Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Ngũ hạ phần kết              五下分結    pañca āvarabhāgiya-saṃyojanāni
Năm loại phiền năo trói buộc chúng sanh hữu t́nh ở Dục giới. Sở dĩ gọi là hạ phần là bởi v́ nó ở hạ giới, tức Dục giới, khác với thượng giới, tức là Sắc giới và Vô sắc giới.
Tên đầy đủ là Ngũ thuận hạ phần kết, gọi tắt là Ngũ hạ kết hoặc Ngũ hạ.
Câu-xá luận, quyển 21, ghi: "Năm hạ phần kết là ǵ? Đó là Thân kiến, Giới thủ kiến, Nghi, Dục tham, Sân khuể. Chúng được gọi là Thuận hạ phần (avarabhāgīya) bởi v́ chúng có liên hệ và thuận hợp với “phần ở phía dưới” (avarabhāga), tức chỉ cho Dục giới (Vibhā􀀀ā, 49, 2). Như vậy trong số này có hai kiết sử khiến cho người ta không thể vượt qua được Dục giới và ba kết sử khiến cho người ta phải trở lại Dục giới. Dục tham và sân khuể ngăn chận sự xuất ly Dục giới; thân kiến và hai loại kết sử c̣n lại làm cho những người đă xuất ly Dục giới phải trở lại ở đó; chúng không giống như viên cai ngục và các ngục tốt.
1. Dục kết: những phiền năo tham dục.
2. Sân kết: những phiền năo giận hờn.
3. Thân kiến kết: phiền năo ngă kiến, chấp ngă.
4. Giới thủ kết: phiền năo giữ ǵn những giới luật phi lư, vô đạo.
5. Nghi kết: phiền năo nghi ngờ chân lư.

  (梵 pañca āvarabhāgiya-saṃyojanāni,巴 pañc'orambhāgiyani-saṃyojanāni)指系縛有情于欲界的五種煩惱。所謂下分,即下界,相對于色、無色的上界,而指欲界。具名五順下分結,略稱五下結或五下。《俱舍論》卷二十一雲(大正29·108c)︰<#>‘何等爲五?謂有身見、戒禁取、疑、欲貪、嗔恚。何緣此五名順下分?此五順益下分界故,謂唯欲界得下分名。此五于彼能爲順益,由後二種不能超欲界,設有能超由前三還下,如守獄卒防邏人故。’<#>(1)貪結︰指貪欲的煩惱;(2)嗔結︰指嗔恚的煩惱;(3)身見結︰指我見的煩惱;(4)戒取結︰指取執非理無道邪戒的煩惱;(5)疑結︰指懷疑諦理的煩惱。其中,欲貪、嗔恚二結如守獄卒,令愚夫異生禁錮于欲界的牢獄中。若有異生以不淨觀破欲貪,又以慈悲觀破嗔恚,而生于初靜慮乃至有頂,則身見、戒禁取見、疑之三結如巡邏者,還將執彼複置于欲界。故欲界系的煩惱雖多,仍偏立此五結爲順下分結。<#>[參考資料] 《大毗婆沙論》卷四十九;《成實論》卷十〈雜煩惱品〉;《雜阿含經》卷三十二,《中阿含》卷一〈水喻經〉、卷五十六〈五下分結經〉;《集異門足論》卷十二;《順正理論》卷五十四。<#>

Ngũ hối          five kinds of remorse    五悔    
Cũng gọi là Ngũ sám hối
Năm phương pháp sám hối để diệt trừ tội lỗi.
1. Sám hối: Ăn năn tội lỗi và tu tập những hành lành.
2. Khuyến thỉnh: Khuyển thỉnh chư Phật trong 10 phương quay bánh xe pháp cứu độ chúng sinh. Ngày nay có thể hiểu rộng là thỉnh chư tôn đức tăng ni hoằng pháp độ sinh.
3. Tuỳ hỉ: Vui mừng, khen ngợi những hành lành của người khác, thấy người khác tu tập ḿnh sinh tâm hoan hỷ.
4. Hồi hướng: Hồi hướng công đức tu tập được về quả vị giác ngộ.
5. Phát nguyện: Phát nguyện quyết tâm thành Phật.

 

Ngũ kiến          five wrong views    五見    pañca-dṛṣṭayaḥ
5 loại nhận thức sai lầm.

1. Thân kiến, hay Ngă kiến (sat-kāya-dṛṣṭi): Tự chấp có sự tồn tại của cái "ta", gọi là Ngă kiến, cho rằng vật này thuộc về ta, gọi là Ngă sở kiến.
2. Biên kiến (anta-grāha-dṛṣṭi): Chấp vào một bên, kiến giải cực đoan, như cho rằng sau khi ta chết vẫn thường c̣n không mất, đây gọi là Thường kiến (hữu kiến); hoặc cho rằng sau khi ta chết th́ dứt hẳn, đây gọi là Đoạn kiến (vô kiến).
3. Tà kiến (mithyā-dṛṣṭi): Không tin nhân quả.
4. Kiến thủ kiến (dṛṣṭi-parāmarśa): Cố chấp giữ những nhận thức sai lầm.
5. Giới cấm thủ kiến (śīla-vrata-parāmarśa): Nhận thức và thực hành sai lầm những quy tắc, giới luật không đưa tới giải thoát.

  一、身見,即我見我所見也,不知吾身為五蘊和合之假者。而計度實有我身(我見),又不知我身邊之諸物,無一定之所有主,而計度實為我所有物(我所見),合此我見與我所見二者,則為身見。常略我所見而單曰我見。二、邊見,一旦有我身起我見之後,其我或計度為死後斷絕者,或計度為死後亦常住不滅者。是有二義:起於身見後邊之妄見,故名邊見(唯識);偏於斷或常之一邊,故名邊見(俱舍)。三、邪見,撥無因果之道理者。以為世無可招結果之原因,亦無由原因而生之結果,故惡不足恐,善亦不足好,如此謬見,乃邪之最邪者,故付以邪之名。四、見取見,以劣知見為始,取其他種種之劣事,思為此最勝殊妙者。上之見字,雖指身見邊見等之見,然尚含其他種種之事物。五、戒禁取見,由上之見取見,遂以非理非過之戒禁為始,取其他種種之行法,以之為生天之因或涅槃之道者。此中有二種:持牛戒或雞戒等,以為生天之因,是曰非因計因之戒禁取見;修塗灰斷食等種種之苦行,以為涅槃之道,是曰非道計道之戒禁取見。已上五見,為惡慧之一分,於見道一時不斷之者。舊譯家稱之為五利使。見唯識論六,俱舍論十九。

Ngũ lợi sử      cinq points de vue erronés    five afflictions of advanced practitioners    五利使    pañca-dṛṣṭayaḥ
Cũng gọi là Ngũ nhiễm ô kiến, Ngũ tịch kiến, Ngũ kiến.
Lợi là sắc bén, Sử là sai khiến. Ngũ lợi sử là chỉ cho 5 thứ phiền năo do mê lư mà khởi, thường xui khiến chúng sinh tạo các nghiệp ác.
1. Thân kiến: Do không rơ cái lư thân ta là do sự hoà hợp của 5 uẩn mà có một cách giả tạm, nên mới chấp trước thật có thân ta (chấp ngă).
2. Biên kiến: Chấp trước 2 kiến giải cực đoan, cho rằng sau khi ta chết là dứt hẳn, hoặc sau khi ta chết sẽ c̣n măi không mất.
3. Tà kiến: Phủ định lư nhân quả, cho rằng chẳng có tội phúc, thiện ác ǵ hết. Đây là loại tà kiến nguy hiểm nhất trong các loại tà kiến.
4. Kiến thủ kiến: Cố chấp cái thấy biết hẹp ḥi kém cỏi của ḿnh mà không chịu mở rộng tầm nh́n để học hỏi những điều cao xa ưu việt.
5. Giới cấm thủ kiến: Chấp chặt những giới cấm trái đạo, phi pháp, cho đó là nhân sinh lên cơi trời, hoặc là con đường đến Niết bàn, như giữ giới ḅ, giới chó...

  又作五染污見、五僻見、五見。利使,係迷於「理」之惑。利,指其性體猛利;使,有驅役之義,為諸惑之總稱。五利使,乃指五種迷於「理」而起之惑。即:(一)有身見,不知吾身乃五蘊之假和合,而執著實有我身。(二)邊執見,執著我於死後斷絕,或死後常住不滅等二種邊見。(三)邪見,謂實無四諦因果之理,抱持此一見解,則惡不足恐,善不足好,乃邪見中之最邪者。(四)見取見,以低劣之知見,而思劣事為優勝。(五)戒禁取見,以各種非道、不如法之戒禁為生天之因,或涅槃之道,例如牛戒、雞戒、狗戒等。使,為煩惱之異名;上述五項惑見,皆起於對「理」之推求,其性極猛利,故總稱五利使。

Ngũ lực      Cinq forces    five powers    五力    pañca balāni
Năm loại sức mạnh. Năm lực này h́nh thành từ năm căn, phát sanh một thứ sức mạnh thúc đẩy, tăng trưởng, duy tŕ đời sống tu tập đạt đến giải thoát, chúng có khả năng phá trừ điều ác, thúc đẩy làm việc thiện.
- Tín lực (śraddhā-bala).
- Tinh tấn lực (vīrya-bala).
- Niệm lực (smriti-bala).
- Định lực (samādhi-bala).
- Tuệ lực (prajñā-bala).

  (一)信力(梵 śraddhā-bala),對三寶虔誠,可破除一切邪信。(二)精進力(梵 vīrya-bala),修四正勤,可斷除諸惡。(三)念力(梵 smriti-bala),修四念處以獲正念。(四)定力(梵 samādhi-bala),專心禪定以斷除情欲煩惱。(五)慧力(梵 prajñā-bala),觀悟四諦,成就智慧,可達解脫。此五者均有破惡之力,故稱為「五力」。

Ngũ nghịch      cinq forfaits    five heinous crimes    五逆    pañcānantarya
C̣n gọi là Ngũ nghịch tội, Ngũ vô gián tội.
5 tội cực ác, dẫn đến đoạ địa chịu nỗi thống khổ không bao giờ gián đoạn.
Theo Phật giáo Nguyên thuỷ: 1. Giết cha, 2. Giết mẹ, 3. Giết Thánh tăng, 4. Làm thân Phật chảy máu, 5. Phá sự hoà hợp và thanh tịnh của Tăng.

Theo Phật giáo Đại thừa: 1. Phá hoại chùa tháp, đốt kinh, đập tượng, trộm cắp tài sản của Tam bảo, hoặc tạo điều kiện cho người khác thực hiện những việc trên; 2. Huỷ báng Thanh văn, Duyên giác và pháp Đại thừa; 3. Ngăn cản, cấm đoán, bắt bớ, trục xuất những người tu hành, sát hại người xuất gia; 4. Phạm một trong 5 tội ngũ nghịch của Phật giáo Nguyên thuỷ; 5. Chủ trương không có nhân quả nghiệp báo, gây ra 10 nghiệp bất thiện.

  1142又作五逆罪。即五重罪。指罪大惡極,極逆於理者。有大乘五逆、小乘五逆之分。 (一)小乘五逆(單五逆)指:害母(梵 mātṛ-ghāta,又作殺母)、害父(梵 pitṛ-ghāta,又作殺父)、害阿羅漢(梵 arhad-ghāta,又作殺阿羅漢)、惡心出佛身血(梵 tathāgatasyāntike duṣṭa-citta-rudhirotpādana,又作出佛身血)、破僧(梵 saṃgha-bheda,又作破和合僧、鬥亂眾僧)等五者。前二者為棄恩田,後三者則壞德田,故稱五逆、五重罪。以其行為將成為墮無間地獄之因,故亦稱五無間業(梵 pañca anantarya-karmāṇi),略稱五無間或五不救罪。分別而言,前三者指故意殺害父、母、阿羅漢。破和合僧復分為二,離開原來所屬之教團,而成立新教團,行布薩、羯磨等事,稱破羯磨僧;若立異師異說,而另組教團,則稱破法輪僧。此外,俱舍論卷十八載,五無間同類業(梵 pañca upānantarīyāṇi),又作近五無間、五無間同分、近五逆、類似五逆。即與上述之五無間業同類之五種罪業,指:污母阿羅漢尼(梵 mātur arhantyā dūṣaṇam)、殺住定地菩薩(梵 niyatabhūmisthitasya bodhisattvasya māraṇam)、殺有學聖者(梵 śaikṣasya māraṇam)、奪僧合緣(梵 saṃghāyadvāraharaṇam)及破窣堵波(梵 stūpabhedanam)。 (二)大乘五逆(複五逆),據大薩遮尼乾子所說經卷四舉出五大根本重罪,即:(1)破壞塔寺,燒燬經像,奪取三寶之物。或教唆他人行此等事,而心生歡喜。(2)毀謗聲聞、緣覺以及大乘法。(3)妨礙出家人修行,或殺害出家人。(4)犯小乘五逆罪之一。(5)主張所有皆無業報,而行十不善業;或不畏後世果報,而教唆他人行十惡等。 慧沼於金光明最勝王經疏卷五中,將小乘五逆中之殺父、殺母合為一項,再加上誹謗正法(佛法)一項,而成立三乘通說之五逆。 關於五逆罪之輕重,大乘義章卷七說殺父最輕,殺母次輕,殺阿羅漢罪復轉重,出佛身血轉轉彌重,破和合僧最重。〔增一阿含經卷四十七、金光明最勝王經卷三、大集地藏十輪經卷三、四分律卷四十六、十誦律卷三十六、俱舍論卷十七、瑜伽師地論卷九、順正理論卷四十三、瑜伽論記卷三上、卷五、瑜伽師地論略纂卷四、俱舍論光記卷十八〕

Ngũ nhăn      Cinq sortes de vision        五眼    pañca cakṣūṃṣi
5 con mắt nh́n rơ sự và lư của các pháp.
1. Nhục nhăn, Phạm māṃsa-cakṣus, là con mắt của mọi người, mọi loài ở thế gian, có khả năng nh́n thấy và phân biệt được h́nh sắc, cảnh vật.
2. Thiên nhăn, Phạm divya-cakṣus, con mắt của chúng sinh ở cơi trời, hoặc con mắt của người đời (nhục nhăn) đạt được cảnh giới thiền định; sự vật ở xa, rộng, nhỏ bé, vi tế... đều thấy rơ ràng.
3. Huệ nhăn, Phạm prajña-cakṣus, con mắt trí tuệ, quán chiếu và thấy được lư không của các pháp.
4. Pháp nhăn, Phạm dharma-cakṣus, con mắt trí tuệ nh́n thấy thực tướng của các pháp, có năng lực nh́n thấy pháp duyên khởi, chứng ngộ được thực tướng hư huyễn của các pháp, thấy rơ một cách tường tận nguyên nhân sai biệt của các pháp.
5. Phật nhăn, Phạm buddha-cakṣus, con mắt của Phật, có năng lực chứng tri hoàn toàn chân tính của các pháp.

  (梵 pañca cakṣūṃṣi,巴 pañca cakkhūni,藏 spyen-lṅa)照了諸法事理的五種眼,即肉眼、天眼、慧眼、法眼、佛眼。<#>(1)肉眼(māṃsa-cakṣus)︰指世間人類的眼根,能分明照見色境。<#>(2)天眼(divya-cakṣus)︰指天趣衆生或由禪定境界而得的眼。遠、廣、微細事物皆得見。<#>(3)慧眼(prajña-cakṣus)︰指照見空理的智慧。<#>(4)法眼(dharma-cakṣus)︰指審細了知差別諸法、洞觀如幻緣起的慧力。<#>(5)佛眼(buddha-cakṣus)︰指究竟證知諸法真性的慧力。

Ngũ thượng phần kết              五上分結    pañca ūrdhvabhāgiya-saṃyo-janani
Năm loại phiền năo tồn tại ở Sắc giới và Vô sắc giới.
Kết là tên gọi khác của phiền năo; phần là sai biệt, khác nhau, tức là để phân biệt trên và dưới, như nói thượng phần tức là thượng giới, là cơi giới ở trên cao, mà thượng giới gồm có hai cơi đó là Sắc giới và Vô sắc giới, gọi chung là Thượng giới.
Ngũ thượng phần kết, gọi đủ là Ngũ thuận thượng phần kết, mà gọi tắt là Ngũ thượng kết hay Ngũ thượng.
Câu-xá luận, quyển 21, ghi: 'Thuận thượng phần có năm thứ: tham Sắc giới, tham Vô sắc giới, trạo cử, mạn, vô minh, khiến cho chúng sanh không thể siêu thoát'.
1. Tham Sắc giới, gọi là Sắc ái kết, tức là những phiền năo do chúng sanh tham đắm 5 thứ dục lạc (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
2. Tham Vô sắc giới, gọi là Vô sắc ái kết, là những phiền năo do tham đắm và vướng mắc trong cảnh giới thiền định ở cơi Vô sắc giới.
3. Trạo kết, là phiền năo do tâm niệm của chúng sanh dao động, khiến cho thiền định thối thất hoặc đánh mất.
4. Mạn kết, là phiền năo do chúng sanh tự cao, tự đại, cho ḿnh hơn người rồi lấn lướt, kiêu mạn.
5. Vô minh kết, là phiền năo do chúng sanh si mê, ngu muội, không thấy được Thánh đế.
Theo Đại t́-bà-sa luận, 5 thượng phần kết này phải nhờ tu tập mới có thể đoạn trừ được (tu sở đoạn).

  (梵 pañca ūrdhvabhāgiya-saṃyo-janani,巴 pañc'uddhambhāgiyāni-saṃyoja-nāni)指存在于色界、無色界的五種煩惱。結是煩惱的異名;分是差別之意,用以顯上、下界別,故上分即上界,而上界是色、無色二界的合稱。五上分結,具名五順上分結,又略稱五上結或五上。《俱舍論》卷二十一雲(大正29·109a)︰‘順上分亦五,色、無色二貪,掉舉、慢、無明,令不超上故。’<#>(1)色愛結︰指貪著色界五妙欲的煩惱。<#>(2)無色愛結︰指貪著無色界禪定境界的煩惱。<#>(3)掉結︰指二界衆生心念掉動而退失禪定的煩惱。<#>(4)慢結︰指二界衆生恃自淩他憍慢的煩惱。<#>(5)無明結︰指二界衆生痴暗的煩惱。<#>另依《大毗婆沙論》卷四十九所述,可知此五上分結只限于修所斷,而不通于見所斷。<#>[參考資料] 《長阿含經》卷八〈衆集經〉;《中阿含經》卷五十六〈五分結經〉;《集異門足論》卷十二;《阿毗達磨發智論》卷三;《成實論》卷三;《大乘義章》卷五(末).

Ngũ thời bát giáo              五時八教    
5 thời 8 giáo do ngài Trí Khải tông Thiên Thai thành lập. Đại sư Trí Khải căn cứ vào nội dung các kinh điển do đức Phật nói để phân loại, giải thích, rồi theo thứ tự thời gian đức Phật thuyết pháp mà chia làm 5 thời. Lại căn cứ theo phương pháp đức Phật dắt dẫn chúng sinh mà chia giáo pháp của Ngài làm 8 giáo, gọi chung là Ngũ thời bát giáo.
I. Ngũ thời:
1. Thời Hoa Nghiêm: Đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày đầu tiên sau khi Ngài thành đạo cho chúng Đại bồ tát Biệt giáo và các vị ưu tú trong Viên giáo nghe.
Kinh Hoa Nghiêm có chia ra phần trước và phần sau khác nhau. Phần trước là giáo pháp nói trong 21 ngày đầu, không có hàng Thanh văn tham dự; phần sau như phẩm Nhập pháp giới th́ có các vị Thanh văn như ngài Xá lợi phất... (được nói trong khoảng thời gian Phật đi giáo hoá chúng sinh) Nhưng giáo pháp của thời ḱ này quá cao, hàng Thanh văn đều như điếc như câm nên chưa thể nhận lănh được hiệu quả lợi ích của sự giáo hoá.
2. Thời Lộc uyển: Trong khoảng 12 năm sau khi đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm, là thời ḱ Phật nói 4 bộ kinh A hàm trong phạm vi 16 nước lớn. V́ nơi nói pháp đầu tiên trong thời ḱ này là vườn Lộc dă, nên gọi là thời Lộc uyển (thời vườn nai), lại lấy tên kinh đă nói nên cũng gọi là thời A hàm.
3. Thời Phương đẳng: Thời ḱ Phật nói các kinh Đại thừa như Duy ma, Tư ích, Thắng man,... trong khoảng 8 năm sau thời Lộc uyển.
4. Thời Bát nhă: Chỉ cho thời ḱ Phật nói các kinh Bát nhă, trong khoảng 22 năm sau thời Phương đẳng.
5.Thời Pháp hoa Niết bàn: Chỉ cho thời ḱ làm cho người nghe pháp tiến đến cảnh giới cao nhất và chứng nhập tri kiến Phật. Đây là thời ḱ đức Phật nói kinh Pháp hoa trong 8 năm sau cùng và nói kinh Niết bàn 1 ngày 1 đêm trước khi Ngài nhập diệt.
II. Bát giáo:
1. Đốn giáo: Đầu tiên, đức Phật trực tiếp dùng phương pháp tự nội chứng để chỉ dạy chúng sinh, tương đương với thời kinh Hoa nghiêm đă nói.
2. Tiệm giáo: Nội dung của việc hoá là dùng những giáo pháp từ cạn dần dần (tiệm) đến sâu, tương đương với 3 thời: A hàm, Phương đẳng, Bát nhă.
3. Bí mật giáo: Đức Phật ứng theo căn cơ, năng lực, bản chất bất đồng của chúng sinh mà truyền dạy các giáo pháp khác nhau.
4. Bất định giáo: Chúng sinh tuy cùng tham dự một pháp hội nhưng tuỳ theo năng lực, tŕnh độ của mỗi người mà hiểu giáo pháp khác nhau.
5. Tạm tạng giáo: Gọi tắt là Tạng giáo. Giáo pháp Tiểu thừa.
6. Thông giáo: Giáo chung cho cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa tu học.
7. Biệt giáo: Giáo pháp chỉ nói riêng cho Bồ tát.
8. Viên giáo: Viên nghĩa là là không thiên lệch, tṛn đủ dung hợp lẫn nhau. Tức bất luận mê hay ngộ, về mặt bản thể đều không phân biệt. Đó là chân lí mà Phật đă giác ngộ, cho nên Viên giáo chỉ rơ sở ngộ của Phật, tức là nêu bày giáo pháp tự nội chứng của Ngài.

 

Ngũ thừa      cinq véhicules    five vehicles    五乗    pañca yāna
Năm cổ xe chở chúng sinh đến thế giới an vui, giải thoát.
1. Nhân thừa: Quy y Tam bảo và giữ năm giới. Nếu ai nương theo pháp này mà tu hành th́ cũng như lên chiếc xe đi ra khỏi ba đường ác, thẳng đến cơi người.
2. Thiên thừa: Dùng 10 điều thiện, 4 thiền 8 định làm xe, chở chúng sinh vượt khỏi 4 châu cơi người, sinh lên các cơi trời.
3. Thanh văn thừa: Tứ diệu đế là cổ xe chuyên chở chúng sinh vượt qua 3 cơi, đến Niết bàn hữu dư, chứng thành A la hán.
4. Duyên giác thừa: 12 Nhân duyên là cổ xe chuyên chở chúng sinh ra khỏi ba cơi, đến Niết bàn vô dư, thành Bích chi Phật.
5. Bồ tát thừa: Sáu pháp ba la mật, vừa Từ Bi, vừa trí tuệ là cổ xe chuyên chở chúng sinh vượt qua cảnh giới của 3 thừa 3 cơi thẳng đến Đại niết bàn, chứng quả Vô thượng bồ đề.

 

Ngũ trược      cinq impuretés ou cinq troubles    five defilements    五濁    pañca kaṣāyāḥ
5 thứ cặn đục, xấu ác nổi lên trong thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, thuộc kiếp giảm.
1. Kiếp trược, kalpa-kaśāya: Trong thời kỳ kiếp giảm, khi tuổi thọ con người giảm xuống c̣n 30 tuổi th́ nạn nói kém xảy ra, lúc c̣n 20 tuổi th́ nạn bệnh dịch xảy ra và lúc c̣n 10 tuổi th́ nạn binh đao nổi dậy, chúng sinh trong thế giới thảy đều bị hại.
2. Kiến trược, Dṛṣṭi-kaṣāya: Chính pháp diệt hết, Tượng pháp dần dần xuất hiện, tà pháp bắt đầu sinh, tà kiến tăng mạnh, khiến con người không tu pháp lành.
3. Phiền năo trược, Kleśa-kaṣāya: Chúng sinh nhiều ái dục, tham lam, bỏn sẻn, tranh đua, nịnh hót, lừa gạt, tiếp nhận các pháp tà, làm cho tâm thần bị năo loạn.
4. Chúng sinh trược, Sattva-kaṣāya, cũng gọi hữu t́nh trược: Chúng sinh phần nhiều tồi tệ, xấu xa, không hiếu kính cha mẹ, người lớn tuổi, không sợ quả báo ác, không tạo công đức, không tu tuệ thí, chẳng giữ trai giới.
5. Mệnh trược, Āyu-kaṣāya, cũng gọi thọ trược: Đời xưa con người thọ 8 vạn tuổi, đời nay do nghiệp ác tăng mạnh nên tuổi thọ giảm dần, hiếm người sống được trăm tuổi.

 

Ngũ uẩn      Cinq agrégats    Five aggregates    五蘊    Pañca Skandha
Uẩn tiếng Phạm là skandhāḥ, có nghĩa là tích tập, là tổ hợp, hay nhóm. Skandhāḥ c̣n được dịch là ấm, có nghĩa là che đậy. 5 uẩn, pañca skandhāḥ, là 5 yếu tố, hay 5 nhóm kết hợp lại tạo thành một chúng sinh nói chung, con người nói riêng, gồm sắc (yếu tố vật chất), thọ, tưởng, hành và thức (yếu tố tinh thần). Trong đó,
1. Sắc uẩn là tứ đại, gồm đất (những phần cứng như xương, thịt…), nước (chất lỏng như máu, nước mắt…), gió (là những thể khí như hơi thở…), và lửa (hơi ấm, nhiệt lượng).
2. Thọ uẩn là một nhóm cảm giác, c̣n gọi là cảm thọ. Con người có rất nhiều loại cảm giác, nhưng khái quát th́ có ba loại chính: khổ thọ, lạc thọ và xả thọ (cảm giác không khổ không lạc).
3. Tưởng uẩn là nhóm tri giác, chỉ cho động tác của trí năng trên ảnh tượng thu nhận được, nghĩa là khi các giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh, nhóm tri giác này thu nhận, suy tư, duy tŕ, ghi nhớ và cấu thành khái niệm. Nói cách khác, tưởng uẩn là nơi tập trung những đối tượng và khái niệm hóa các đối tượng này thành những nhận thức.
4. Hành uẩn là nhóm tạo tác hay thúc đẩy tạo tác, là một loại ư chí, chủ tâm, tính toán thúc đẩy hành động. Hành uẩn là những hoạt động có ư chí, những tâm lư phát sinh động lực đưa đến tham dục, sân hận, ước muốn, t́nh yêu…là thủ phạm tạo nghiệp đưa đến thiện, ác và luân hồi.
5. Thức uẩn là khả năng phân biệt, gồm có nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức.

Xem thêm về 5 uẩn


  梵語之塞犍陀Skandha,舊譯為陰,又譯為眾,新譯為蘊。陰者積集之義。眾者眾多和聚之義,亦蘊之義也。是顯數多積集之有為法自性。作有為法之用,無純一之法,或同類,或異類,必多數之小分相集而作其用故,則概謂之陰,或蘊(陰者蔭覆之義,舊譯之一義也。見陰條),大別之五法:一、色蘊,總該五根五境等有形之物質。二、受蘊,對境而承受事物之心之作用也。三、想蘊,對境而想像事物之心之作用也。四、行蘊,其他對境關於瞋貪等善惡一切之心之作用也。五、識蘊,對境而了別識知事物之心之本體也。以一有情徵之,則色蘊之一即身,他四蘊即心也。心之中,受想行之三者心性上各為一種特別之作用,故名之為心所有法,即心王所有之法(略云心所),識之一者為心之自性,故名之為心王。蓋五蘊為身心之二法,如色界欲界有身之有情,從五蘊而成,如無色界無身之有情,自四蘊(除色蘊)而成也。毘婆尸佛經上曰:「五蘊幻身,四相遷變。」增一阿含經二十七曰:「色如聚沫,受如浮泡,想如野馬,行如芭蕉,識為幻法。」

Ngạ quỷ      esprits affamés    Hungry ghost    餓鬼     preta
Quỷ đói. Là một trong 3 đường ác, một trong 5 hay 6 đường mà chúng sinh sẽ đi đến tuỳ theo nghiệp của ḿnh đă tạo. C̣n có tên là Quỷ đạo, Quỷ thú, hay Ngạ quỷ đạo. Loài quỷ này thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn.

  (異類)梵語,薜荔哆Preta,譯曰餓鬼。三塗之一。法華經云:受地獄餓鬼畜生之苦是也。又為六趣之一。餓鬼趣常苦飢餓,由其所受果報不同,而有勝劣。有福德者,則為山林塚廟之神。下者居不淨處,不得飲食,常受刀杖之苦。雜心論八曰:「從他希求故,說餓鬼。」婆沙論百七十二曰:「有說飢渴增故名鬼,由彼積集感飢渴業,經百千歲,不得聞水名,豈能得見,況復得觸。有說被驅役故名鬼,恒為諸天處處驅役馳走故。有說多希望故名鬼,謂五趣中,從他有情。多希望者,無過此故。」大乘義章八末曰:「言餓鬼者,如雜心釋,以從他求故名餓鬼。又常飢虛,故名為餓。恐怯多畏,故名為鬼。」此鬼類中。有有藥叉羅剎之大威德者,故新譯曰鬼,不曰餓。然舊譯之經論,名曰餓鬼,以鬼類中餓鬼最多故也。

Ngộ      Illumination        悟    
Ngộ, tỉnh ngộ, giác ngộ, hiểu ra sự thật, thấy được chân lư. Chấp mê bất ngộ 執迷不悟 là mê muội măi không tỉnh ngộ; hoát nhiên đại ngộ 恍然大悟 là bỗng nhiên tỉnh ngộ, bừng tỉnh.

  覺之意。對於迷而言。即自迷夢醒覺也。與覺悟同義。

Ngă      Soi ou moi-substance    mine    我    ātman
Cái tôi, cái ta, hay linh hồn, hoặc chỉ chung cho chủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn gốc của mọi vật và chi phối cá thể thống nhất.
Phật giáo chủ trương thuyết vô ngă, phủ nhận cái tôi, cái ta hay linh hồn.

Truy t́m tự ngă


  己身有一主宰而常住者。外道認定我者為外道,否定之者為教。唯識論一曰:「我謂主宰。」述記一本曰:「我如主宰者,如國之主有自在故,及如輔宰能割斷故。有自在力及割斷力義,同我故。或主是我體,宰我所。或主如我體,宰如我用。」佛教指五蘊之和合者為假我,非有實之我體。佛地論一曰:「我謂諸蘊世俗假者。」智度論一曰:「佛弟子輩等,雖知無我隨俗法說我,非實我也。」

Ngă ái          self-love    我愛     ātma-sneha
Yêu quư cái "ta" rất sâu đậm, là 1 trong 4 phiền năo căn bản, do thức thứ 7 (mạt na thức) chấp thức thứ 8 (a lại da thức) làm ngă mà sinh khởi.

  為四根本煩惱之一。謂深生愛著於一己妄執之自我。第七末那識常執著第八阿賴耶識為「我」而生起此煩惱。成唯識論卷四(大三一‧二二中):「我愛者,謂我貪。於所執我深生耽著,故名我愛。」〔大方廣圓覺修多羅了義經、成唯識論述記卷五本、成唯識論掌中樞要卷下本〕

Ngă chấp          egocentrism    我執    Ātma-grāha
Cố chấp có thực ngă. Thể của chúng sinh chỉ do 5 uẩn giả hợp mà thành, nếu chấp có thực ngă chủ tể tồn tại mà sinh ra vọng tưởng phân biệt ta và của ta, th́ gọi là Ngă chấp.

  認有我身之執念為我執,亦云人執。唯識述記一本曰:「煩惱障品類眾多,我執為根,生諸煩惱,若不執我無煩惱」俱舍論二十九曰:「由我執力,諸煩惱生。三有輪迴,無容解脫。」俱舍光記二曰:「我執謂我見。」

Ngă chấp tập khí              我執習氣    ātma-grāha-vāsanā
C̣n gọi là Ngă chấp huân tập.
Chỉ cho chủng tử h́nh thành từ sự chấp ngă (diễn ra trong thức thứ sáu ư thức và thức thứ bảy mạt-na thức).
Thành duy thức luận giải thích: Ngă chấp tập khí, đó là chủng tử của ngă và ngă sở được chấp thủ một cách bất thực. Ngă chấp có hai: Một, câu sinh ngă chấp, loại kiến chấp về ngă và ngă sở bị đoạn trừ bởi tu đạo. Hai, phân biệt ngă chấp, lọai kiến chấp ngă, ngă sở bị đoạn trừ bởi kiến đạo.
Tùy theo chủng tử được huân tập thành hai loại ngă chấp này mà có sự sai biệt ta và nó trong các hữu t́nh.

  成唯識論八卷八頁云:二、我執習氣。謂虛妄執我我所種。我執有二。一、俱生我執。卽修所斷我我所執。二、分別我執。卽見所斷我我所執。隨二我執所熏成種,令有情等自他差別。

Ngă kiến          self-view    我見    Ātma-dṛṣṭi
Nhận thức, quan niệm về một cái ngă có thật. C̣n gọi là Thân kiến. Có 2 loại:
1. Nhân ngă kiến: Chấp trước thân tâm do 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức giả hợp này là một cái ngă có thực.
2. Pháp ngă kiến: Cho rằng tất cả các pháp đều có thể tính thực tại.

  指執著有實我之妄見,亦即於非我之法,妄執為我。據大乘起信論載,此又分人、法二種:(一)人我見,即執著於色、受、想、行、識,以五蘊假合之身心為實我。(二)法我見,即妄計一切法皆有其實在體性。又唯識宗以我見為四根本煩惱之一,謂其與第七末那識相應。此末那識係由無始以來虛妄之熏習力,緣於第八阿賴耶識之分,而有實我實法之見。〔大毘婆沙論卷八、大乘阿毘達磨雜集論卷一、俱舍論卷十九、成唯識論卷四、卷六、成唯識論了義燈卷二本〕

Ngă mạn      arrogance    identity    我慢    Asmimāna
Tâm kiêu mạn do chấp ngă là trung tâm, 1 trong 7 thứ mạn, 1 trong 9 thứ mạn.
Luận Thành duy thức quyển 4 định nghĩa: "Ngă mạn là tâm cao ngạo do chấp ngă mà sinh".

  恃我而自貢高,慢他也。唯識論四曰:「我慢者,謂倨傲恃所執我。令心高舉,故名我慢。」法華經方便品曰:「我慢自矜高,諂曲心不實。」


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27