Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Nhất thiết trí              一切智    Sarva-jñana
Trí biết rơ tất cả pháp tướng như tất cả thời gian, tất cả các cơi, tất cả mọi việc, tất cả giống loài... Đây là trí thế đế của Như lai.

  指通達一切法相的智慧

Nhị chướng          Two hindrances    二障    
2 thứ chướng ngại.
1. Phiền năo chướng và sở tri chướng.
- Phiền năo chướng: Do chấp ngă mà sinh ra, v́ tất cả các phiền năo (các hoặc) tham, sân, si... phát nghiệp liên tục, phiền nhiễu thân tâm loài hữu t́nh, khiến phải sinh tử măi trong 3 cơi, 5 đường, gây chướng ngại cho quả Niết bàn, nên gọi là Phiền năo chướng.
- Sở tri chướng, cũng gọi là Trí chướng: Do chấp pháp mà sinh ra, v́ các hoặc tham, sân, si... khiến loài hữu t́nh trở nên ngu si, mê muội, ngăn trở diệu trí bồ đề, làm cho chúng sinh không thấy rơ được sự tướng, và thực tính của các pháp, v́ thế gọi là Sở tri chướng.

2. Phiền năo chướng và Giải thoát chướng.
- Phiền năo chướng: Như đă nói ở trên.
- Giải thoát chướng, cũng gọi Bất nhiễm vô tri định chướng, Định chướng, Câu giải thoát chướng. Giải thoát là tên khác của định Diệt tận. V́ pháp này gây trở ngại cho bậc Thánh vào định Diệt tận, cho nên gọi là Giải thoát chướng (chướng ngại sự giải thoát).

3. Nội chướng và Ngoại chướng.
- Nội chướng: Ba độc tham, sân, si.
- Ngoại chướng: Những chướng ngại bên ngoài.

  <一>煩惱障與所知障。係瑜伽行派與法相宗對貪、瞋、癡等諸惑,就其能障礙成就佛果之作用所作之分類。(一)煩惱障,由我執(人我見)而生,以貪瞋癡等一切諸惑,發業潤生,煩擾有情之身心,使在三界五趣之生死中,而障涅槃之果,故稱煩惱障。(二)所知障,由法執(法我見)而生,以貪瞋癡等諸惑為愚癡迷闇,其用能障菩提妙智,使不能了知諸法之事相及實性,故稱所知障,又作智障。離此二障,則稱二離。〔成唯識論卷九〕 <二>煩惱障與解脫障。(一)煩惱障同上所述,乃障無漏慧之生起。(二)解脫障,又作不染無知定障、定障、俱解脫障。解脫者,滅盡定之異名,因障聖者入滅盡定之法,故稱解脫障,其體為不染污無知之一種。〔俱舍論卷二十五、俱舍論光記卷二十五、俱舍論頌疏卷十二〕 <三>理障與事障。(一)理障,謂邪見等之理惑障正知見者,相當於所知障。(二)事障,謂貪等之事惑相續生死而障涅槃者,相當於煩惱障。〔圓覺經卷下〕 <四>內障與外障。(一)內障,即三毒,為令眾生內心生起煩惱之障。(二)外障,即七難,為外界所加之障礙。〔阿娑縛抄卷一八七〕

Nhị hoặc              二惑    
A. Kiến hoặc và Tu hoặc.

1. Kiến có nghĩa là suy độ, t́m hiểu, tư duy, suy nghĩ, kiến thức. Do suy nghĩ tà vạy mà khởi lên chấp trước, cho vạn hữu là thật có, nên vọng tưởng không dừng, gọi là Kiến hoặc, như Ngă kiến, Biên kiến... Những kiến thức sai lầm này sẽ được đoạn trừ khi thấy được chân lư Tứ đế, tức đạt được địa vị Kiến đạo.
2. Tu hoặc, c̣n gọi là Tư hoặc, là do nghĩ đến những sự vật ở thế gian mà sinh ra phiền năo, như tham, sân, si, mạn, nghi... Những phiền năo này sẽ được đoạn trừ trong quá tŕnh Tu đạo.

B. Lư hoặc và Sự hoặc

Tạng giáo và Thông giáo cho rằng, Kiến hoặc là do mê lầm về lư Tứ đế, không thấy sự thật vô thường, vô ngă, nên gọi là Lư hoặc (mê lầm sự lư) ; Tu hoặc là do mê lầm nơi sự tướng, chấp các pháp thế gian như sắc, thanh... là thật có, cho nên gọi là Sự hoặc (mê lầm sự tướng).
Biệt giáo và Viên giáo th́ tổng quy tất cả mọi vọng tưởng mê hoặc làm thành 3 loại : Căn bản vô minh có khả năng che đậy lư Trung đạo, gọi là Lư hoặc ; Trần sa có khả năng làm trở ngại Tâm bồ đề, che đậy chân lư thế gian (tục đế) ; Kiến tư có khả năng chướng ngại chứng quả Niết bàn, che đậy chân đế ; hai loại sau đều thuộc về Sự hoặc.
Căn cứ sự phân lập của Pháp tướng tông, th́ Phiền năo chướng là do mê lầm lư Niết bàn, nên gọi là Lư hoặc ; Sở tri chướng do mê sự tướng Tục đế, gọi là Sự hoặc.

  <一>煩惱障與所知障。係瑜伽行派與法相宗對貪、瞋、癡等諸惑,就其能障礙成就佛果之作用所作之分類。(一)煩惱障,由我執(人我見)而生,以貪瞋癡等一切諸惑,發業潤生,煩擾有情之身心,使在三界五趣之生死中,而障涅槃之果,故稱煩惱障。(二)所知障,由法執(法我見)而生,以貪瞋癡等諸惑為愚癡迷闇,其用能障菩提妙智,使不能了知諸法之事相及實性,故稱所知障,又作智障。離此二障,則稱二離。〔成唯識論卷九〕 <二>煩惱障與解脫障。(一)煩惱障同上所述,乃障無漏慧之生起。(二)解脫障,又作不染無知定障、定障、俱解脫障。解脫者,滅盡定之異名,因障聖者入滅盡定之法,故稱解脫障,其體為不染污無知之一種。〔俱舍論卷二十五、俱舍論光記卷二十五、俱舍論頌疏卷十二〕 <三>理障與事障。(一)理障,謂邪見等之理惑障正知見者,相當於所知障。(二)事障,謂貪等之事惑相續生死而障涅槃者,相當於煩惱障。〔圓覺經卷下〕 <四>內障與外障。(一)內障,即三毒,為令眾生內心生起煩惱之障。(二)外障,即七難,為外界所加之障礙。〔阿娑縛抄卷一八七〕

Nhị ngă chấp          two kinds of attachment to self    二我執    
Chỉ cho Câu sinh ngă chấp và Phân biệt ngă chấp.
1. Câu sinh ngă chấp: Đối với thân do 5 uẩn giả hoà hợp, vọng chấp là thực ngă, ngă chấp này sinh ra cùng một lúc với thân, nên gọi là Câu sinh ngă chấp.
2. Phân biệt ngă chấp: Do chấp trước thực ngă, nên phân biệt rằng ta có khả năng làm các việc thiện, việc ác... từ đó khởi chấp trước, tức nương vào sức phân biệt của chính ḿnh mà sinh ra chấp trước, gọi là Phân biệt ngă chấp.

  一、俱生我執,為先天隨生具有之我執。二、分別我執,為後天的我執,依自己之分別力而生者。

Nhị ngă kiến          Two views of self    二我見    
Chỉ cho 2 thứ vọng chấp là Nhân ngă kiến và Pháp ngă kiến.
1. Nhân ngă kiến: Tất cả phàm phu không hiểu được rằng thân người là do 5 uẩn giả hợp, rồi cho là có chủ tể mà chấp ta là con người có ngă thể thường nhất, gọi là Nhân ngă kiến.
2. Pháp ngă kiến: Hàng Nhị thừa không liễu ngộ được tính không của các pháp, nên chấp tất cả pháp đều có thể tính, dù được nhân vô ngă, nhưng c̣n sợ sinh tử, vọng chấp pháp Niết bàn, đối với các pháp c̣n có kiến chấp, cho nên gọi là Pháp ngă kiến.

  一、人我見,一切凡夫,不了人身為五蘊假和合,固執人有常一我體之惡見也。二、法我見,一切凡夫,不了諸法之空性,固執法有真實體用之妄見也。起信論下末曰:「人我見者,計有總相主宰,法我見者計一切法各有體性。」

Nhị quán          two kinds of meditation    二觀    
Sự quán và Lư quán.
Lư quán: quán chiếu lư tánh của các pháp, tức nh́n vào bên trong để thấy được thực tướng của các pháp.
Sự quán: quán chiếu bề ngoài, chỉ thấy các pháp trên mặt hiện tượng, chưa thấy được bản chất.

  一、事觀,觀因緣所生之事相,二、理觀,觀萬法之實性也。諸宗之觀法,各分此二觀,如天台一家,以占察經所說唯識實相之二觀為事理之二觀,唯識觀為事觀,實相觀為理觀。

Nhị thừa      deux véhicules    two vehicles    二乘    paramārtha-yāna
Thừa (yāna), là công cụ vận chuyển như xe cộ, thuyền bè... Giáo pháp của Phật giống như thuyền bè đưa chúng sinh qua biển sinh tử có hai loại khác nhau, nên gọi là Nhị thừa.
1. Tiểu thừa và Đại thừa: Giáo pháp do Phật giảng dạy suốt cuộc đời của Ngài có thể phân thành hai loại là Tiểu thừa và Đại thừa. Những giáo pháp Phật dạy cho hàng Thanh văn, Duyên giác gọi là Tiểu thừa; giáo pháp Phật dạy cho hàng Bồ tát tu hành thành Phật gọi là Đại thừa.
2. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa: Trong giáo pháp Tiểu thừa phân thành hai loại: 1, Nếu trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, y theo lư Tứ đế tu tập mà đạt được giác ngộ, gọi là Thanh văn thừa; 2. Không được trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, tự ḿnh quán chiếu lư 12 nhân duyên mà đạt được giác ngộ, gọi là Duyên giác thừa.
3. Nhất thừa và Tam thừa: Trước khi đức Phật giảng kinh Pháp hoa, đức Phật đă phương tiện dẫn dắt cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát tu tập chứng quả theo ba cách khác nhau, gọi là Tam thừa. Đến thời kỳ thích hợp, Phật giảng kinh Pháp hoa, trong pháp hội này, đức Phật đem cả ba thừa đă giảng trước đây quy về một mối, để đưa tất cả chúng sinh đều thành Phật, gọi là Phật thừa, hay Nhất thừa.

 

Nhị thiền      Deuxième niveau d'expérience méditative    Second meditation    二禪    Dvitīya-dhyāna
Tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm.
Người chứng Nhị thiền tâm định trong sáng, cảm nhận hỷ lạc, nên gọi là Định sinh hỷ lạc.

  乃色界四重禪定之第二重,攝內等淨、喜、樂、心一境性四支。心一境性為二禪之自性支;內等淨謂二禪離初禪之尋伺塵濁之法,其內之信相明淨,亦即無尋無伺,無覺無觀,於三受中感受喜樂之二受。所謂喜樂二支,乃依此定而勝生喜樂,故又稱為定生喜樂。

Nhị thiền thiên          second meditation heaven    二禪天    Dvitīya-dhyāna
Cơi trời của những người tu chứng Nhị thiền, là tầng trời thứ hai trong cơi Sắc. Tầng này lại được chia làm 3 cơi là: Trời Thiểu quang, Trời Vô lượng quang và Trời Quang âm.
Người ở cơi Nhị thiền tuy đă ĺa 2 tâm sở tâm và tứ thô động của Sơ thiền, có thể tránh khỏi đại hoả tai của kiếp mạt, nhưng v́ vẫn c̣n có niệm hỉ lạc nên không tránh khỏi đại thuỷ tai của kiếp mạt.

  修成二禪者,所生之天處也,為色界天之第二重,新譯謂之二靜慮。此中更別為三天,一少光天,二無量光天,三光音天也。二禪之天人,既離尋伺之麤動,雖免劫末之大火災,然以其猶有喜樂之念,故不得免劫末之大水災,何則,以喜樂之潤身,與水大之潤身相似故也。俱舍論十二曰:「第二靜慮喜受為內災,與輕安潤身如水故。」

Nhân quả      causalité     cause and effect    因果    hetu-phala
Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả.
Phật giáo cho rằng, tất cả các pháp đều y cứ vào nguyên lư nhân quả để sinh thành và hoại diệt.
Nhân là cái có năng lực phát sinh. Quả là cái kết quả được phát sinh. Như vậy, có nhân chắc chắn phải có quả, có quả chắc chắn phải có nhân. Do nhân mà sinh ra quả, nhân quả rơ ràng.
Thập pháp giới gồm cả mê và ngộ cũng không nằm ngoài mối quan hệ nhân quả. Chẳng hạn, ngoại giới khách trần và chủ thể nội tâm của chúng sanh cũng hỗ tương làm nhân duyên cho nhau ; do chúng sanh vô minh mà khởi lên ngă kiến, ngă kiến lại duyên với khách thể của ngoại giới, khách thể hấp dẫn khiến cho chúng sanh khởi lên tham dục, do tham dục dẫn đến hành động xấu ác, do hành động xấu ác dẫn đến tái sinh và hứng chịu những thống khổ, do thống khổ lại chất chồng thêm vô minh. Cái này cái kia làm nhân duyên, quả báo cho nhau, nhân quả hỗ tương qua lại.
Nhân quả có thể phân ra như sau : Nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian, nhân quả mê giới, nhân quả ngộ giới.
Căn cứ Tứ diệu đế mà nói th́, Khổ đế và Tập đế là cặp nhân quả của mê giới, nhân quả thế gian ; Diệt đế và Đạo đế là cặp nhân quả của ngộ giới, nhân quả xuất thế gian.
Đứng về mặt thời gian mà nói th́, nhân quả chi phối cả ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai. Đứng về mặt không gian mà nói th́, ngoại trừ Pháp vô vi, tất cả vạn sự vạn vật đều bị chi phối bởi luật nhân quả. Phật và Bồ-tát cũng như vậy.
Đứng trên lập trường cơ bản và thực tiễn của tôn giáo mà nói th́, Đại thừa hay Tiểu thừa đều có những cơ sở lư luận và phân loại cụ thể về giáo lư nhân quả. Tựu trung, Tiểu thừa đem mối quan hệ nhân quả phân ra làm Sáu nhân, Bốn duyên, Năm quả, đặc biệt coi trọng hành vi và nhận thức của con người, nhằm giải quyết các vấn đề như phiền năo, nghiệp do đâu mà sinh, làm thế nào để đoạn trừ… Đại thừa th́ coi Duyên khởi chính là trạng thái hỗ tương của các mối quan hệ nhân quả, lấy Bốn duyên, Mười Nhân, Năm quả làm nội dung chủ yếu cho mối quan hệ nhân quả đó, đồng thời thuyết minh A-lại-da là trung tâm hành vi và nhận thức của con người.
Ngoài ra, các tông phái Phật giáo đều nói rơ thiện nhân thiện quả, ác nhân ác quả và giải thích, hễ nghiệp nhân thiện th́ chắc chắn đưa tới quả báo thiện, nghiệp nhân ác th́ chắc chắn có quả báo ác. Tuy nhiên, do hai nghiệp thiện và ác chiêu cảm quả báo hạnh phúc và khổ đau hệ thuộc pháp vô kư, có tính chất phi thiện phi ác, cho nên thiện nhân đưa tới thiện quả, ác nhân đưa tới ác quả cũng gọi là thiện nhân lạc quả, ác nhân khổ quả. Như vậy, hễ có nghiệp nhân thiện, ác th́ chắc chắn có cái quả báo khổ hoặc vui, lư nhân quả nghiễm nhiên, không hề sai khác, gọi là nhân quả báo ứng.

  因者能生。果者所生。有因則必有果。有果則必有因。是謂因果之理。佛教通之三世說善惡應報之義。觀無量壽經曰:「深信因果,不謗大乘。」止觀五下曰:「招果為因,剋獲為果。」十住毘婆娑論十二曰:「因以得知,得者成就。果者從因有,事成名為果。」

Nhân quả ứng báo      causalité     cause and effect    因果應報    hetu-phala
Cũng gọi là Nhân quả ứng báo, Nhân quả nghiệp báo, Nhân ác nghiệp báo.
Gieo nhân th́ được quả, lú ấy rất rơ ràng, không sai lầm. Nghĩa là tất cả mọi sự vật đều bị pháp tắc nhân quả chi phối; hễ nhân lành th́ ắt sinh quả lành, gọi là Thiện nhân thiện quả; c̣n nhân ác th́ chắc chắn mang lại quả ác, gọi là Ác nhân ác quả, không hề sai trật.

  為佛教用來說明世界一切關係之基本理論。又作因果應報、因果業報、善惡業報。謂一切事物皆有因果法則支配之,善因必產生善果,稱為善因善果;惡因必產生惡果,稱為惡因惡果。無量壽經卷下(大一二‧二七七上):「天地之間,五道分明,恢廓窈冥,浩浩茫茫,善惡報應,禍福相承。」即是此例。 因,因緣之義,分為六因、十因、四緣等;果,果報、酬因為果之義。瑜伽師地論卷三十八所說之「已作不失,未作不得」一語,揭出佛教因果論之特點,即任何思想行為,必然導致相應之後果,「因」未得「果」之前,不會自行消失;反之,不作一定之業因,則不會得相應之結果,並據此提出「三世因果」之說,亦即認為現世之貧富窮達,乃前生所造善惡諸業所定之果報;而今生之善惡行為,亦必影響來世之罪福報應。〔輪轉五道罪福報應經、過去現在因果經卷四、法苑珠林卷七十〕

Niết bàn      Nirvāṇa    Nirvāṇa    涅槃    Nirvāṇa
Niết-bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt. Phật giáo dùng từ này để biểu thị trạng thái lửa phiền năo thiêu đốt đă bị dập tắt hoàn toàn, là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ, cảnh giới hoàn toàn không có khổ đau. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử (mê giới), cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo, cho nên được xếp vào một trong những pháp ấn, gọi là Niết-bàn tịch tĩnh.

Tuỳ theo trạng thái Niết-bàn đạt được mà người ta chia ra nhiều loại Niết-bàn khác nhau. Niết-bàn không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, tư duy phân biệt, nhưng nó là một trạng thái có thật, và ai cũng có thể đạt được, nhờ vào sự diệt trừ một cách hoàn toàn những phiền năo. Nếu đă trừ diệt hoàn toàn những nguyên nhân của khổ, tức diệt hết phiền năo ngay trong đời này, ngay nơi thân thể và cuộc sống này, th́ gọi là Hữu dư y Niết-bàn. Nếu đă diệt trừ hoàn toàn nguyên nhân của khổ và không c̣n dư báo của khổ, tức phiền năo đă diệt hết và báo thân này cũng hết, gọi là Vô dư y Niết-bàn.
Niết-bàn là thực tại, là thấy được Thực tướng của các pháp. Thực tướng của các pháp là tính không, là pháp do nhân duyên sinh ra, bởi thế Niết bàn và sinh tử thế gian không có sai khác.

  又作泥洹、泥曰、涅槃那、涅隸槃那、抳縛南、䁥縛��。意譯作滅、寂滅、滅度、寂、無生。與擇滅、離繫、解脫等詞同義。或作般涅槃(般,為梵語 pari 之音譯,完全之義,意譯作圓寂)、大般涅槃(大,即殊勝之意。又作大圓寂)。原來指吹滅,或表吹滅之狀態;其後轉指燃燒煩惱之火滅盡,完成悟智(即菩提)之境地。此乃超越生死(迷界)之悟界,亦為佛教終極之實踐目的,故表佛教之特徵而列為法印之一,稱「涅槃寂靜」。佛教以外之教派雖亦有涅槃之說,然與佛教者迥異。佛教大乘、小乘對涅槃之解釋,異說紛紜。總約之,可大別如下: (一)據部派佛教,涅槃即滅卻煩惱之狀態。其中復有有餘(依)涅槃與無餘(依)涅槃之分,前者是雖斷煩惱,然肉體(意即殘餘之依身,略稱「餘依」或「餘」)殘存之情形;後者是灰身滅智之狀態,即指一切歸於滅無之狀況。有部等主張涅槃乃一存在之實體,經量部等視涅槃為煩惱滅盡的狀態之假名,而其本身並無實體。 (二)中論等以實相為涅槃,實相又即為因緣所生法上之空性,故與生死世間無有區別。同時,南本涅槃經卷三指出涅槃具足如下八味,即常、恆、安、清淨、不老、不死、無垢、快樂,稱為涅槃八味。若以此配以涅槃四德,常、恆為常,安、快樂為樂,不老、不死為我,清淨、無垢為淨。唯識宗稱涅槃有四種,即本來自性清淨涅槃、有餘依涅槃、無餘依涅槃與無住處涅槃四種。其中之本來自性清淨涅槃,略稱本來清淨涅槃、性淨涅槃,謂一切事物之本來相即是真如寂滅之理體,乃指真如。無住處涅槃,即依於智慧,遠離煩惱、所知二障,不滯生死之迷界,且因大悲救濟眾生,故在迷界中活動,又不滯於涅槃之境地。大乘佛教之涅槃教說即以此為特色。 此外,地論宗、攝論宗謂涅槃分為性淨涅槃與方便淨涅槃(藉修道去除煩惱而得之涅槃)二種。天台宗則分為性淨涅槃、圓淨涅槃(相當於地論宗等之方便淨涅槃)與方便淨涅槃(佛以救渡眾生故,示現假身,緣盡而入涅槃。又作應化涅槃)等三涅槃。 (三)小乘之聲聞、緣覺入無餘涅槃,再迴心轉向大乘之教,稱為無餘還生。同時,涅槃乃超離一切差別相狀者(有為之相),故又稱離相。淨土宗稱彌陀淨土為涅槃之城,亦稱無為涅槃界。 (四)出現此世為人的佛(特指釋尊),其肉體之死,稱涅槃、般涅槃、大般涅槃。入涅槃又稱入滅、薪盡火滅(薪喻佛身或機緣,火喻智慧或佛身)。涅槃原意指釋尊之成道,但今大抵皆作無餘依涅槃之意。刻繪釋尊入滅姿態之畫像或雕像,稱為涅槃像。舉行追慕釋尊之法會,稱涅槃會、涅槃忌、常樂會等。後世稱僧侶之死為圓寂、歸寂、示寂、入寂等。〔雜阿含經卷十八、北本涅槃經卷三十三、金光明最勝王經第一如來壽量品、大毘婆沙論卷二十八、卷三十三、卷三十四、俱舍論卷六〕

Niệm          mindfulness, memory    念    smṛti
Niệm là ghi nhớ, tên một loại tâm sở (tác dụng của tâm). Tâm sở này ghi nhớ những đối tượng mà nó duyên theo một cách rơ ràng không để quên mất.
Ví dụ: Niệm Phật là ghi nhớ Phật ở trong ḷng, không bao giờ quên.
Niệm là một loại tâm sở pháp, là một trong năm loại tâm sở biệt cảnh. Ư nghĩa của nó là Hệ niệm, là buộc tâm chuyên chú vào một cảnh giới, ghi nhớ rơ ràng, không để quên mất. Thông thường, chúng ta hay nói là ‘hoài niệm’, tức là chỉ cho cái tâm nhớ về cảnh giới quá khứ. Nhưng chữ niệm ở đây, trong ư nghĩa của Phật giáo, nó thông cả ba đời, là nhớ nghĩ cảnh giới quá khứ mà khiến cho hiện tại được phân minh rơ ràng.
Niệm là một trong những phương pháp tu hành Phật pháp, như thực tập sổ tức quán (theo dơi và đếm hơi thở ra vào) gọi là an ban niệm; niệm Phật, Pháp, Tăng, Thí, Giới và Thiên gọi là Lục niệm; trong 37 phẩm trợ đạo có Tứ niệm xứ… đều là những pháp tu bằng niệm.
Để đạt được định th́ bắt buộc phải có niệm, do niệm mà dần đi vào định. Trong kinh có nói, tâm của chúng ta phiền năo tán loạn, khi nghĩ cái này khi nghĩ cái kia, không một sát-na dừng nghỉ, cho nên cần phải cho nó một đối tượng để cho nó duyên vào đó, để cột nó lại, khiến cho nó từ từ an trụ.
Phẩm loại túc luận nói ‘niệm là rơ tâm, nhớ tánh’. Câu-xá luận nói ‘niệm là nhớ rơ đối tượng không quên’. Thành duy thức luận định nghĩa: ‘Niệm là ǵ? Tự tính của nó là sự nhớ rơ không quên mất của tâm đối với cảnh đă từng quen thuộc. Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho định. Tức là thường xuyên ghi nhớ cảnh đă từng được tiếp nhận không để cho quên mất, có thể dẫn đến định. Đối với cảnh mà thể và loại của nó chưa hề được tiếp nhận, niệm hoàn toàn không phát khởi. Giả sử đối tượng đă từng được tiếp nhận nhưng không được ghi nhận rơ ràng, niệm cũng không phát sinh’.

  心所(心之作用)之名,即對所緣之事明白記憶而不令忘失之精神作用。又作憶。於俱舍宗,以之爲十大地法之一,唯識宗列爲五別境之一。以其具有殊勝力,而爲五根、五力之一,稱爲念根、念力。「失念」即相反義。〔品類足論卷一、俱舍論卷四、成唯識論卷五、大毘婆沙論卷四十二、瑜伽師地論卷五十五〕 

Niệm phật      Méditer sur un bouddha     Be mindful of the meritorious virtues of the Buddha    念佛    Buddhānusmṛti
Niệm Phật, tiếng Phạn buddhānusmṛti (Pàli: buddhānussati), là một trong những pháp môn tu hành rất căn bản được Đức Thế Tôn chỉ dạy rất rơ ràng, hiện c̣n lưu lại trong các bản kinh rất cổ xưa, cả tạng Pàli và tạng Hán, gồm có ba cách: một là nhớ nghĩ pháp thân Phật, hai là quán tưởng tướng hảo và công đức của Phật, ba là xưng niệm danh hiệu của Phật. Trong đó, theo lư mà niệm Phật th́ gọi là pháp thân niệm Phật (c̣n gọi là thật tướng niệm Phật); trong tâm luôn nhớ nghĩ đến h́nh tướng và công đức của Phật gọi là quán tưởng niệm Phật; miệng luôn xưng danh hiệu Phật gọi là tŕ danh niệm Phật, xưng danh niệm Phật.
Trong văn bản gốc kinh A-di-đà bằng tiếng Phạn, th́ chữ “niệm Phật” có nguyên ngữ ban đầu là buddhamanasikāra, sau được viết thành buddhānusmṛti. Chữ manasikāra có nghĩa là tác ư. Chữ smṛti có nghĩa là ức niệm. Theo đó, người ta đă dịch buddhamanasikāra (hoặc buddhānusmṛti) thành “niệm Phật”, hoặc “tŕ danh niệm Phật”.

  梵語 buddhānusmṛti,巴利語 buddhānussati。即在心裏稱念法身佛(理念上之佛),觀想具體存在之佛相,或佛陀之功德,乃至口中稱念佛之名號,皆稱爲念佛,乃一般修行佛道之基本行法之一。其中,由理法念佛,稱爲法身念佛;於心思上浮現佛之功德及佛相,稱爲觀想念佛;而口稱佛名,則稱爲稱名念佛、口稱念佛。

Oán tắng hội khổ              怨憎會苦    Apriya-saṃprayoga-duḥkha
Cũng gọi Phi ái hội khổ, Oán tăng ố khổ.
Ghét nhau mà phải gặp nhau, phải sống chung với nhau... là khổ. Là 1 trong 8 cái khổ.
Theo kinh Phân biệt thánh đế trong Trung A hàm quyển 7, khi thân tâm chúng sinh tiếp xúc với những trần cảnh mà ḿnh không ưa thích th́ sẽ dẫn đến khổ đau.
C̣n theo Đại thừa nghĩa chương quyển 3 th́ có 23 loại Oán tăng hội khổ là nội và ngoại. Nội oán tắng hội khổ là quả báo trong 3 đường ác; ngoại oán tắng hội khổ là các duyên như dao, gậy...

  八苦之一,五苦之一。謂眾生不由自主,不得不與憎惡者會合之苦惱。又作非愛會苦、怨憎惡苦、不相哀相逢會苦。據中阿含卷七分別聖諦經(大一‧四六八上):「謂眾生實有內六處,不愛眼處,耳、鼻、舌、身、意處,彼同會一,有攝和集,共合爲苦。如是,外處、更樂、覺、想、思、愛,亦復如是。」此皆因不愛之境與身心會合而引發之痛苦,稱爲怨憎會苦。又五王經載,世人薄俗,共居愛欲之中,共爭不急之事,更相殺害,遂成大怨,各自相避,隱藏無處,各磨刀、錯箭、挾弓、持杖,恐忽相見;會遇狹道,各自張弓注箭,兩刀相向,不知勝負是誰,怖畏無量。又大乘義章卷三謂,怨憎會苦有內外二者,內者即三惡道報,外者即刀杖等緣。〔北本大般涅槃經卷十二、四諦經、大毘婆沙論卷七十八〕

Phương tiện       Moyen pratique        方便    Upāya
Phương tiện cũng thường nói là «phương tiện quyền xảo»: sự khéo léo của khả năng thuyết giáo, hướng dẫn thích hợp tùy theo căn tánh mỗi chúng sanh để đưa đến địa vị của Phật thừa.
Bồ-tát đạo được thực hành trên một nền tảng song đối, đó là đại trí và đại bi hay đại hạnh. Với đại trí, Bồ tát học tập quán sát để nh́n thấu suốt bản tính chân thực của vạn hữu, nghĩa là học hỏi vô biên Phật pháp, không bao giờ biết mệt mỏi nhàm chán. Nhưng Bồ tát đạo không phải là con đường mong cầu lợi ích riêng cho ḿnh, mà hướng đến sự giải thoát và giác ngộ của hết thảy chúng sinh. Do đó, song song với sự học tập và quán sát để thành tựu đại trí, Bồ tát cũng phát khởi tâm nguyện đại bi. Tâm nguyện ấy, nếu không do phương tiện trí th́ không thể thành tựu được. Bởi v́ sự thành tựu đại trí, tức thành tựu nhất thiết trí, thấy rơ chân tướng của vạn hữu, Bồ tát thấy rằng thế giới này xuất hiện như h́nh ảnh của chiêm bao, như bóng dáng trong nắng quái, như bọt nước, như làn chớp, v.v... và sự thành tựu ấy có thể dẫn đến tư tưởng nhàm chán thế gian, thúc đẩy ước vọng từ bỏ thế gian để một ḿnh thủ chứng Niết-bàn. Cho nên, sau khi đă chứng đạt đến trí tuệ thực chứng tánh không của thế giới, Bồ tát tu tập để phát hiện phương tiện trí. Với phương tiện trí, nghĩa là khả năng sử dụng phương tiện khéo léo, Bồ tát thấy mặc dù thế gian vốn trống rỗng, không thực chất, nhưng do nhân duyên, các pháp cùng tương quan mà hiện khởi. Do hiểu biết sâu xa nguyên lư duyên khởi như vậy, Bồ tát không hề nhàm chán thế gian, để chứng nhập Niết-bàn không sinh không diệt.

 

Phạm hạnh      pratique brahmanique         梵行    brahma-caryā
Hạnh thanh tịnh. Người tại gia hay người xuất gia mà có thể tu tập hạnh ly dục, sống đời thanh tịnh th́ được tôn xưng là bậc phạm hạnh. Kinh Tăng nhất a hàm ghi: "Nếu người nào giữ đầy đủ giới luật, không trái phạm, th́ người đó được gọi là bậc tu hành thanh tịnh, đạt được phạm hạnh".

 

Phạm thiên      Brahma    brahma heaven    梵天    Brahmā、Brahma-deva
Trong tư tưởng Ấn độ, Phạm được xem là nguồn gốc của muôn vật, là thần sáng tạo ra vũ trụ vạn hữu, cùng với Siva và Viṣṇu, gọi chung là Tam đại thần của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo.

  指大梵天王,名曰尸棄Śikhin,深信正法,每逢佛出世,必最初來請轉法輪,又常住佛之右邊,手持白拂(參照大梵天條)。外道所說之梵天,則大異。見梵天外道條。㘝印度云梵天。梵土天竺之意也。傳通緣起曰:「梵天之教。」㘝修驗道墓所云梵天,取梵天來降守護聖靈之意

Phạm thiên vương          great brahman heaven    梵天王    Mahābrahamā
Đại Phạm thiên, chúa tể của tầng trời Sơ thiền thuộc Sắc giới.
Trong triết học Ấn độ, Phạm thiên vương có tên là Thi-khí (Śikhin), c̣n gọi là Ta-bà thế giới chủ (Chúa tể của thế giới Ta-bà), hay Thế chủ thiên (Thiên chúa của cơi đời).
Trong Phật giáo, Đại phạm thiên là người rất kính tin Chánh pháp. Mỗi khi gặp Đức Phật ra đời, Đại phạm thiên chính là người đầu tiên thỉnh Phật chuyển pháp luân. Ông thường đứng hầu bên tay phải của Phật, tay cầm phất trần màu trắng.

  指色界初禪天之大梵天。梵天王名尸棄,又稱娑婆世界主、世主天。深信正法,每逢佛出世,必最先來請佛轉法輪。又常侍佛之右邊,手持白拂。〔雜阿含經卷四十四、法華經序品

Phẫn              怒    krodha
Tên một loại tâm sở.
Đối với hoàn cảnh không thuận theo ḷng ḿnh th́ phát khởi sự cáu gắt, bực tức, dẫn đến hành động bạo lực. Tâm lư phẫn sinh ra từ tâm lư sân, nó làm cho sự giận dữ thêm mănh liệt, nhưng chỉ trong chốc lát rồi thôi, không lâu dài.

 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27