăi.

2. Tri căn vô sở uư: Bồ tát biết tất cả căn cơ, tŕnh độ thông minh hoặc ngu tối của chúng sinh, tuỳ theo đối tượng mà thuyết pháp, không hề sợ hăi.

3. Quyết nghi vô sở uư: Bồ tát giải quyết tất cả mọi nghi ngờ của chúng sinh, đúng như pháp mà trả lời, không có ǵ sợ hăi.

4. Đáp báo vô sở uư: Tất cả những câu hỏi của chúng sinh, Bồ tát đúng như pháp trả lời tự tại, không có ǵ sợ hăi.

Tứ y              四依    catvāri pratisaraṇāni
Bốn điều y chỉ. Y nghĩa là nương tựa, y chỉ. Trong các kinh luận, Y chỉ được chia làm 5 loại: Pháp tứ y, Hành tứ y, Nhân tứ y, Thuyết tứ y và Thân độ tứ y.
I. Pháp tứ y:
Cũng gọi là Tứ y tứ bất y, là bốn điều mà một người tu cần nương tựa và bốn điều không nên nương tựa.
1. Y pháp bất y nhân, Phạm dharma-pratisaraṇena bhavitavyaṃ na pudgala-pratisaraṇena, cũng gọi là Tuỳ pháp bất tuỳ nhân, Qui ư pháp nhi bất thủ nhân. Nghĩa là người tu đạo phải lấy giáo pháp làm chỗ nương tựa chứ không được lấy người làm chỗ nương tựa. Dù cho người đó là phàm phu hoặc ngoại đạo, nhưng lư nghĩa mà họ nói ra phù hợp với chính pháp th́ cũng được tin nhận và vâng làm. Trái lại, người ấy tuy hiện thân Phật có đầy đủ tướng hảo nhưng những điều họ nói không khế hợp với chính pháp th́ phải tự chối bỏ, chứ không được lấy đó làm chỗ nương tựa.
2. Y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh, Phạm nītārtha-sūtra-pratisaraṇena bhavitavyaṃ na neyārtha-sūtra-pratisaraṇena, cũng gọi Tuỳ liễu nghĩa kinh bất tuỳ bất liễu nghĩa kinh, Qui ư yếu kinh bất mê hoặc. Tức trong Tam tạng có kinh nghĩa lư rơ ràng, có kinh nghĩa lư không rơ ràng, người tu đạo phải lấy kinh nghĩa lư rơ ràng, quyết định nghĩa Thực tướng trung đạo làm nơi nương tựa, chứ không được lấy các kinh nghĩa lư hồ đồ làm chỗ y cứ.
3. Y nghĩa bất y ngữ, Phạm artha-pratisaraṇena bhavitavyaṃ na vyañjana-pratisaraṇena, cũng gọi Tuỳ nghĩa bất tuỳ tự, Thủ nghĩa bất thủ ngữ. Nghĩa là người tu đạo phải lấy Trung đạo đệ nhất nghĩa làm chỗ nương tựa, chứ không được nương tựa vào văn tự, ngôn ngữ vốn chỉ là phương tiện biểu hiện chân lư.
4. Y trí bất y thức, Phạm jñāna-pratisaraṇena bhavitavyaṃ na vijñāna-pratisaraṇena, cũng gọi Tuỳ trí bất tuỳ thức, Quy tuệ bất thủ sở thức. Nghĩa là người tu đạo phải lấy trí tuệ chân thật làm chỗ nương tựa, chứ không được nương theo t́nh thức của người đời.
II. Hành tứ y:
Cũng gọi là Tứ y pháp.
Bốn hành pháp mà người tu hành y chỉ. Bốn hành pháp này là duyên vào đạo, là chỗ nương tựa của người thượng căn lợi khí, cho nên gọi là Hành tứ y. Bốn hành pháp này cũng có năng lực phát sinh Thánh đạo, là hạt giống Thánh đạo, nên gọi là Tứ thánh chủng.
1. Trước phẩn tảo y: Mặc áo cũ rách.
2. Thường hành khất thực: Thường đi xin ăn.
3. Y thụ hạ toạ: Ngồi tựa gốc cây.
4. Dụng trần hủ dược: Dùng thuốc đơn giản để trị bệnh.
III. Nhân tứ y:
Cũng gọi là Tứ y đại sĩ, Tứ y bồ tát.
Bốn hạng người được chúng sinh tin cậy và xứng đáng là nơi để họ nương tựa.
1. Xuất thế gian phàm phu: Chỉ cho hạng người phàm phu nhưng có nhân cách xuất thế gian, đă có dấu hiệu văng sinh.
2. Tu đà hoàn: Người chứng được quả Dự lưu và Tư đà hàm, người chứng được quả Nhất lai.
3. A na hàm: Người chứng quả Bất hoàn.
4. A la hán: Bậc thánh chứng quả vô sinh.
Bốn hạng người này có năng lực mang lại lợi ích cho thế gian, làm cho người đời yên vui, v́ thế có thể làm chỗ nương tựa cho chúng sinh.
IV. Thuyết tứ y:
Bốn ư kín đáo mà Phật nương theo để thuyết pháp, đó là: Linh nhập, tướng, đối trị và chuyển biến. Nhiếp đại thừa luận gọi là Tứ bí mật.
V. Thân độ tứ y:
Tứ y của thân Phật, đó là:
1. Sắc thân y sắc tướng độ: Sắc thân nương vào cơi nước có sắc tướng.
2. Sắc thân y Pháp tính độ: Sắc thân nương vào cơi Pháp tính.
3. Pháp thân y Pháp tính độ: Pháp thân nương vào cơi Pháp tính.
4. Pháp thân y Sắc tướng độ: Pháp thân nương vào cơi Sắc tướng.

Từ Bi          compassion    慈悲    maitrya
Quan tâm, lo lắng, thương yêu tất cả chúng sanh.
Từ bi là tâm niệm của chư Phật, là cánh cửa mở ra Phật đạo.
Kinh Niết-bàn Nam bản nói : “Tất cả các bậc Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, chư Phật Như lai đều lấy tâm từ bi làm gốc rễ cho mọi thiện căn”.
Kinh Quán vô lượng thọ nói: “Tâm của Phật chính là tâm đại từ bi, thương yêu tất cả mọi loài chúng sanh mà không cần một điều kiện nào”.
Luận Đại trí độ nói: “Từ bi là nền tảng căn bản của con đường thành Phật, v́ tâm từ bi là một thứ sức mạnh, cho dù trải qua vô lượng a-tăng-kỳ kiếp sinh tử, tâm này vẫn không mất”.
Luận Thập trụ tỳ-bà-sa nói: “Tất cả chư Phật Như Lai đều sinh ra từ tâm đại bi. Cho nên, bước đầu tiên của quá tŕnh tu hành Phật đạo là lấy Ngũ đ́nh tâm quán để đối trị những tâm ư loạn động, quán từ bi để đối trị tâm sân hận… từ từ tu hành phát triển lên. Hoặc tu tập bốn tâm vô lượng, hoặc tu thập hạnh, hay tu tập bất cứ pháp môn ǵ th́ cũng không thể thiếu tâm từ bi, thương yêu tất cả muôn loài. Từ bi và trí tuệ là biểu hiện đạo đức và giác ngộ của Phật pháp. Trong khi đó, Bồ-tát Quán thế âm tượng trưng cho tâm từ bi của Phật A-di-đà, Bồ-tát Phổ hiền tượng trưng cho tâm từ bi của Phật Thích-ca”.
Từ bi trong đạo Phật bao gồm những ư nghĩa sau đây:
1. Trừ khổ - ban vui: Tâm từ là bạt trừ nỗi khổ cho chúng; tâm bi là đem đến niềm vui hạnh phúc cho chúng sanh, hoặc ngược lại từ là ban vui, bi là cứu khổ.
Kinh Niết-bàn nói: “Làm cho chúng sanh nhổ trừ mọi việc không đưa tới lợi ích, gọi là đại từ; mong muốn đem đến cho chúng sanh vô lượng lợi ích an lạc, gọi là đại bi”.
Luận Đại trí độ cũng nói: “Đại từ là cho chúng sanh niềm vui; đại bi là giúp chúng sanh hết khổ”.
2. Ba duyên từ bi (ba cấp bậc của tâm từ bi):
- Một là, chúng sanh duyên từ: Chúng sanh là đối tượng của tâm từ bi. Bồ-tát quán chúng v́ muốn làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên tâm từ lấy chúng sanh là đối tượng, từ chúng sanh mà hiện khởi, y trên chúng sanh mà diệu dụng, gọi là chúng sanh duyên từ, tức từ bi tâm lấy chúng sanh làm đối tượng.
- Hai là, pháp duyên từ, đó: Quán chiếu pháp, thấy rơ bản chất hư huyễn, bất thực của chúng, nhân đó Bồ-tát khởi tâm từ bi, gọi là pháp duyên từ. Các bậc Thánh hiền đă phá trừ được cái tướng chấp ngă, không c̣n thấy tướng dị diệt giữa ta và người, quán thấy tất cả chúng sanh chỉ là cái thân vay mượn năm uẩn hoà hợp mà thành, từ đó khởi ḷng từ bi. Nói một cách khác, tất cả chúng sanh ở đây v́ không biết các pháp là Không, cho nên khởi lên vọng tưởng tham muốn; các bậc Thánh hiền thấy chúng sanh như vậy rất lấy làm thương xót, liền khởi ḷng từ bi mong muốn làm cho chúng sanh được vui giải thoát.
- Ba là, vô duyên từ: Cứu cánh là tâm từ bi tuyệt đối, khởi lên không do bởi điều kiện, gọi là vô duyên từ. Tâm của chư Phật không trụ nơi pháp có tính hữu vi hay vô vi, không trụ nơi quá khứ, hiện tại, tương lai, biết rơ các pháp vốn không thật, chỉ là cái tướng điên đảo hư nguỵ giả dối mà thôi, cho nên tâm của chư Phật không duyên vào đâu cả, không duyên vào đâu hết mà khởi tâm từ bi. Cái tâm từ bi không điều kiện ấy gọi là tâm Phật. Phật thương chúng sanh không thấy, không biết thật tướng của các pháp, tương lai sẽ đoạ lạc năm đường; thương chúng sanh cứ măi chấp trước, bám víu vào các pháp, phân biệt thủ xả; v́ vậy, Phật khai thị, giáo hoá cho chúng sanh có được trí tuệ để thấy được tướng thật của các pháp.


Tự tính          Own nature    自性    svabhāva, sva-lakṣaṇa
Chỉ cho bản tính của tự thể. Tông Duy thức phần nhiều gọi là là Tự tướng. Tức mỗi pháp trong các pháp đều có cá tính thuần tuư vô tạp, chân thực bất biến, gọi là Tự tính.
Tự tính của các pháp là Không tính, v́ các pháp đều do nhân duyên tạo thành.
Tự tính là bản thể của tâm vô h́nh vô thanh cùng khắp thời gian không gian, cái dụng cũng cùng khắp như thế, chẳng cần qua tác ư mà ứng dụng tự động. Tự tính này ở nơi chúng sinh và chư Phật b́nh đẳng bất nhị.

Tam đồ      trois voies     three destinies    三塗    
Ba đường. Đồng nghĩa với Tam ác đạo (ba đường ác).
1. Hoả đồ: Tức đường địa ngục. Chúng sinh ở đây chịu khổ nung nấu như bị bỏ vào vạc dầu sôi, ḷ than hồng; hoặc ở đây có rất nhiều đống lửa lớn thiêu đốt tội nhân, v́ thế gọi là Hoả đồ.
2. Đao đồ: Tức đường ngă quỉ. Chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ đánh chém bằng dao gậy và bức bách xua đuổi, cho nên gọi là Đao đồ.
3. Huyết đồ: Tức đường súc sinh. V́ chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn nuốt lẫn nhau, uống máu của nhau nên gọi là Huyết đồ.

Tam độc      Trois poisons    Three poisons    三毒    
Chỉ cho 3 thứ phiền năo: Tham dục, sân hận, ngu si. Tất cả phiền năo gọi chung là ĐỘC, nhưng 3 thứ phiền năo này có khắp 3 cơi, là thứ độc hại nhất trong thiện tâm xuất thế của chúng sinh, thường khiến loài hữu t́nh chịu khổ trong nhiều kiếp không thoát ra được, cho nên đặc biệt gọi là Tam độc. Ba thứ độc này là nguồn gốc của 3 hành vi xấu ác: thân bất thiện, khẩu khẩu bất thiện, ư bất thiện, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn, đứng đầu các phiền năo căn bản.

Tam đức      trois vertus         三德    triguṇa
I. Ba đức tướng của Đại niết bàn:
1. Pháp thân: Thân vốn có sẵn của tất cả mọi chúng sinh, nhưng chỉ khi nào tu tập thành tựu mọi pháp công đức mới chứng được pháp thân này.
2. Giải thoát: Cởi bỏ tất cả mọi sự trói buộc của phiền năo.
3. Bát nhă: Trí tuệ giác ngộ.
II. Ba đức tướng của quả vị Phật:
1. Trí đức: Trí tuệ của Phật quán xét tất cả các pháp. Phật dùng trí tuệ này để cứu độ chúng sinh, nên gọi là Trí đức.
2. Đoạn đức: Đoạn diệt tất cả mọi phiền năo th́ có được công đức vô lượng.
3. Ân đức: Nguyện lực cứu độ chúng sinh, ban ân huệ cho tất cả chúng sinh. Cho nên, chư Phật, Bồ tát có ân đức rất lớn đối với chúng sinh.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27