Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Thất mạn      sept arrogances         七慢    
7 loại tâm lư thể hiện sự cao ngạo, tự măn, gồm:
1. Mạn: Đối với người kém hơn ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người bằng ḿnh th́ nghĩ ḿnh bằng họ. Cái tâm lư này xem ra rất tự nhiên, không thể nói là xấu, thế nhưng, khi tâm lư này biểu hiện, nó thường có ư cao ngạo, v́ vậy mà không tốt.
2. Quá mạn: Đối với người bằng ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người hơn ḿnh, nghĩ ḿnh bằng họ.
3. Mạn quá mạn: Đối với người hơn ḿnh, nghĩ họ thua ḿnh.
4. Ngă mạn: Cho năm uẩn là ta, của ta.
5. Tăng thượng mạn: Chưa chứng quả mà tự cho ḿnh đă chứng quả, chưa đoạn trừ hết phiền năo mà nói ḿnh đă hết phiền năo.
7. Tà mạn: Không có đức độ, lại buông lung làm việc ác, mà tự cho ḿnh có đức độ.
Những người nào có tâm mạn nói trên, nếu không theo học với bậc thiện tri thức, không hành đạo xuất ly, th́ không bao giờ thoát khỏi sinh tử luân hồi.

 

Thất nạn      sept désastres        七難    
7 loại tai nạn.
I. Theo Kinh Nhân vương bát nhă, 7 nạn là:
1. Nhật nguyệt thất độ nạn: Mặt trời, mặt trăng vận hành không đúng theo quĩ đạo, có khi mặt trời màu đỏ, khi màu đen, khi không có ánh sáng.
2. Tinh tú thất độ nạn: Tinh tú vận hành không theo quĩ đạo, xuất hiện nhiều sao lạ hay các sao không di chuyển sai vị trí...
3. Hoả tai nạn: Hoả hoạn bùng phát, thiêu rụi vạn vật.
4. Vũ thuỷ biến dị nạn: Sóng thần, tan băng, mực nước tăng nhấn ch́m vạn vật.
5. Ác phong nạn: Gió độc nổi lên, thổi đến đâu th́ chúng sinh, sông núin cây cỏ... đều chết hết.
6. Càn dương nạn: Hạn hán kéo dài, trăm loài thảo mộc đều khô héo, ngũ cốc không thể sinh sản.
7. Ác tặc nạn: Giặc cướp nổi loạn, khủng bố, bốn phương đều có quân phiến loạn, phần tử cực đoan khiêu chiến, khiến chiến tranh bùng nổ.
II. Theo Kinh Dược sư lưu ly quang như lai bổn nguyện công đức, 7 nạn là: 1. Dịch bệnh, 2. Chiến tranh, 3. Nội loạn, 4. Xuất hiện tinh tú quái dị, 5. Nhật thực, nguyệt thực thường xuyên, 6. Gió mưa thất thường, thời tiết thay đổi, 7. Hạn hán kéo dài.
III. Theo Kinh Pháp hoa, 7 nạn là: Nạn lửa, nạn nước, nạn quỷ La sát, nạn chiến tranh, nạn ma quỷ, nạn tù tội tra tấn, nạn cướp bóc.
IV. Theo Kinh Đà la ni tập, 7 nạn là: Nạn vua chúa ác độc, nạn giặc cướp, nạn nước, nạn lửa, nạn quỷ La sát, nạn bùa chú cậy thế lực ma ám hại, nạn thuốc độc.

  即七種災難。<一>仁王般若經卷下受持品所載之七難,即:(一)日月失度難,日月之運行失時,或赤日出、黑日出,或日蝕無光。(二)星宿失度難,二十八宿失度,金星、彗星等諸星各各變現。(三)災火難,即大火燒國,萬姓燒盡。(四)雨水變異難,即大水漂沒百姓。(五)惡風難,大風吹殺萬姓,國土、山河、樹木一時滅沒。(六)亢陽難,即百草亢旱,五穀不登。(七)惡賊難,四方賊來侵國,刀兵劫起。 <二>藥師琉璃光如來本願功德經亦說七難,即:(一)人眾疾疫難,(二)他國侵逼難,(三)自界叛逆難,(四)星宿變怪難,(五)日月薄蝕難,(六)非時風雨難,(七)過時不雨難。<三> 法華經普門品亦載七難,即:火難、水難、羅剎難、刀杖難、鬼難、枷鎖難、怨賊難。<四> 依陀羅尼集經卷十所載之七難為:王難、賊難、水難、火難、羅剎難、荼枳儞鬼難、毒藥難。

Thất nghịch      sept fautes capitales        七逆    
7 tội ngỗ nghịch. C̣n gọi là Thất nghịch tội, Thất giá.
1. Làm tổn thương thân thể của Phật, làm thân Phật chảy máu (ngày nay được hiểu là đập phá tượng Phật, in ấn tượng Phật lên bao b́ thương mại...)
2. Giết cha.
3. Giết mẹ.
4. Giết Hoà thượng.
5. Giết thầy Giáo thọ (thầy giảng sư hoằng pháp).
6. Phá hoại sự hoà hợp của Tăng đoàn.
7. Giết Thánh tăng.

  又作七遮罪、七遮。略作七逆。乃不順理行,能障礙受戒之七種重罪。即:(一)出佛身血,(二)殺父,(三)殺母,(四)殺和尚,(五)殺阿闍梨,(六)破羯磨轉法輪僧,(七)殺聖人。止觀輔行傳弘決卷二之一(大四六‧一八四中):「言五逆者,謂殺父、殺母、殺阿羅漢、破僧、出血。(中略)若大乘中加殺和尚及阿闍黎,以為七逆。」蓋以和尚與阿闍梨為授戒師,若曾殺害者,對現前之戒師亦不生慇重心,從而不能得戒,故稱遮罪。〔梵網經卷下、梵網經菩薩戒本疏卷下(法藏)〕

Thất tài              七財     sapta-dhanāni
C̣n gọi Thất thánh tài.
Chỉ cho bảy loại tài sản của một người Phật tử.
Bảy loài tài sản này có khả năng đưa người Phật tử đến địa vị của bậc Thánh, nhanh chóng đạt thành quả vị Phật, nên gọi là Thánh tài.
1. Tín tài: Chỉ tín tâm. Niềm tin là một thứ tài sản rất quư giá. Mất niềm tin là mất tất cả. Đặc biệt là phát sanh được niềm tin đối với chánh pháp, một niềm tin thanh tịnh, niềm tin này là vốn liếng để thành Phật đạo.
2. Giới tài: Chỉ giới luật của Phật chế. Giới luật có khả năng ngăn ngừa tội lỗi của ba nghiệp, bảo vệ căn lành, là tư lương rất quư trên con đường đi đến giải thoát.
3. Tàm tài: Chỉ cho cái tâm biết xấu hỗ. Ḷng tự trọng, biết liêm sĩ, biết thẹn với ḷng ḿnh là một tài sản quư báu để làm đồ trang sức cho ḿnh;
4. Quư tài: Chỉ cho cái tâm biết xấu hỗ với người khác.
5. Văn tài: Nghe chánh pháp sẽ giúp ḿnh mở mang hiểu biết, làm giàu có thêm tri thức và vốn sống của ḿnh.
6. Xả tài: Giữ tâm b́nh đẳng, buông bỏ ư niệm yêu, ghét, thực hành bố thí. Tài sản quư báu nhất là cái ḿnh cho đi, chứ không phải cái nhận về.
7. Tuệ tài: Trí tuệ thấy rơ thực tướng của các pháp, phá nát những thành tŕ tà kiến là sản quư báu nhất của người con Phật.
Kinh Trung A-hàm, quyển 21, ghi lại lời của Đức Phật cho tôn giả A-nan, rằng: 'Đây là bảy loại tài sản, thầy hăy dạy cho các thầy Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu các Tỳ-kheo niên thiếu được học về bảy loại tài sản này họ sẽ được an ổn, được sức mạnh, được hạnh phúc, thân tâm không bị phiền năo làm cho nóng bức, suốt đời sẽ sống phạm hạnh thanh tịnh'.

  梵 sapta-dhanāni,巴 satta dhanānī,藏 nor-bdun)指佛教徒的七種行爲規範。即信、戒、慚、愧、聞、舍、慧。這七種行爲規範可以助成聖果,使行者早成佛道。故以財爲喻,謂之七財,或七聖財、七德財。茲略釋如下︰<#>(1)信財︰指信心。于如來正法生淨信,以爲成佛之資。<#>(2)戒財︰指如來之禁戒。能防止三業之非,保持善根,以爲解脫之資糧。<#>(3)慚財︰指羞耻心。謂羞于己非,與‘愧’相對;或謂慚天愧人,或謂慚己愧他。既有十足慚愧心,則不敢造作諸惡業。<#>(4)愧財︰即羞愧心。<#>(5)聞財︰聽聞正法,引發妙解,如說修行。<#>(6)舍財︰心持平等,無憎愛吝惜之念,隨所求而施。<#>(7)慧財︰指智慧。以智慧照了諸法,破諸邪見,成就正見,以爲佛道之資。<#>《中阿含經》卷二十一〈說處經〉載佛敕阿難雲(大正1·565b)︰‘此七財,汝當爲諸年少比丘說以教彼,若爲諸年少比丘說教此七財者,彼便得安隱、得力、得樂、身心不煩熱,終身行梵行。’<#>又,《華嚴孔目章》卷二〈七財章〉以爲上述七財,乃三乘教之義。若依一乘別教,則財義無盡。如《華嚴經》所載,有道場神示其寶藏,乃使善財童子取用不盡。<#>[參考資料] 《長阿含經》卷九;《法句譬喻經》卷一;《十誦律》卷五十;《集異門足論》卷十六;《菩薩瓔珞本業經》卷下〈因果品〉;《大寶積經》卷四十二;《俱舍論光記》卷十八;《大乘義章》卷十二;《瑜伽師地論》卷十四。

Thất t́nh              七情     
Chỉ bảy loại tâm lư t́nh cảm biểu hiện khi đối diện với những điều thị phi, lợi hại. Khi đứng trước những điều thị phi, đứng trước những điều khen chê, hay đứng trước những danh lợi, con người thường có những tâm lư sau đây: Hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục.
- 1. Hỷ, tức vui vẻ; 2. Lạc, tức hạnh phúc; 3. Ái, thức yêu thích, 4. Dục, tức tham muốn, đối với những điều ḿnh thích, ḿnh ưa, hay được người ta khen ngợi. Hoặc sẽ,
- 5. Nộ, tức giận dữ, 6. Ai, tức lo âu, buồn rầu, 7. Ố, tức ganh ghét, đố kỵ, đối với những điều ḿnh không ưa, những người ḿnh không thích...

 

Thất t́nh lục dục              七情六欲    
Thất t́nh là bảy loại tâm lư t́nh cảm hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục (xem mục Thất t́nh).
Lục dục là sáu đối tượng tham muốn của con người, gồm:
1. Sắc dục: thấy màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, hay nhan sắc của người nam, người nữ... là khởi ḷng tham muốn.
2. H́nh mạo dục: thấy h́nh dung đoan chính, mỹ miều th́ khởi sinh ḷng tham muốn.
3. Oai nghi tư thái dục: thấy đi, đứng, nằm, ngồi, nói, cười... mà sinh ḷng tham muốn.
4. Ngữ ngôn âm thanh dục: nghe âm thanh tiếng hát, lời ca, điệu ngâm hay lời nói thêu gấm thêu hoa, ngọt ngào, gợi t́nh gợi ư... mà sinh ḷng đắm nhiễm.
5. Tế hoạt dục: nam nữ xúc chạm da thịt cảm giác mềm mại, mịn màng... khởi sinh ḷng tham muốn.
6. Nhân tướng dục: thấy h́nh dáng nam, nữ đáng yêu, dễ thương... th́ sinh ḷng tham muốn.

 

Thập ác nghiệp      Dix mauvaises actions    ten evil deeds    十惡業    daśa akuśala-karmāni
10 nghiệp ác:
1. Sát sinh; 2. Trộm cắp; 3. Tà dâm; 4. Nói dối; 5. Nói lời ác (nói tục); 6. Nói ly gián; 7. Nói dụ dỗ; 8. Tham dục; 9. Sân hận; 10. Tà kiến.

  佛教對世間惡行的總稱。它是以三種身業(殺生、偷盜、邪淫)、四種語業(妄語、惡口、兩舌、綺語)及三種意業(貪欲、嗔恚、邪見)所組成的。又稱十惡道、十惡業道、十惡根本業道或十黑業道。

Thập bát bất cộng pháp              十八不共法    
Là 18 năng lực đặc thù duy chỉ Phật hoặc Bồ-tát mới có, c̣n Thanh văn, Duyên giác không có.
I. 18 pháp bất cộng của Phật:
Gọi đủ là Thập bát bất cộng phật pháp (18 pháp bất cộng của Phật). Nội dung 18 pháp này giữa Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa có sự khác biệt.
a. Theo Phật giáo Đại thừa:
Căn cứ Đại phẩm bát-nhă kinh, quyển 5; Đại trí độ luận, quyển 6; Đại thừa nghĩa chương, quyển 20; Pháp giới thứ đệ, quyển hạ… ghi chép, th́ 18 pháp bất cộng của Phật là:
1. Thân vô thất: Thân không lỗi lầm. Nghĩa là, từ vô lượng kiếp đến nay, Phật thường lấy Giới, Định, Tuệ, Từ bi… để tu tập trang nghiêm thân ḿnh, tất cả mọi công đức đều viên măn, tất cả moi phiền năo đều đă diệt hết.
2. Khẩu vô thất: Miệng không có lỗi lầm. Nghĩa là, Phật có đầy đủ vô lượng trí tuệ biện tài, thuyết pháp tùy theo căn cơ của chúng sanh, khiến cho tất cả đều được chứng ngộ.
3. Niệm vô thất: Ư không lỗi lầm. Nghĩa là, Phật tu các thiền định thâm sâu, tâm không tán loạn, đối với các pháp tâm không c̣n vướng mắc, đắc an ổn đệ nhất nghĩa.
4. Vô dị tưởng: Không có ư phân biệt. Nghĩa là, Phật phổ độ một cách b́nh đẳng đối với tất cả chúng sanh, tâm không lựa chọn.
5. Vô bất định tâm: Tâm luôn ở trong định. Nghĩa là, Phật luôn đi, đứng, nằm, ngồi trong thiền định.
6. Vô bất tri dĩ xả: Xả tất cả những điều đă biết. Đối với tất cả các pháp, Đức Phật đều biết hết rồi mới xả, không một pháp nào được biết rồi mà không xả.
7. Dục vô giảm: Ước muốn độ sinh không giảm sút. Dù Phật đă đầy đủ tất cả mọi công đức, nhưng đối với các pháp, ư chí tu học chưa từng giảm sút và ước muốn độ sinh tâm không mệt mỏi.
8. Tinh tấn vô giảm: Tinh tấn không giảm. Thân tâm của Phật tràn đầy sức tinh tấn, thường độ tất cả chúng sinh, chưa từng dừng nghỉ.
9. Niệm vô giảm: Trí nhớ không giảm. Đối với pháp của ba đời chư Phật, Phật thường ghi nhớ, giữ ǵn không bao giờ khuyết giảm.
10. Tuệ vô giảm: Phật có đủ tất cả trí tuệ, vô lượng vô biên, không thể cùng tận.
11. Giải thoát vô giảm: Phật đă viễn ly tất cả phiền năo, chấp trước, đă giải thoát hoàn toàn hữu vi và vô vi.
12. Giải thoát tri kiến vô giảm: Trong tất cả những pháp đă giải thoát, Phật thấy biết một cách rơ ràng, phân biệt rơ ràng, không có ǵ trở ngại.
13. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả thân nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả khẩu nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
15. Nhất thiết ư nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả ư nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
(Phật tạo tác ba nghiệp thân, khẩu, ư bằng trí tuệ, trước hết ngài quán sát sự được – mất, sau đó tùy theo trí tuệ mà hạnh động, cho nên cả ba nghiệp đều khoog có lỗi lầm mà chỉ có lợi ích cho chúng sinh).
16. Trí tuệ tri quá khứ thế vô ngại: Trí tuệ của Phật thấy biết quá khứ không có ǵ chướng ngại.
17. Trí tuệ tri vị lai thế vô ngại: Trí tuệ của Phật thấy biết vị lai không có ǵ chướng ngại.
18. Trí tuệ tri hiện tại thế vô ngại: Trí tuệ của Phật biết hết hiện tại không có ǵ chướng ngại.
b. Theo Phật giáo Tiểu thừa:
Căn cứ Đại t́-bà-sa-luận, quyển 17; Câu-xá luận, quyển 27… ghi chép, 18 pháp bất cộng của Phật là Thập lực, Tứ vô sở úy, Tam niệm trụ và Đại bi.
II. 18 pháp bất cộng của Bồ-tát:
Theo Bảo vũ kinh, quyển 4:
1. Bố thí không theo sự chỉ bảo của người khác.
2. Tŕ giới không theo sự chỉ bảo của người khác.
3. Nhẫn nhục không theo sự chỉ bảo của người khác.
4. Tinh tấn không theo sự chỉ bảo của người khác.
5. Thiền định không theo sự chỉ bảo của người khác.
6. Bát-nhă không theo sự bảo của người khác.
7. Thực hành nhiếp sự để thu nhiếp tất cả chúng sinh hữu t́nh.
8. Hiểu rơ pháp hồi hướng.
9. Lấy phương tiện thiện xảo làm chủ, tự tại tu hành và khiến cho tất cả chúng sinh tu hành, đồng thời có khả năng thị hiện tối thượng thừa để được xuất ly.
10. Không bao giờ thối thất pháp Đại thừa.
11. Khéo léo thị hiện trong cơi sinh tử, niết-bàn nhưng vẫn thường an lạc; sử dụng ngôn ngữ, âm thanh khéo léo tùy thuận theo văn hóa thế tục mà ư nghĩa khác tục.
12. Trí tuệ dẫn đường, mặc dù thọ sinh vô số thân h́nh khác nhau nhưng không làm điều ǵ lỗi lầm.
13. Thân, khẩu, ư luôn luôn đầy đủ mười nghiệp thiện.
14. Để nhiếp hóa chúng sinh hữu t́nh, Bồ-tát không bao giờ từ bỏ chúng sinh, thường thực tập hạnh nhẫn chịu tất cả mọi khổ uẩn.
15. V́ thế gian mà thị hiện làm chỗ yêu thương, hạnh phúc.
16. Dù ở chung với phàm phu ngu si và Thanh văn, chịu không biết bao nhiêu khổ năo nhưng không đánh mất tâm nhất thiết trí, giống như ngọc báu kiên cố, thanh tịnh, trang nghiêm.
17. Nếu giáo cho tất cả pháp vương th́ lấy lụa và nước làm quán đảnh cho họ.
18. Không bao giờ xa ĺa tâm mong cầu chính pháp chư Phật thị hiện.

 

Thập bát giới      Dix-huit domaines     The eighteen dhātu    十八界    aṣṭādaśa dhātavaḥ
Chỉ cho 18 pháp trong thân con người là: 6 thức (nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ư thức), 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư căn), 6 cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp).
Giới nghĩa là chủng loại, chủng tộc. V́ 18 chủng loại này đều có tự tính khác nhau cho nên gọi là Thập bát giới. 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư có công năng phát sinh nhận biết; 6 cảnh đối tượng của sự nhận biết là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; và 6 thức là nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ư thức.

  謂六根六境六識也。龍舒心經謂眼識色處為眼識界,耳聞聲處為耳識界,並鼻識界、舌識界、身識界、意識界,謂之六識界。總為十八界。

Thập giới      Dix mondes-états    The ten essential qualities    十界    
10 thế giới mê và ngộ: Địa ngục giới, Ngạ quỷ giới, Súc sinh giới, A tu la giới, Nhân gian giới, Thiên thượng giới, Thanh văn giới, Duyên giác giới, Bồ tát giới và Phật giới. Trong đó, 6 cảnh giới đầu tiên thuộc về thế giới mê muội của phàm phu, tức là thế giới 6 đường luân hồi. C̣n 4 cảnh giới sau thuộc về thế giới giác ngộ của các bậc Thánh.

  指迷與悟之世界,可分為十種類,即:(一)地獄界,(二)餓鬼界,(三)畜生(傍生)界,(四)修羅界,(五)人間界,(六)天上界,(七)聲聞界,(八)緣覺界,(九)菩薩界,(十)佛界等十界。此中,前六界為凡夫之迷界,亦即六道輪迴之世界。後四界乃聖者之悟界,此即六凡四聖。或九界為因,後一界為果,稱「九因一果」。又密教以五凡五聖為十法界,是為密教十法界。五凡者,即地獄、餓鬼、畜生、人、阿修羅與天。五聖者,即聲聞、緣覺、菩薩、權佛、實佛。又有分為四類者,其順序為:四趣人天、二乘、菩薩、佛。亦有分為五類者,其順序為:三惡道(三途)、三善道、二乘、菩薩、佛。 地獄為地下牢獄,為受苦最重者。畜生是互相餌食,生存之苦亦重。餓鬼則是不得飲食,苦無休止者。修羅乃阿修羅之簡稱,為住於海中,嫉妒心強者。至於人,係苦樂參半者。天則享勝樂,但仍難免得苦。聲聞即聽聞佛所說之法而證悟者。緣覺乃觀因緣而悟者(又作獨覺)。菩薩為願他人成佛而修行者。佛則為自悟且能悟他者。天台宗認為十界各具有權實,權與實於本質上為一體,因此十界皆真實,故稱十界權實。又十界中、聲聞、緣覺二乘人,一般被認為無法成佛。但法華經卷一認為仍可成佛,故有十界眾生皆成佛之說,即所謂「十界皆成」。又天台宗以佛界為平等之真理,其他九界差別,乃因理隨緣而生之妄法,故須斷破,稱為緣理斷九。此為別教所說之方便教,非圓教之真實說法。(參閱「十界互具」458)

Thập hạnh      dix étapes de la pratique        十行     
10 hạnh tu lợi người, từ giai vị 21 đến giai vị 30 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát.
1. Hoan hỷ hạnh: Bồ tát dùng vô lượng công đức vi diệu của Như lai để vui vẻ, tuỳ thuận chúng sinh trong 10 phương.
2. Nhiêu ích hạnh: Bồ tát khéo léo làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.
3. Vô sân hận hạnh: Bồ tát tu hạnh nhịn nhục, không tức giận, khiêm nhường cung kính, không hại ḿnh hại người, đối với kẻ thù thường hay nhẫn nhịn.
4. Vô tận hạnh: Bồ tát tu hạnh tính tiến, phát tâm độ tất cả chúng sinh, đến đại Niết bàn, không biếng nhác, xao lăng.
5. Ly si loạn hạnh: Bồ tát thường trụ trong chính niệm không tán loạn, đối với tất cả pháp không mê muội, nhận lầm điên loạn.
6. Thiện hiện hạnh Bồ tát biết rơ pháp không, 3 nghiệp vắng lặng, không trói buộc, không tham đắm, nhưng cũng không bỏ việc giáo hoá chúng sinh.
7. Vô trước hạnh: Trải qua vô lượng kiếp cúng Phật cầu pháp, tâm không chán đủ, nhưng cũng dùng tâm vắng lặng quán xét các pháp, cho nên không đắm trước tất cả pháp.
8. Tôn trọng hạnh: Bồ tát tôn trọng thiện căn trí tuệ... thảy đều thành tựu, nhờ đó lại càng tiến tu hạnh lợi ḿnh lợi người.
9. Thiện pháp hạnh: Bồ tát chứng được 4 môn Đà la ni vô ngại, thành tựu các thiện pháp giáo hoá người khác để hộ tŕ chính pháp, làm cho hạt giống Phật không bị dứt mất.
10. Chân thực hạnh: Bồ tát thành tựu lời nói Đệ nhất nghĩa đế, nói đúng như việc làm, làm đúng như lời nói, nói và làm phù hợp nhau, sắc tâm đều thuận.
Tu thập hạnh có 4 mục đích:
1. Nhàm chán các pháp hữu vi.
2. Cầu đạo Bồ đề, đầy đủ Phật đức.
3. Muốn cứu độ chúng sinh trong đời hiện tại và ở đời vị lai.
3. Cầu thực tế, chứng pháp như.

  <一>菩薩修行之五十二階位中,指第二十一至第三十位所修之十種利他行。又作十行心。即:(一)歡喜行,菩薩以無量如來之妙德,隨順十方。(二)饒益行,善能利益一切眾生。(三)無瞋恨行,修忍辱,離瞋怒,謙卑恭敬,不害自他,對怨能忍。(四)無盡行,又作無屈撓行。菩薩行大精進,發心度一切眾生,令至大涅槃而無鬆懈。(五)離癡亂行,常住正念不散亂,於一切法無癡亂。(六)善現行,知無有法,三業寂滅,無縛無著,而亦不捨教化眾生。(七)無著行,歷諸塵剎供佛求法,心無厭足,而亦以寂滅觀諸法,故於一切無所著。(八)尊重行,尊重善根、智慧等法,悉皆成就,由之更增修二利行。(九)善法行,得四無礙陀羅尼門等法,成就種種化他之善法,以守護正法,令佛種不絕。(十)真實行,成就第一義諦之語,如說能行,如行能說,語行相應,色心皆順。 修十行之目的有四:(一)厭有為。(二)求菩提、滿佛德。(三)欲於現在、未來世中救度眾生。(四)求實際、證法如。以是故修諸行。有關菩薩於何階位修此十行,經論或以為三賢位之一,或六種性中之性種性,或五位中之資糧位。〔舊華嚴經卷十一之十行品、大佛頂首楞嚴經卷八、大乘義章卷十四、華嚴五教章卷二〕 <二>菩薩之十種修行。即:(一)信,信仰佛、法。(二)悲,拔眾生苦。(三)慈,施樂與眾生,對諸眾生而起眾生緣,知眾生無實體、自性而起法緣,觀五蘊之空而起無緣。(四)捨,行內外二施,令眾生心安。(五)不疲倦,指行世間、出世間之行而不疲倦。(六)知經書,指知五明。(七)知世智,知曉世間實際之事、義。(八)慚愧,恥罪過而生慚愧。(九)堅固力,自守佛道而不退失,更能向上轉進。(十)供養,供養諸佛及如其教說修行。〔舊華嚴經卷二十三、菩薩地持經卷三、卷七、十地經論卷三〕 <三>十行攝善法。即:(一)慈悲行(不殺生),(二)少欲行(不偷盜),(三)淨梵行(不邪淫),(四)諦語行(不妄語),(五)明慧行(不飲酒),(六)護法行(不說人過),(七)息惡推善行(不自讚毀他),(八)財法俱施行(不慳法財),(九)忍辱行(不瞋恚),(十)讚三寶行。〔禪戒篇〕 <四>又指身、口、意所行之十種惡行為,稱為十惡。

Thập hiệu Như Lai      titres honorifiques [dix] de Shakyamuni    ten epithets of the Buddha    十號如來    Daśa balāni
10 danh hiệu của một đức Phật.

1. Như lai (Tathāgata): Đức Phật không từ đâu đến và cũng không đi về đâu, nên gọi là Như lai (vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như lai). Cũng có nghĩa: Đức Phật đến (lai) từ sự thật (Như).

Nguyên tiếng Phạn, chữ tathāgata, có thể phân tích như sau: tathā-gata (như khứ) và tathā-āgata (như lai). Do đó, nếu giải thích theo chữ đầu tiên, th́ con đường đi từ chân như mà tiến đến quả vị Phật, Niết-bàn, gọi là Như Khứ; nếu giải thích theo chữ sau, th́ do chân lư mà xuất hiện (như thật mà đến), mà thành chánh giác, gọi là Như Lai.

Phật có nghĩa là từ chân lư mà đến, do chân như mà hiện thân, cho nên tôn xưng Phật là Như Lai.
Trường A-hàm, quyển 20, kinh Thanh Tịnh, ghi: Phật từ đầu hôm thành Vô thượng chánh giác (ở Bồ-đề đạo tràng) cho đến đêm cuối cùng (ở Câu-thi-na), trong khoảng thời gian đó có nói điều ǵ, th́ tất cả những điều ấy đều như thật, cho nên gọi là Như Lai. Lại nữa, Như Lai nói sự việc như vậy, sự việc như vậy mà nói, nên gọi là Như Lai.

Luận Đại Trí Độ, quyển 55, ghi: Thực hành 6 pháp ba-la-mật, đắc thành Phật đạo, cho nên gọi là Như Lai; trí tuệ biết tất cả các pháp Như, từ trong Như mà đến, nên gọi là Như Lai.

2. Ứng cúng (Arhat, A la hán): Xứng đáng nhận sự cúng dường của người, trời.

3. Chính biến tri (Samyaksaṃbuddha, tam miệu tam phật đà): Có năng lực biết rơ đúng đắn khắp tất cả các pháp.

4. Minh hành túc (Vidyācaraṇa-saṃpanna): Có đủ ba loại trí tuệ (thiên nhăn minh, túc mệnh minh, lậu tận minh) và hành nghiệp của thân, khẩu, ư đều thanh tịnh.

5. Thiện thệ (Sugata): Dùng Nhất thiết trí làm cỗ xe lớn, đi trên 8 con đường chân chính (bát chính đạo) mà vào Niết bàn.

6. Thế gian giải (Loka-vid): Biết rơ 2 loại thế gian là Chúng sinh thế gian và Không phải chúng sinh thế gian, cho nên biết sự h́nh thành và hoại diệt của thế gian và con đường ra khỏi thế gian.

7. Vô thượng sĩ (Anuttara): Trong các pháp, Niết bàn là vô thượng, trong tất cả chúng sinh, Phật là vô thượng.

8. Điều ngự trượng phu (puruṣa-damya-sārathi): Phật là bậc Đại từ, Đại trí, có khi dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời bi thiết, tạp ngữ... dùng mọi phương tiện điều phục, chế ngự người tu hành khiến họ đến Niết bàn.

9. Thiên nhân sư (śāstā deva-manuṣyāṇāṃ): Chỉ dạy chúng sinh điều ǵ nên làm, điều ǵ không nên làm, việc này thiện, việc này là bất thiện... giúp họ giải thoát phiền năo.

10. Phật Thế tôn (Buddha-bhagavat): Tức người đă tự giác ngộ, giúp cho người khác giác ngộ, giác ngộ và sự thực hành đi đến giác ngộ đều được viên măn, thấy biết tất cả các pháp trong ba đời, cho nên được người đời tôn trọng, cung kính.

  釋迦牟尼佛或諸佛通號之十大名號。又稱如來十號、十種通號。雖稱十號,然一般皆列舉十一號,即:(一)如來(梵 tathāgata),音譯多陀阿伽陀,謂乘如實之道而來,而成正覺之意。(二)應供(梵 arhat),音譯阿羅漢,意指應受人天之供養。(三)正遍知(梵 samyak-saṃbuddha),音譯三藐三佛陀,能正遍了知一切之法。(四)明行足(梵 vidyā-caraṇa-saṃpanna),即天眼、宿命、漏盡三明及身口之行業悉圓滿具足。(五)善逝(梵 sugata),乃以一切智為大車,行八正道而入涅槃。(六)世間解(梵 loka-vid),了知眾生、非眾生兩種世間,故知世間滅及出世間之道。(七)無上士(梵 anuttara),如諸法中,涅槃無上;在一切眾生中,佛亦無上。(八)調御丈夫(梵 puruṣa-damya-sārathi),佛大慈大智,時或軟美語,時或悲切語、雜語等,以種種方便調御修行者(丈夫),使往涅槃。(九)天人師(梵 śāstā deva-manuṣyāṇāṃ),示導眾生何者應作何者不應作、是善是不善,令彼等解脫煩惱。(十)佛(梵 buddha),即自覺、覺他、覺行圓滿,知見三世一切諸法。(十一)世尊(梵 bhagavat),即具備眾德而為世人所尊重恭敬。此外,諸經論中亦有僅列舉十號者,即將世間解、無上士合為一號,或將佛、世尊合為一號,或將無上士、調御丈夫合為一號等諸說。

Thập lực      Dix forces    Ten powers    十力    Daśa balāni
10 năng lực của Phật.
1. Như Lai biết như thật về xứ, phi xứ;
2. Biết như thật về việc thọ quả tạo nhân báo của nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại;
3. Biết như thật về nhiễm ác, thanh tịnh, xứ tịnh, của các thiền, giải thoát, tam-muội, chánh thọ;
4. Biết như thật những sai biệt căn tánh khác nhau của tất cả các loài chúng sinh;
5. Biết như thật về tất cả mọi ư giải của chúng sinh;
6. Biết như thật về tất cả các giới loại khác nhau của thế gian chúng sinh;
7. Biết như thật về tất cả chí xứ đạo;
8. Biết như thật về túc mạng, nhớ những sự khác nhau trong đời sống, từ một đời cho đến trăm, ngàn đời, từ một kiếp cho đến trăm, ngàn kiếp;
9. Bằng thiên nhăn hơn mắt người thường, thấy chúng sinh lúc sinh lúc chết, đẹp, xấu, thua, hơn, hướng về đường ác, hướng về đường thiện, theo nghiệp mà thọ báo, tất cả biết như thật;
10. Như Lai đă dứt sạch các lậu, tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, hiện tại tự chứng tri, thân tác chứng: ‘Ta, sự sinh đă dứt, phạm hạnh đă lập, những ǵ cần làm đă làm xong, tự biết không c̣n tái sinh kiếp sau nữa’

  指佛所具足的十種智力︰又稱如來十力、十神力。即 (1)處非處智力, (2)業異熟智力, (3)靜慮解脫等持等至智力, (4)根上下智力, (5)種種勝解智力, (6)種種界智力, (7)遍趣行智力, (8)宿住隨念智力, (9)死生智力, (10)漏盡智力。

Thập mục ngưu đồ      Les dix tableaux d'élevage de buffles    Ten Ox Herding Pictures    十牧牛圖    
Là mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng tương ứng với quá tŕnh hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Mỗi bức tranh có một bài tụng bằng thơ tứ tuyệt, và một bài chú giải bằng văn xuôi.
Tuy có nhiều bộ tranh khác nhau nhưng có thể xếp thành hai loại : bộ tranh Đại Thừa và bộ tranh theo khuynh hướng Thiền Tông.

1 - Chưa chăn
2 - Mới chăn
3 - Chịu phép
4 - Quày đầu
5 - Vâng chịu
6 - Không ngại
7 - Tha hồ
8 - Cùng quên
9 - Soi riêng
10 - Dứt cả hai

 

Thập như thị      Dix modalités d'expression de la vie    The ten essential qualities    十如是    
"Như" tức là chỉ một cái ǵ hằng cố, bất biến. ‘Thị’ có nghĩa ‘không sai lầm’ (vô phi). Như thị nghĩa là như thế, như vậy và cũng có nghĩa là: một cách nhất định, không hư hại, không lầm lạc. T́nh trạng hiện thật nguyên bản của các pháp gọi là ‘Như thị’. Ư nghĩa của ‘Thập như thị’ được biết đến trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiện. Kinh ghi: “Pháp mà chư Phật thành tựu là tối thắng đệ nhất, cực kỳ hiếm có và chúng sanh khó mà hiểu được. Chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu được tận gốc rễ về tướng chân thật của các pháp, bởi v́ các pháp có tướng như thị, tánh như thị, thể như thị, lực như thị, tác như thị, nhân như thị, duyên như thị, quả như thị, báo như thị, cứu cánh b́nh đẳng từ đầu đến cuối như thị".
1. Như thị tướng: Tướng của các pháp là như vậy. Tướng là tướng mạo, h́nh dáng bên ngoài, nh́n vào h́nh dáng bên ngoài để phân biệt được cái này với cái kia, pháp này với pháp kia. Chúng sinh ở trong mười giới đều có biểu hiện tướng khổ, tướng vui.
2. Như thị tánh: Tánh của các pháp là như vậy. Tánh là nằm bên trong, là tự tánh bên trong, bản tánh này không thay đổi, dù cho diện mạo bên ngoài có thay đổi. Chúng sanh qua lại trong mười giới, tự tánh của nó vẫn không thay đổi. Giống như trong cây có lửa, hội đủ nhân duyên, cọ sát đến một mức độ nào đó th́ lửa sẽ phát ra.
3. Như thị thể: Thể của các pháp là như vậy. Thể là thể chất, hay bản chất của sự vật.
4. Như thị lực: Lực của các pháp là như vậy. Các pháp đều có thể chất, nên nhất định có năng lực.
5. Như thị tác: Tạo tác như vậy: Các pháp phát huy năng lực th́ sẽ tương tác ra bên ngoài, sẽ tạo nghiệp.
6. Như thị nhân: Quá tŕnh tương tác sẽ tạo nên những cái nhân, nhân này sẽ là nguyên nhân khiến chúng sanh hiện hữu trong mười giới.
7. Như thị duyên: Những yếu tố hỗ trợ cho cái nhân gọi là duyên.
8. Như thị quả: Kết quả do nhân duyên tạo nên.
9. Báo như thị: Báo ứng của quả báo, tức là do nghiệp thiện, hoặc nghiệp ác sẽ chiêu cảm báo ứng vui hoặc khổ.
10. Bổn mạt cứu cánh như thị: Bắt đầu từ Tướng là gốc (bổn), sau hết Báo là cuối cùng (mạt), tất cả đều đưa đến hay quy về một cơi giới nào đó, gọi là cứu cánh, tức là nguyên lư quán thông cả chín pháp nêu trước.

 

Thập nhị bộ kinh      douze procédés     twelve divisions of the Buddhist canon    十二部經    dvādaśāṅga-buddha-vacana
12 thể loại kinh điển.
1. Kinh, Phạn sūtra, c̣n gọi là khế kinh, đây là thể loại kinh được nói (hay viết) theo thể văn xuôi mà ta vẫn thường gọi là văn trường hàng.
2. Trùng tụng, Phạn geya, c̣n gọi là ứng tụng, ca vịnh, tương ưng với khế kinh. Sau khi thuyết pháp xong, Đức Phật thường tóm tắt nội dung bài pháp thoại bằng một hoặc nhiều bài thơ, c̣n gọi là trùng phức hay chỉnh cú.
3. Kư thuyết, Phạn vyākaraṇa, c̣n gọi là kư biệt hay thọ kư, vốn chỉ cho sự giải thoát của giáo nghĩa, sau chỉ những lời Đức Phật ấn chứng cho các đệ tử trong tương lai.
4. Kệ tụng, Phạn gāthā, c̣n gọi là cô khởi, toàn bộ đều dùng kệ tụng để ghi lại những lời dạy của Đức Phật. Thể loại này khác với thể ứng tụng ở chỗ ứng tụng chỉ tóm lược nghĩa chính của văn trường hàng, c̣n kệ tụng th́ ghi lại toàn bộ nội dung pháp thoại.
5. Cảm hứng ngữ, Phạn udāna, c̣n gọi là tự thuyết. Đức Phật không đợi có người thưa hỏi pháp mới nói, mà tự ngài khai thị thuyết pháp cho đệ tử.
6. Như thị ngữ (Bổn sự), Phạn itivṛttaka, ghi lại hành trạng kiếp trước của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, hoặc những kinh được mở đầu bằng câu “Phật như thị thuyết”.
7. Bổn sinh, Phạn jātaka, ghi lại những hạnh đại bi trong những tiền kiếp Đức Phật đă tu hành.
8. Phương quảng, Phạn vaipulya, tuyên thuyết giáo nghĩa sâu rộng, uyên áo.
9. Vị tằng hữu, Phạn adbhuta-dharma, ghi lại những sự việc hy hữu của Đức Phật cùng với các đệ tử của Ngài.
10. Nhân duyên, Phạn nidāna, ghi lại nhân duyên Đức Phật thuyết pháp, giáo hoá, như phẩm tự của các kinh.
11. Thí dụ, Phạn avadāna, lấy h́nh ảnh thí dụ để làm sáng tỏ ư nghĩa của pháp.
12. Luận nghị, Phạn upadeśa, Đức Phật hoặc các đại đệ tử luận nghị, quyết trạch thể tánh của các pháp, phân biệt rơ ràng nghĩa lư của nó.

 

Thập nhị nhân duyên      La Coproduction conditionnée         十二因緣    dvadaśāṅga-pratītya-samutpāda
Phạm dvadaśāṅga-pratītya-samutpāda. C̣n gọi là Thập nhị hữu chi, Thập nhị nhân duyên. Chỉ cho 12 chi phần nương vào nhau mà sinh khởi: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, già chết.
1. Vô minh, Phạm avidyā, avijjā: Không có trí tuệ. Theo Phật giáo, không thấy, không biết, không hiểu bốn sự thật và duyên khởi là vô minh. Ngược lại vô minh là chánh kiến.
2. Hành, Phạm saṃskara, saṅkharā: Gồm thân hành, ngữ hành, ư hành, cũng gọi là ba nghiệp. Do vô minh, không hiểu biết nên thân, ngữ, ư gây tạo những điều sai lầm tội lỗi, tạo thành ba nghiệp. Hành ở đây không đơn giản chỉ là hành vi sai lầm mà c̣n bao hàm cả những hành vi tập quán c̣n lại từ nhiều kiếp trước. Bất cứ hành vi, kinh nghiệm nào mà chúng ta đă tạo tác chúng đều không bao giờ tiêu mất, mà nhất định được lưu lại và được bảo tồn dưới dạng chủng tử, khi chúng biểu hiện th́ nó là những tố chất h́nh thành nên tri năng, tính cách của ḿnh.
3. Thức, Phạm vijñana, viññna: Đây là thức lúc nhập thai (kết sinh thức). Thức này cũng được nói đến trong năm uẩn, trong mười tám giới, là thức thứ sáu, là tác dụng của nhận thức hoặc nhận thức chủ quan, yếu tố h́nh thành chủng tử đưa tới tái sinh.
4. Danh sắc, Phạm nāma-rūpa: Danh và sắc. Danh là tinh thần, gồm thọ, tưởng, hành, thức; sắc là vật chất, gồm đất, nước, gió, lửa. Duyên thức có danh sắc, tức là nhờ thức nhập thai mà một chúng sinh h́nh thành với đầy đủ năm uẩn.
5. Lục xứ, Phạm ṣaḍ-āyatana, c̣n gọi là lục nhập, lục nhập xứ: Sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Sáu căn là nơi tiếp thu đối tượng nên gọi là xứ.
6. Xúc, Phạm sparśa, phassa: Sáu căn tiếp xúc sáu trần h́nh thành sáu thức. Tức do căn, cảnh, thức hoà hợp mà có cảm giác, tri giác, và do tri giác mà h́nh thành nhận thức, quan điểm.
7. Thọ, Phạm cvedana: Tương đồng với yếu tố ‘thọ uẩn’ trong năm uẩn. Nó chỉ cho cảm thọ hạnh phúc, khổ đau, hay không vui không buồn khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Chẳng hạn, khi mắt tiếp xúc với h́nh sắc sẽ phát sinh ra cảm thọ, gọi là cảm thọ của mắt, cảm thọ này sẽ có ba trường hợp hoặc ưa thích, hoặc chán ghét, hoặc sẽ trung tính, không ưa không ghét. Đây là kết quả của nhận thức (trong chi phần Xúc ở trên), nhưng đối với cùng một sự vật lại có những nhận thức khác nhau rất lớn. Chẳng hạn, cùng một sự vật, khi tham muốn th́ cảm thấy ưa thích, nhưng khi nổi giận th́ cảm thấy đáng ghét. Thức này là nhận thức chủ quan, nhưng nó không giống như một tờ giấy trắng, mà nó kết hợp với những yếu tố vô minh và nghiệp (hành) của quá khứ để rồi phát sinh ra những tính cách tham dục, sân hận…
8. Ái, Phạm tṛṣṇā, taṇha: Cũng dịch là Khát ái. Ư muốn diễn tả giống như t́nh trạng một người khát nước đi t́m nước uống cho đỡ cơn khát. Gồm có sáu ái là ái sắc, ái thanh, ái hương, ái vị, ái xúc và ái pháp; hoặc là dục ái, hữu ái và vô hữu ái. Duyên với nhận thức mà phát sinh ra một thứ cảm thọ là ưa thích, không ưa thích, hoặc trung tính. Đối với cảm thọ không thích, cảm thấy khổ đau th́ chán ghét và ước muốn t́m cách tránh đi; c̣n đối với cảm thọ ưa thích th́ yêu mến và hy vọng t́m cầu cho được. Trạng thái tâm hy vọng t́m cầu hết sức mạnh mẽ đó được gọi khát ái. Cũng chính v́ ‘khát ái’ biểu thị đối với cảm thọ khổ, lạc mà sinh ra ư niệm thương, ghét.
9. Thủ, Phạm upādāna: Nắm giữ, ôm giữ lấy. Gồm có Dục thủ (tham muốn, t́m cầu và ôm giữ sắc, thanh, hương, vị, xúc (ngũ dục); Kiến thủ (chấp giữ những quan điểm, kiến thức, hiểu biết thế gian, không phải Phật giáo, không đưa đến giác ngộ, giải thoát); Giới cấm thủ (chấp giữ những giới luật không phải của Phật giáo, không đưa đến giải thoát và gây khổ đau cho ḿnh, cho người, cho muôn loài); Ngă ngữ thủ (chấp giữ những lư thuyết hay quan điểm về bản ngă linh hồn, cho rằng mỗi người có một linh hồn đang sống). Ái là trạng thái khao khát ở trong tâm, làm phát sinh ra ư niệm thương ghét; c̣n Thủ là hành động thực tế tương ứng với ư niệm thương ghét đó, hoặc sẽ chiếm đoạt, hoặc sẽ ghét bỏ đối tượng mà ḿnh yêu thích hay không yêu thích. Những hành vi của thân và khẩu như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời hung ác, nói lời gây mâu thuẫn, nói những lời dụ dỗ… đều được thúc đẩy bởi ‘Thủ’. Có thể nói ‘Thủ’ chính là yếu tố tạo nghiệp.
10. Hữu, Phạm bhava: Có nghĩa là tồn tại. Có ba cơi giới chúng sinh tồn tại trong đó là Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu. Hữu là thế giới trong đó có sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng, cùng nghĩa với chữ ‘hành’ (trong chư hành), hay ‘hữu vi’. Mười hai nhân duyên đều gọi là ‘hữu’, bởi v́ Mười hai nhân duyên c̣n vận hành là c̣n sự hiện hữu của chúng sinh hữu t́nh và vô t́nh trong ba cơi, cho nên Mười hai nhân duyên c̣n có tên là Thập nhị hữu chi. Ở đây, về phương diện ư thức, có thể phân làm Nghiệp hữu và Báo hữu. Nghiệp hữu là chỉ cho những hành vi tạo nghiệp thiện, ác; Báo hữu là kết quả, là quả báo của nghiệp thiện, ác. Như vậy, ‘Hữu’ đồng nghĩa với ‘Hành’. Nghiệp hữu bao hàm ba nghiệp thân, ngữ, ư và nó lưu giữ một năng lực, và chính cái năng lực này nó sẽ trở thành những tố chất h́nh thành nên tri năng, tính cách… của một chúng sinh. Quá tŕnh lựa chọn hành vi thực tế của chi Thủ sẽ tích luỹ một thứ năng lượng bên trong chi Hữu. Cho nên, chi Hữu không những là chứa đựng tập quán quá khứ mà c̣n quy định, phát triển hành vi tương lai, hay nói cách khác là nó tích luỹ một thứ năng lực dẫn đến tái sinh; trong sự sống mới nó biểu hiện những tính cách… c̣n lưu lại thuở quá khứ.
Hai chi Thủ và Hữu có thể nói là tương đương với chi Hành. Chi Ái th́ tương đương với chi Vô minh.
11. Sinh, Phạm jāti: Sự sống của chúng sinh hữu t́nh trong giống loại của chúng. Ở ư nghĩa này, sự sống của chúng sinh hữu t́nh chính là biểu hiện của toàn bộ kinh nghiệm c̣n lại của quá khứ, bao gồm tri năng, tính cách, thể chất… Cho nên, mỗi cá nhân đều có một tố chất nhất định. Một ư nghĩa khác của Sinh là chỉ cho kinh nghiệm sản sinh ra trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của mỗi chúng sinh hữu t́nh. Ở ư nghĩa này, Sinh là tố chất (Hữu) của mỗi cá nhân được tích luỹ làm cơ sở cho kinh nghiệm cuộc sống mới. Một cách tổng quát, cả hai ư nghĩa trên đều nói đến một sự sống mới, trong tương lai gần là hiện tại và tương lai xa là tái sinh.
12. Già chết, Phạm jārā-maraṇa: Già là tóc bạc, đầu hói, da nhăn, các căn suy sụp, tay chân yếu ớt, lưng c̣m, đầu cúi, rên rỉ, hơi thở ngắn, mệt nhọc, chống gậy đi, thân thể đen sạm, tay chân nổ ban đốm, lú lẫn, làm việc ǵ cũng khó khăn, kém cỏi. Chết là mỗi mỗi chúng sinh kia nơi mỗi mỗi chủng loại thân kia chết đi, tuổi thọ chấm dứt, thân hoại, đổi dời, hơi ấm ĺa thân, mệnh sống kết thúc, là đă đến lúc từ bỏ cái ấm thân. Trong kinh Duyên khởi, sau già chết c̣n có thêm sầu (soka), bi (parideva), khổ (dukkha), (domanassa), năo (upāyāsa), tức là trong diễn tŕnh của sự sống, từ khi sinh cho đến già chết, chúng sinh gánh chịu bao khổ đau, phiền năo.
Tóm lại, Vô minh, Hành và Ái, Thủ, Hữu là những tư tưởng và hành vi sai lầm, nhất định sẽ đưa đến quả báo khổ năo.
Trong kinh điển Nguyên thuỷ, có rất nhiều bộ kinh ghi lại một cách đầy đủ và chi tiết những lời dạy của Đức Phật về giá trị của 12 duyên khởi. Và Đức Phật khi nào cũng nói đến các mối quan hệ duyên khởi theo hai cách: Lưu chuyển và Hoàn diệt. Tuỳ theo bối cảnh thuyết pháp, Đức Phật có thể nói duyên khởi theo mối quan hệ hai chi, ba chi, bốn chi, năm chi, cho đến chín chi, mười chi, mười hai chi, thậm chí c̣n nhiều hơn. Chẳng hạn, trong giáo lư Tứ diệu đế cũng có giáo lư duyên khởi, và duyên khởi được tŕnh bày trong đó chỉ có hai chi: Khát ái (tập đế) là nguyên nhân dẫn đến sự lưu chuyển trong khổ đau (khổ đế); ngược lại, bát chánh đạo (chánh kiến, hay minh, đạo đế) là con đường đi đến ái diệt (niết bàn, diệt đế). Có rất nhiều kinh, cũng như trong kinh nói về Tứ diệu đế, Đức Phật không hề dùng đến từ ‘duyên khởi’, nhưng lại giảng rất rơ ràng về mối quan hệ duyên khởi.

 

Thập nhị xứ      douze entrées    twelve sense fields    十二處    dvādaśa āyatanani
Cũng gọi Thập nhị nhập, Thập nhị nhập xứ.
12 pháp nuôi lớn tâm và tâm sở. Xứ, Phạm āyatana, có nghĩa là nuôi nấng, sinh trưởng. Thập nhị xứ gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu xứ trước gọi là 6 căn, tức cơ quan cảm giác thuộc về chủ quan, là chỗ nương tựa của tâm, tâm sở, được gọi là Lục nội xứ (6 chỗ bên trong); sáu xứ sau là 6 cảnh, tức các đối tượng của nhận thức thuộc về khách quan, là chỗ mà tâm, tâm sở duyên theo, được gọi là Lục ngoại xứ (6 chỗ bên ngoài).

  指六根加六境。又作十二入、十二入處。處為梵語 āyatana 之譯,乃養育、生長之意。即長養心、心所之法,計分為十二種,乃眼、耳、鼻、舌、身、意、色、聲、香、味、觸、法等處。前六處為六根,係屬主觀之感覺器官,為心、心所之所依,有六內處之稱;後六處為六境,屬客觀之覺知對象,為心、心所之所緣,稱六外處。此十二處攝盡一切法,若配於五蘊,眼、耳、鼻、舌、身、色、聲、香、味、觸等十色處,相當於色蘊;意處即為識蘊,賅攝六識及意界之七心界;法處為受、想、行三蘊,即賅攝四十六心所、十四不相應行、無表色及三無為等六十四法。〔雜阿含經卷十三、大毘婆沙論卷七十一〕

Thập sử              十使    
C̣n gọi là Thập đại hoặc, Thập căn bản phiền năo.
10 thứ phiền năo lớn nhất, 10 thứ phiền năo căn bản sai khiến chúng sinh làm điều sai trái, tội lỗi. 10 sử này phân làm hai phần, lợi sử và độn sử. Tham, sân, si, mạn, nghi gọi là Ngũ độn sử. Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến gọi là Ngũ lợi sử.

  又曰十大惑。亦曰十根本煩惱。此中分利鈍二種。貪瞋痴慢疑五者,謂之五鈍使。身見,邊見,邪見,見取見,戒禁取見五者,謂之五利使。見五利使及五鈍使條。

Thập thần lực      dix pouvoirs supranaturels du bouddha         十神力    
1. Chỉ cho mười thần lực biến hoá của đức Phật sau khi giảng xong kinh Pháp hoa:
1. Hiện tướng lưỡi rộng dài đến tận cơi trời Phạm thế.
2. Từ vô số lỗ chân lông phóng ra vô số tia sáng nhiều màu sắc, chiếu khắp các thế giới trong 10 phương.
3. Thu nhiếp tướng lưỡi và đằng hắng.
4. Khảy móng tay.
5. Do 2 âm thanh đằng hằng và khảy móng tay mà mắt đất rúng động 6 cách.
6. Do sự rúng động này mà chúng sinh ở khắp các thế giới trong 10 phương đều đến nhóm họp.
7. Trời, Rồng, Dạ xoa... thấy sự trang nghiêm của pháp hội này, trăm ngh́n muôn ức Bồ tát và các tứ chúng cung kính vây quanh đức Phật Thích ca mâu ni, sinh tâm vui mừng và ở trong hư không xướng lên những lời khuyến khích lễ bái cúng dường Phật Thích ca mâu ni.
8. Các chúng sinh nghe tiếng trong hư không, chắp tay hướng về thế giới Ta bà, quy mệnh xưng danh.
9. Từ xa rải các thứ hoa hương, anh lạc, phan lọng... vào cơi Ta bà.
10. Các thế giới ở 10 thông suốt vô ngại như một cơi Phật.
2. Chỉ cho 10 lực của Như lai và Bồ tát.
(Xem "Thập lực")

  <一>指佛演說法華經後,示現之十種神變。即:(一)出廣長舌,上至梵世。(二)由無數毛孔放無數色光,遍照十方世界。(三)攝舌相而謦欬。(四)彈指。(五)由謦欬及彈指之二音聲,地起六種震動。(六)由震動而普遍十方世界之眾生皆來會。(七)天龍、夜叉等見此盛會之莊嚴,百千萬億之菩薩及諸四眾恭敬圍繞釋迦牟尼佛,生大歡喜心,於虛空中高唱奉勸禮拜恭養釋迦牟尼佛。(八)諸眾生聞虛空中之聲,合掌向娑婆世界,歸命稱名。(九)以種種之華香、瓔珞、幡蓋等遙散娑婆世界。(十)十方世界通達無礙,如一佛土。〔法華經神力品、法華文句記卷二十九〕 <二>指如來與菩薩之十力。


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27