Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Phật      Bouddha    Buddha    佛    Buddha
Gọi đủ là Phật đà: Người giác ngộ chân lư, là bậc Đại thánh đầy đủ sự tự giác ngộ, giúp người khác giác ngộ, và có phương pháp để đạt được sự giác ngộ một cách viên măn.
Phật là người thấy biết tính và tướng của hết thảy các pháp đúng như thật, thành tựu Đẳng chánh giác, là quả vị cao nhất của Phật giáo.

 

Phật A Di Đà      Bouddha Amitabha    Amitabha Budha    阿彌陀佛    Amitābha Budha
Đức Phật A-di-đà là vị giáo chủ thế giới Cực Lạc nằm ở phương Tây của thế giới này, c̣n gọi là thế giới Tịnh độ. A-di-đà dịch ư có nghĩa là vô lượng quang (ánh sáng vô lượng, biểu trưng cho trí tuệ rộng lớn), vô lượng thọ (tuổi thọ không hạn lượng, biểu thị định lực thâm sâu), và vô lượng công đức (biểu thị giới đức giải thoát). Hiện nay, Ngài cùng với hai vị Bồ-tát là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đang giáo hóa chúng sinh ở Tịnh độ Cực Lạc. Quư Ngài có bi nguyện vĩ đại là tiếp độ tất cả những chúng sinh về thế giới Cực Lạc.

Theo kinh Vô lượng thọ, trước khi thành đạo, Phật A-di-đà vốn là một vị vua, nhờ được Đức Phật Thế Tự Tại khai thị mà phát tâm xuất gia cầu đạo vô thượng, có pháp danh là Pháp Tạng. Trong khi tu hành, Tỳ-kheo Pháp Tạng đă quan sát 210 ức cơi Tịnh độ của chư Phật và những hạnh thanh tịnh để thành tựu cơi nước vi diệu đó, rồi phát ra 48 đại nguyện, thệ nguyện kiến lập một thế giới trang nghiêm, cực lạc, để cứu độ tất cả chúng sinh niệm danh hiệu của Ngài. Trải qua vô số kiếp nỗ lực tu tập, một ḷng chuyên chí trang nghiêm Tịnh độ, cho nên, cách đây mười kiếp, Tỳ-kheo Pháp Tạng đă thành Phật, hiệu là A-di-đà, cơi Tịnh độ tên là Cực Lạc, nằm ở Phương tây, cách thế giới Ta-bà khoảng mười vạn ức cơi Phật. Bởi 48 lời thề nguyện sâu xa và rộng lớn, mà đặc biệt là điều nguyện thứ 18: "Nguyện khi Ta (Phật A-di-đà) thành Phật, tất cả chúng sinh trong mười phương nếu có ḷng tin và ưa muốn sinh về thế giới của Ta, th́ chỉ cần niệm từ một đến mười danh hiệu "Nam-mô A-di-đà Phật" ; nếu không được văng sinh th́ Ta thề không giữ ngôi Chánh giác", nên sau khi Ngài thành Phật (Ngài đă thành Phật cách đây mười kiếp), bất kỳ chúng sinh nào hội đủ ba yếu tố: tin tưởng, nguyện cầu và thực hành niệm Phật, niệm Phật đúng như pháp, th́ nhất định được Đức Phật A-di-đà và các Bồ-tát đến tiếp dẫn về thế giới Tịnh độ Cực Lạc.
Bi nguyện của Phật A-di-đà cực kỳ rộng lớn, từ tâm của Ngài cực kỳ sâu xa, mà pháp môn niệm Phật th́ rất dễ thực hành, cho nên rất nhiều người đă chọn pháp môn này để thực hành, nguyện cầu được sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Sinh về đó là nấc thang thoát ly sinh tử luân hồi để cho chúng ta bước lên địa vị cứu cánh giải thoát.

Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà được gọi là Cực Lạc, bởi v́ ở thế giới đó hoàn toàn không có sự khổ đau, không có cảnh sinh, già, bệnh, chết... chúng sinh ở cơi đó chỉ sống trong hạnh phúc và luôn được nuôi dưỡng bởi chính pháp cho đến ngày thành Phật.

 

Phật Di Lặc      Maitreya    Maitreya    彌勒佛    Maitreya
Vị Phật tương lai của chúng ta có tên là Di-lặc. Kinh Tạp A-hàm, ghi: “Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi sẽ có Đức Phật hiệu là Di-lặc ra đời” (Tạp A-hàm, kinh số 66).
Di-lặc, tiếng Phạn là Maitreya, Trung Hoa dịch là Từ Thị (họ Từ). Tên Ngài là A-dật-đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng (không ǵ hơn). Có khi người ta cho A-dật-đa là họ, c̣n Di-lặc là tên của Ngài.
Ngài sanh tại niềm nam nước Thiên Trúc trong một gia đ́nh Bà-la-môn. Tương truyền, Ngài là vị Phật tương lai, tiếp sau đức Phật Thích Ca, hiện đang là vị Bồ-tát bổ xứ. Khi Quang Phật nhập diệt, Ngài sanh vào nội viện cung trời Đâu Suất. Ở đó đến 4 ngàn năm (tức là khoảng 56 ức 7000 vạn năm ở cơi người), th́ hạ sanh xuống nhân gian, dưới cây Long Hoa ở vườn Hoa Lâm, và thành Chánh giác. Trong quá khứ, Ngài đă từng tu tập thành công từ tâm tam-muội, do đó mà có tên là Từ Thị. Đến khi thành Phật cũng lấy tên này.
Chú Duy Ma Kinh, quyển 1, ghi: “Di-lặc là họ của một vị Bồ-tát, tên là A-dật-đa. Người nam Thiên Trúc, thuộc ḍng dơi Bà-la-môn”. Thiên Thai Tịnh Danh Sớ, ghi rằng: “Di-lặc nghĩa Từ Thị. Trong quá khứ, ngài từng làm vua tên là Đàm-ma-lưu-chi, dùng ḷng Từ Bi để cai trị thiên hạ, nên dân chúng tôn xưng ngài là Từ Thị. Từ đó trở đi, ngài luôn mang tên Từ Thị, họ là A-dật-đa, tức là không ǵ hơn”.
Câu Xá Quang Kư, quyển 18, ghi: “Maitreya dịch nghĩa là Từ Thị. Đó là vị Bồ-tát sinh ra từ ḷng từ bi, cho nên gọi tên như vậy”.

 

Phật giáo      Bouddhisme        佛教    Buddhaśāsana
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới.
Phật giáo được một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ-đàm (悉達多瞿曇, siddhārtha gautama) sáng lập khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên.
Phật-đà (buddha), có nghĩa là "người tỉnh thức", là danh hiệu Tất-đạt-đa Cồ-đàm có được sau khi tỉnh thức, giác ngộ được Pháp (法, dharma), nguyên lư của vạn vật.

 

Phật nhăn      oeil de bouddha        佛眼    buddha-cakṣus
Con mắt của chư Phật, nh́n thấy thật tướng của các pháp và nh́n chúng sinh bằng tâm Từ Bi. Chư Phật có đầy năm con mắt: nhục nhăn, thiên nhăn, huệ nhăn, pháp nhăn và Phật nhăn, cho nên không có việc ǵ không thấy, không có việc ǵ không biết, không có việc ǵ không nghe; thấy và nghe hỗ tương nhau, không cần phải tư duy, nh́n thất tất cả mọi vấn đề. Kinh Vô lượng thọ nói: "Phật nhăn có đầy đủ năng lực nh́n thấy và hiểu rơ pháp tính". Pháp Hoa văn cú nói: "Phật nhăn nh́n thông suốt và hoàn hảo, bởi nó bao gồm cả bốn con mắt kia". Kinh Pháp Hoa nói: "Này Xá lợi phất! Ta dùng Phật nhăn để xem xét, thấy chúng sinh trong sáu đường đều bần cùng, thiếu phước, chẳng có trí tuệ".

 

Phật tử      enfants de bouddha    Son of Buddha    佛子    buddha-putra
1. Những người thọ giới pháp và thực hành theo lời Phật dạy, thừa kế gia nghiệp của Phật, tức là tu tập thành Phật để làm lợi ích cho chúng sinh, không để cho hạt giống Bồ đề dứt mất.
2. Phật thương tất cả chúng sinh như cha mẹ thương con, cho nên chúng sinh là con của Phật. Vả lại, chúng sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, v́ thế gọi chúng sinh là Phật tử.

  眾生受佛戒故稱佛子,以必當作佛故也。又為菩薩之通名,以其依佛之聖教而生聖道故也,又以紹繼佛種使不斷絕故也。又總稱一切眾生,以悉具佛性故也。梵網經下曰:「眾生受佛戒,即入諸佛位。位同大覺已,真是諸佛子。」法華經譬喻品曰:「今日乃知真是佛子,從佛口生,從法化生,得佛法分。」佛地論一曰:「由佛教力被聖道生故名佛子。(中略)能紹佛種,不令斷絕,故名佛子。」嘉祥法華疏四曰:「大機既發有紹繼之能,為佛子義。」法華文句九曰:「一切眾生,皆有三種性,得佛性,即是佛子。故云其中眾生悉是吾子。」㘝(職名)元時封僧之號。

Phật Thích Ca Mâu Ni      Bouddha Shākyamuni     Sākyamuni Buddha    釋迦牟尼    Sākyamuni Buddha
Đây là danh hiệu của Thái tử Tất Đạt Đa Cồ-đàm (sa. siddhārtha gautama, zh. 悉達多 瞿曇), người đă tự ḿnh t́m đường giải thoát và sáng lập Phật giáo.
Ḍng Thích-ca vốn là vương tộc, cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Độ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepal. Kinh đô thời đó là Ca-t́-la-vệ (sa. kapilavastu), là nơi Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha là Tịnh Phạn (sa. śuddhodana, pi. suddhodana), trị v́ tiểu vương quốc Thích-ca.

 

Phật tính      Bouddha nature     Buddha-nature    佛性    Buddha-dhātu
Cũng gọi Như lai tính, Giác tính, Chân pháp tính, Như lai tạng.
Phật có nghĩa là giác ngộ. Hết thảy chúng sinh đều có khả năng tính giác ngộ, gọi là Phật tính. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tức là đều có khả năng thành Phật. Tính này không thay đổi, dù cho chúng sinh có trôi lăn trong sinh tử luân hồi theo nhân quả, th́ Phật tính của chúng sinh vẫn không thay đổi, chỉ cần dứt hết phiền năo th́ tính Phật tự nhiên hiển bày.

  佛者覺悟也,一切眾生皆有覺悟之性,名為佛性。性者不改之義也,通因果而不改自體是云性,如麥之因,麥之果,麥之性不改。華嚴經三十九曰:「佛性甚深真法性,寂滅無相同虛空。」涅槃經二十七曰:「一切眾生悉有佛性,如來常住無有變易。」

Phật trí          Buddha's wisdom    佛智    Buddha-jñāna
Trí tuệ của Phật, cũng gọi là trí tuệ chứng ngộ chân lư pháp giới. Trí tuệ này trùm khắp cả mười phương không gian, biến khắp cả thời gian ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai, là trí tuệ hoàn toàn viên măn, tối thắng nhất và không có trí tuệ nào cao hơn, c̣n gọi là Nhất thiết trí. Chư Phật y vào trí tuệ này mà phát khởi tâm từ bi không giới hạn, khai sáng nên sự nghiệp vĩ đại là nhiếp hoá pháp giới chúng sinh.
Phật trí là kết quả của sự tu tập, không thể nghĩ lường, trí tuệ của phàm phu không thể nào suy lường, đoán biết được. Bởi v́ trí tuệ của phàm phu có giới hạn, không hoàn hảo, mà Phật trí th́ hoàn toàn viên măn, rộng lớn vô biên. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ ghi rằng: Trí tuệ của Như lai bao la như biển cả, sâu rộng vô bờ bến, hàng Nhị thừa không thể suy lường, duy chỉ có Phật với Phật mới hiểu được nhau’. Kinh Pháp hoa nói: Trí tuệ của chư Phật thậm thâm vô lượng. Cửa trí tuệ này rất khó hiểu, rất khó vào.

  佛特有之智慧。為最勝無上之智見,相當於一切種智。唯識法相以佛智有大圓鏡智、平等性智、妙觀察智、成所作智等四智,密教則加法界體性智而成五智。〔大智度論卷四十六、卷八十五、十住毘娑沙論卷十五、宗鏡錄卷三十三〕

Phỉ báng chính pháp      calomnier le Dharma bouddhique         誹謗正法     saddharma-pratikṣepa
C̣n gọi là Báng pháp, Phá pháp, Đoạn pháp.
Phá hoại, phỉ báng chính pháp do Phật nói, chủ yếu là chê bai kinh điển Đại thừa, cho rằng kinh điển Đại thừa không phải Phật nói. Chẳng hạn không tin những kinh Đại thừa như Bát nhă, Pháp hoa, Vô lượng thọ... lại c̣n đặt điều dèm pha, chỉ trích. Những người như thế sẽ tự ḿnh đoạn hết tất cả căn lành, chắc chắn đoạ vào địa ngục lớn.
Theo Kinh Vô lượng quyển thượng th́ Đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ những chúng sinh niệm Phật, nhưng không cứu độ được người phạm tội Ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp. Kinh Bồ tát thiện giới cho rằng phỉ báng chính pháp là 1 trong 8 tội nặng nhất của Bồ tát. Kinh Phạm vơng th́ cho rằng phỉ báng Tam bảo là 1 trong 10 tội nặng nhất của Bồ tát.
Nói chung, phỉ báng chính pháp có 2 loại:
1. Không tin Tam bảo, không tin kinh điển Phật dạy, đem lời Phật dạy ra phân tích theo ư ḿnh với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ chính pháp.
2. Không tin kinh điển Đại thừa là do chính Phật nói, lại đặt điều dèm chê; hoặc thấy người đọc tụng, biên chép, thực hành các kinh Đại thừa th́ sinh ḷng khinh dễ, ghen ghét...

 

Pháp      Dharma    Dharma    法    Dharma
1. Pháp bao hàm mọi sự vật cụ thể hay trừu tượng, cái ǵ có thể cho ta một khái niệm về nó đều gọi là pháp. Danh từ Pháp thường được định nghĩa: 'nhậm tŕ tự tính, quĩ sinh vật giải'. Có nghĩa là: Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng, có tự tính, bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nh́n vào là có thể nhận thức và lí giải được.
2. Chỉ cho đối tượng phân biệt của thức thứ 6, cũng gọi là Pháp xứ (Dharmāyatana), hoặc pháp giới (Dharma-dhātu).
3. Tiếng dùng trong Nhân minh luận. Hàm ư tính chất, thuộc tính.

  <一>於佛典中,法之用例極多而語意不一,總括之,可類別爲任持自性、軌生物解二義。任持自性,意指能保持自體的自性(各自的本性)不改變;軌生物解,指能軌範人倫,令人產生對一定事物理解之根據。就任持自性之意義而言,法乃指具有自性之一切存在;就軌生物解之意義而言,法乃指認識之標準、規範、法則、道理、教理、教說、真理、善行等。 於色法、心法等一切諸法言之,法係指所有之存在。同時,諸法又分爲有爲與無爲、善與不善、色與心、有漏與無漏、染與淨、世間與出世間、可見與不可見、心相應與心不相應等二法。又就諸法之分類而言,最常用以賅括諸法者有俱舍宗之五位七十五法、唯識宗之五位百法。 若就規範、教法等含意而言,佛典中常見之用語如:佛陀之教法,稱爲佛法、教法或正法,即泛指佛門中一切行爲之規範、教說。蓋真理爲普遍不變之真實道理,稱之爲法;闡說此真理者,即爲佛之教說。佛之教說以外的外道教法,稱爲邪法。又因聽聞佛法而獲得之喜悅,稱爲法喜、法悅。總括聚集佛法者,稱爲法聚、法蘊、法藏、法集、法寶藏。佛法之義理,稱爲法義。透視諸法性空緣起真理、觀察諸法者,稱法眼。同一法門系統者,猶如世俗之親友眷屬,稱爲法類、法眷;繼承者稱爲法子、法嗣、法弟、法孫;其相承次第,稱爲法脈、法系、法流、法統。述說佛法之經論文句,稱爲法文。諸法之自性,稱爲法性、法體;其自相則稱法相。佛法之威力、正法之力,稱爲法力。佛之自體,稱爲法身。佛法爲進入涅槃之門戶,稱爲法門;其中之教理旨趣,稱爲法味;受用此等法味,稱爲法樂;愛樂於其中,稱爲法愛。爲人宣說此等正法,稱爲法施。以正法教化世人,稱爲法化;蒙受教化之利益,稱爲法益、法利。又以正法能降伏煩惱之魔軍,故稱法劍。佛之說法,稱爲轉法輪;正法之規準、象徵,稱爲法印;佛之遺教,稱爲遺法。以佛法比喻闇夜燈火,稱爲法燈、法光、法炬。以其能滋潤一切生物,故以雨水爲譬喻,稱爲法雨、法水、法潤。又正法蒙受迫害,稱爲法難;聖教之滅盡,稱爲法滅。 此外,尚有法海、法山、法聲、法音、法鼓、法幢、法螺、法道、法雷、法鏡、法筵、法苑、法橋、法衣、法師、法會、法具、法名、法號、法主等名稱。〔雜阿含經卷三十一、中阿含卷二十八諸法本經、大品般若經卷四句義品、大乘入楞伽經卷五剎那品、大寶積經卷五十二、大智度論卷四十八〕 <二>於六境中,眼、耳、鼻、舌、身等前五識之對境各稱色、聲、香、味、觸;相對此五者,第六識(意識)所緣之對境,特稱爲法,或法處(梵 dharmāyatana)、法界(梵 dharma-dhātu)。〔大毘婆沙論卷七十三、俱舍論卷一、法蘊足論卷十處品〕 <三>因明用語。性質、屬性之意。於因明(論理學)中,宗(命題,即論證之主張)之賓詞(後陳)稱爲法,主詞(前陳)稱爲有法。此即依賓詞能顯示主詞所欲表白、界定之性質。〔因明論疏明燈抄卷二本、因明論疏瑞源記卷二〕

Pháp tướng          characteristics of phenomena    法相    
1. Tướng trạng của các pháp. Chủ trương đặc biệt của tông Duy thức là phân tích hoặc phân loại và thuyết minh tướng trạng của các pháp, v́ thế tông này cũng được gọi là tông Pháp tướng.
2. Chỉ cho phạm vi, sự khu biệt, cương yếu về mặt giáo nghĩa.
3. Chỉ cho Chân như, Thực tướng. Đồng nghĩa với với Pháp tính.

  <一>諸法所具本質之相狀(體相),或指其意義內容(義相)。唯識宗之特質在於分析或分類說明法相,故又稱法相宗。〔解深密經卷二「一切法相品」、大毘婆沙論卷一二九、成實論卷一眾法品、卷二「四法品」〕 <二>指教義上之分齊、區別、綱要。 <三>指真如、實相。與「法性」同義。

Pháp tính      nature de dharma     original essence of all being    法性    dharmatā
Cũng gọi Chân như pháp tính, Chân pháp tính, Chân tính, Pháp bản.
Chỉ cho thể tính chân thực của các pháp, cũng tức là bản tính bất biến của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Cũng là tên khác của Chân như.
Thể tính chân thực của các pháp là tính không, cho nên Pháp tính c̣n gọi là Không tính.

  指諸法之真實體性。亦即宇宙一切現象所具有之真實不變之本性。又作真如法性、真法性、真性。又爲真如之異稱。法性乃萬法之本,故又作法本。

Phát bồ đề tâm              發菩提心    Bodhi-citta
Tâm phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề, nghĩa là phát khởi cái tâm mong cầu giải thoát khổ nạn. Tâm bồ đề là cái tâm rộng lớn, trên th́ cầu thành Phật, dưới th́ nguyện cứu độ chúng sinh (thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sinh).
Tâm bồ đề là hạt giống của tất cả chư Phật, là thửa ruộng tốt nuôi lớn pháp thanh tịnh. Khi phát tâm này rồi phải siêng năng tiến tu để mau chóng chứng được quả vị giác ngộ.

 

Phân đoạn sinh tử          fragmentary samsāra    分段生死    
Chỉ cho sự sống chết của phàm phu phải chịu trong tam giới, c̣n gọi là Phần đoạn sinh tử, Hữu vi sinh tử.
Chúng phàm phu do kiến hoặctư hoặc mà bị sanh tử trong tam giới, lục đạo. Phàm phu luân hồi trong lục đạo là do cái nhân đă tạo nghiệp trong quá khứ, rồi theo cái nghiệp ấy mà có thọ mạng hạn định lâu hay mau, thân thể lớn hay nhỏ, sang hay hèn… cho nên gọi là Phân đoạn. Theo Thắng man bảo quật, quyển trung, ghi: “Nói Phân đoạn sinh tử có nghĩa là h́nh sắc sai khác, thọ mạng dài ngắn bất đồng vậy” (Đại chính 37, 48c). Đại thừa nghĩa chương, quyển 8, th́ cho rằng Phân đoạn sinh tử có hai loại, tức là phân đoạn ác đạo chịu quả báo trong tam đồ và phân đoạn thiện đạo thọ quả báo ở nhân thiên. Cũng sách này chia phân đoạn ác đạo ra làm ba loại, đó là: 1, Sanh tử của phàm phu phải chịu, do ác nghiệp làm nhân, tứ trụ làm duyên. 2, Sanh tử của hàng Bồ tát thập trụ phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, tứ trụ làm chính duyên, bi nguyện làm tuỳ trợ. 3, Sanh tử của hàng Chủng tánh lên đến sơ địa Bồ tát, lấy ác nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, trú trụ làm tùy trợ.
Lại chia phân đoạn thiện đạo ra làm ba loại, đó là: 1, Sanh tử của hàng phàm phu nhị thừa cho đến thập trụ Bồ tát phải chịu, là do lấy thiện nghiệp làm nhân, tứ trụ làm duyên. 2, Sanh tử của Bồ tát chủng tánh giải hạnh phải chịu, lấy thiệp nghiệp làm nhân, tứ trụ làm chính duyên, bi nguyện làm tuỳ trợ. 3, Sanh tử của Địa thượng Bồ tát trở lên phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, tứ trụ làm tuỳ trợ.


 

Phân biệt ngă chấp              分別我執    añjanā -ahaṃkāra-manaskāratā
Chấp ngă do phân biệt, cũng do năng lực của ngoại duyên hiện tại, không cùng tồn tại với thân, mà cần phải có ảnh hưởng của tà giáo và tà phân biệt mới có thể phát khởi, v́ vậy nói là phân biệt. Nó chỉ tồn tại trong thức thứ sáu là ư. Loại này cũng có hai thứ:
a. Duyên vào tướng của uẩn được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp là thực ngă.
b. Duyên vào tướng của ngă được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp đó là thực ngă.
Hai loại ngă chấp này dễ bị đoạn trừ, v́ thô. Khi ở sơ khởi của kiến đạo, quán chân như về sinh không và pháp không của hết thảy các pháp th́ có thể đoạn trừ.

  分別我執,亦由現在外緣力故;非與身俱。要待邪教及邪分別,然後方起;故名分別。唯在第六意識中有。此亦二種。一、緣邪教所說蘊相,起自心相,分別計度,執為實我。二、緣邪教所說我相,起自心相,分別計度,執為實我。此二我執,麁故易斷。初見道時,觀一切法生空真如,卽能除滅。

Phiền năo      Facteurs de perturbation        煩惱    kleśa
C̣n gọi là Tuỳ miên.
Những phiền năo tiềm phục bên trong th́ gọi là Tuỳ miên. Những phiền năo biểu hiện ra bên ngoài th́ gọi là Triền.
Phiền năo là những tác dụng tâm lư làm cho thân, tâm năo loạn, buồn rầu, bức rức, khó chịu; khiến cho thân, tâm không được b́nh tĩnh.
Nhập A-t́-đàm luận, quyển thượng, ghi : ‘Cái ǵ làm cho thân tâm buồn rầu, bức rức, phiền muộn, bức năo liên tục th́ gọi là Phiền năo, cũng gọi là Tuỳ miên’.
Đại T́-bà-sa luận , quyển 60, Câu-xá luận, quyển 20, đều nói rằng, tất cả những Phiền năo đều do ba thứ sức mạnh sau đây mà khởi, đó là nhân lực, cảnh giới lực và gia hành lực. Những Tuỳ miên là những Phiền năo tiềm phục, ẩn sâu bên trong tâm thức chưa đoạn trừ hay ḿnh chưa nhận biết hết là nhân lực (sức mạnh của cái (nguyên) nhân). Cảnh giới trước mắt thuận theo ḷng tham muốn là cảnh giới lực (sức mạnh của ngoại cảnh). Duyên theo cảnh giới mà khởi lên phi lư tác ư là gia hành lực.
Phiền năo có rất nhiều loại, nhưng một cách tổng quát th́ có hai loại, gọi là Mê lư và Mê sự. Mê lư tức là Kiến hoặc, chỉ cho trạng thái u mê không thấy được lư Tứ đế, là loại phiền năo mà khi đạt được địa vị Kiến đạo th́ ḿnh sẽ đoạn trừ hết (kiến đạo sở đoạn). Mê sự tức là Tu hoặc, chỉ cho trạng thái u mê sự tướng vạn vật, bị cảnh giới bên ngoài làm cho bức rức, phiền năo, khi đến địa vị Tu đạo th́ đoạn trừ hết phiền năo này (tu sở đoạn).
Trong Kiến hoặc và Tu hoặc có 6 loại phiền năo căn bản, là tham, sân, si, mạn, nghi và kiến, gọi là Căn bản phiền năo, hoặc gọi là Lục tuỳ miên. Trong 6 phiền năo căn bản này, th́ phiền năo kiến gồm có 5 loại, là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, gọi là Ngũ lợi sử ; c̣n các phiền năo tham, sân, si, mạn, nghi gọi là Ngũ độn sử. Như vậy, tổng cộng có 10 sử, gọi là Thập căn bản phiền năo hay Thập tuỳ miên ; Ngũ lợi sử chỉ thuộc về Mê lư, c̣n Ngũ độn sử thuộc th́ mê cả Lư lẫn Sự.

 

Phiền năo chướng      Désirs terrestres     Afflictive hindrances    煩惱障    Kleśāvaraṇa
Cũng gọi Hoặc chướng.
Chỉ cho phiền năo ngăn ngại đạo giác ngộ, làm cho chúng sinh không chứng được Niết bàn.
1. Theo luận Câu xá, phiền năo thường hiện hành làm trở ngại việc phát sinh của trí tuệ vô lậu, đồng thời, làm cho không chứng được trí tuệ giải thoát, gọi là Phiền năo chướng.
2. Theo luận Thành duy thức, tất cả phiền năo làm cho thân tâm chúng sinh bị nhiễu loạn, ngăn trở con đường đến Niết ban, gọi là Phiền năo chướng.

  二障之一。對於所知障而言。百二十八之根本煩惱及隨煩惱,惱亂有情之身心,能障涅槃,故名為煩惱障。佛地論七曰:「惱亂身心,令不寂靜,名煩惱障。」唯識論九曰:「煩惱障者,謂執徧計所執實我,薩迦耶見而為上首。百二十八根本煩惱,及彼等流諸隨煩惱,此皆擾惱有情身心,能障涅槃,名煩惱障。」㘝三障之一。對於業障報障而言。貪瞋等之煩惱,數數起而障礙聖道,名為煩惱障。涅槃經十一曰:「煩惱障者,貪欲瞋恚愚痴。(中略)常為欲覺恚覺害覺之所覆蓋,是名煩惱障。」俱舍論十七曰:「煩惱有二:一者數行,謂恒起煩惱。二者猛利,謂上品煩惱。應知此中唯數行者名煩惱障。」

Phiền năo tức bồ đề      les détresses impliquent l'éveil        煩惱即菩提    
Phiền năo và Bồ đề không phải là hai mà cái này tức cái kia.
Thông thường, phiền năo là chỉ cho tất cả tác dụng tinh thần làm trở ngại sự giác ngộ; c̣n Bồ đề là trí tuệ dứt hết phiền năo thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tuy nhiên, phiền năo và bồ để không phải là hai cái có tự thể riêng biệt, mà cùng nằm trong một thực thể duy nhất đó là tâm của chúng sinh. Tâm chúng sinh khi sống trong vô minh, thất niệm th́ là phiền năo; mà khi sống trong tỉnh giác, chánh niệm th́ là bồ đề. Phiền năo không phải nằm ngoài bồ đề, mà bồ đề cũng không nằm ngoài phiền năo, nó là một, nên nói phiền năo tức bồ đề.

  煩惱與菩提相即不二之意。妨礙覺悟之一切精神作用皆稱爲煩惱;反之,斷絕世間煩惱而成就涅槃之智慧,稱爲菩提。然貪、瞋、癡等煩惱,其當體爲菩提;離此菩提法性之外,則別無諸法可言,故於煩惱之性立菩提之名;此即兩者相即不離之意。法藏之入楞伽心玄義載,煩惱爲分別性,故其體非有;即見惑性空時,不必斷除煩惱惑,而得入真如,故說煩惱即菩提。又「煩惱即菩提」常與「生死即涅槃」並用,二者皆用以表示大乘佛教之究極。〔大智度論卷六、大乘莊嚴經論卷六隨修品、梁譯攝大乘論釋卷十四〕

Phiền phược              纏縛    
Sự trói buộc, tức chỉ cho phiền năo cột chặt chúng sanh vào ṿng sanh tử trong ba cơi.

 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27