Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Tam thế lưỡng trùng nhân quả                  
Các bộ phái Phật giáo đều phân chia 12 chi nhân duyên thành hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời, quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong đó, Vô minh và Hành là hai chi nguyên nhân của đời quá khứ; Thức, Danh sắc, Lục xứ, Xúc, Thọ là năm chi kết quả của đời hiện tại. Đây là lớp nhân quả thứ nhất, nhân quá khứ, quả hiện tại. Tiếp theo, Ái, Thủ, Hữu là ba chi nguyên nhân của đời hiện tại; cuối cùng, Sanh, Lăo tử là hai chi kết quả của đời vị lai. Đây là lớp nhân quả thứ hai, nhân hiện tại, quả tương lai. Như vậy, thuyết Tam thế lưỡng trùng nhân quả giải thích:
1. Vô minh là chỉ cho những phiền năo, những nhận thức sai lầm từ quá khứ.
2. Hành là những nghiệp thiện, nghiệp ác đă tạo từ quá khứ.
3. Thức là thức trong năm uẩn ở sát na đầu tiên khi nhập vào thai mẹ.
4. Danh sắc là 5 giai đoạn phát triển thai nhi trong bụng mẹ: Tuần lễ đầu tiên gọi là Kiết-thích-lam, Phạm Kalalaṃ, c̣n gọi là Ka-la-la, Yết-thích-lam, chỉ cho tinh cha và huyết mẹ bắt đầu kết hợp lại như tơ sương (phôi). Tuần lễ thứ 2 gọi là Án-bộ-đàm, Phạm Arbuda, c̣n gọi là A-bộ-đàm, tức thai nhi từ phôi chuyển thành phôi bào. Tuần lễ thứ 3 gọi là Bế-thi, Phạm Peśī, c̣n gọi là Tế-thi, Bế-thi, tức là phôi bào thành tế bào, có máu và thịt. Tuần lễ thứ 4 gọi là Kiện-nam, Phạm Ghana, c̣n gọi là Kiết-nam, tức là thai nhi h́nh thành. Từ tuần lễ thứ 5 đến tuần lễ thứ 38 gọi là Bát-la-xa-khư, Phạm Praśākhā, là giai đoạn các chi như tay, chân… h́nh thành.
5. Lục xứ là giai đoạn thai nhi trong bụng mẹ đă hoàn thành các căn mắt, tai…
6. Xúc là sự tiếp xúc giữa các căn với các trần sau khi thai nhi ra đời. Sự tiếp xúc này sẽ làm phát sinh tác dụng của nhận thức, nhưng ở đây chỉ là một cảm giác đơn thuần.
7. Thọ là cảm giác thấy vui, buồn, khổ đau, hạnh phúc, tác dụng của nhận thức phân biệt.
8. Ái, sự thèm khát, mong muốn.
9. Thủ, bằng mọi cách chiếm giữ, sở hữu để thoả măn ḷng tham muốn.
10. Hữu là do Ái dục và Thủ trước mà tạo nghiệp thiện, ác. Quá tŕnh tạo nghiệp thiện, ác tích luỹ và h́nh thành nên năng lực tập quán dấn đến sự thọ nhận quả báo ở tương lai.
11. Sanh, ở đây là nói đến sự thọ nhận quả báo ở tương lai, sự tái sanh sang đời khác.
12. Già chết là điều nhất định xảy ra đối với mọi sự hữu.
Nam phương Phật giáo và Đại thừa Phật giáo sau này (c̣n gọi là Bắc phương Phật giáo), đều phân tích 12 duyên khởi thành hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời. Đây là truyền thống thuyết pháp của hết thảy bộ phái Phật giáo. Tuy nhiên, Pháp tướng tông của Du-già hành pháp (hệ thống của ngài Hộ Pháp) lại phân tích 12 duyên khởi thành một lớp nhân quả liên hệ đến hai đời mà thôi, tức từ Vô minh đến Hữu, gồm 10 là nhân hiện tại; Sinh và Già chết là hai chi quả ở đời sau.
Theo trường phái Sarvāstivāda (Thuyết nhất thiết hữu bộ), 12 duyên khởi cũng được phân tích thành tam thế lưỡng trùng nhân quả, nhưng điểm đặc biệt của bộ phái này là chia 12 duyên khởi thành bốn loại khác nhau, gồm Sát-na duyên khởi, Liên phược duyên khởi, Phân vị duyên khởi và Viễn tục duyên khởi. Trong đó,
1. Sát-na duyên khởi: 12 duyên khởi cùng khởi tác dụng trong một sát-na.
2. Liên phược duyên khởi: Thuyết minh 12 duyên khởi tạo nên thân thể, tinh thần, luôn luôn thay đổi, tiến triển, biến hoá. Những hoạt động của thân và tâm mà chúng ta có thể kinh nghiệm được trong cuộc sống hằng ngày là y cứ vào mối quan hệ của loại Duyên khởi này mà phát sinh.
3. Phân vị duyên khởi: 12 chi duyên khởi được phân làm hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai.
4. Viễn tục duyên khởi: Nói rơ 12 chi duyên khởi không những chỉ biểu thị liên hệ trong ba đời, mà nhiều đời nhiều kiếp, từ vô lượng kiếp quá khứ đến vô biên kiếp vị lai.

 

Tam thừa      trois véhicules     three vehicles    三乘     trīṇi yānāni
Chỉ cho ba loại xe, ví dụ pháp môn vận chuyển chúng sinh vượt qua sinh tử đến bờ Niết bàn.
Để thích ứng với 3 loại căn cơ của chúng sinh là hạng chậm lụt (độn căn), hạng trung b́nh (trung căn) và hạng thông minh lanh lợi (lợi căn), đức Phật nói 3 thứ giáo pháp là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa.
1. Thanh văn thừa (śrāvaka-yāna): Nhờ nghe tiếng noi pháp của đức Phật mà được ngộ đạo nên gọi là Thanh văn. Hàng này tu pháp Tứ diệu đế.
2. Duyên giác thừa (pratyeka-buddha-yāna): Cũng gọi là Bích chi Phật thừa, Độc giác thừa. Nhờ quán xét 12 nhân duyên mà giác ngộ chân lư. Hạng này tu pháp 12 nhân duyên.
3. Bồ tát thừa (bodhisattva-yāna): Cũng gọi là Ddaị thừa, Như lai thừa. Cầu bồ đề vô thượng, nguyện độ tất cả chúng sinh, tu 6 pháp ba la mật và muôn hạnh.

  (一)聲聞乘(梵 śrāvaka-yāna),聞佛聲教而得悟道,故稱聲聞。其知苦斷集、慕滅修道,以此四諦為乘。(二)緣覺乘(梵 pratyeka-buddha-yāna),又作辟支佛乘、獨覺乘。觀十二因緣覺真諦理,故稱緣覺。始觀無明乃至老死,次觀無明滅乃至老死滅,由此因緣生滅,即悟非生非滅,乃以此十二因緣為乘。(三)菩薩乘(梵 bodhisattva-yāna),又作大乘(梵 mahā-yāna)、佛乘、如來乘。求無上菩提,願度一切眾生,修六度萬行,以此六度為乘。 前二乘唯自利,無利他,故總稱小乘,菩薩乘自利利他具足,故為大乘。薩婆多毘尼毘婆沙卷一、究竟一乘寶性論均以小乘所得三乘共知、中乘所得二乘共知、唯佛所得二乘不知等為由,而稱三乘為小乘、中乘、大乘;寂調音所問經、大毘婆沙論卷一二七、大智度論卷十一以於無分別一味法中說上中下而顯三乘差異為由,稱三乘為下乘、中乘、上乘;大乘莊嚴經論卷四、梁譯攝大乘論釋卷一則合稱前二乘為下乘,而稱菩薩乘為上乘。華嚴、天台宗以三乘為方便法門,畢竟歸一佛乘,是為一乘教,即三乘之外別立一佛乘;法相宗則以一乘係對一機而施,是權假之教,三乘則屬真實之教。前者稱「三乘方便一乘真實」,後者則稱「三乘真實一乘方便」。

Tam thân      trois corps    The threefold body    三身    Trayaḥ kāyāḥ
Cũng gọi là Tam thân Phật, Tam Phật thân, Tam Phật. Đó là Pháp thân, Báo thân, và Ứng hoá thân.
Thân có nghĩa là tụ tập. Tụ tập các pháp mà thành thân.
1. Sự tụ tập về lư pháp mà thành thân gọi là Pháp thân (Dhamra-kāya). Thân này vốn thanh tịnh, thường trụ vắng lặng, không sinh không diệt, đầy đủ công đức, b́nh đẳng nơi mỗi chúng sinh, gọi là Tự tính, là Như như, là Như như trí, là Pháp tính thân. Tức là cái thân chân thật của Phật, mà cũng là Tự tính thanh tịnh của mỗi chúng sinh, của cả pháp giới.
2. Sự tụ tập về trí pháp mà thành thân gọi là Báo thân (Saṃbhoga-kāya). Là thân công đức, tức là thân có được do sự tu tập thành tựu mọi công đức, đầy đủ tướng hảo trang nghiêm, thụ dụng pháp lạc vô biên, nên c̣n gọi là Thụ dụng thân.
3. Sự tụ tập các pháp công đức gọi là Ứng thân (Nirmāṇa-kāya). Là thân biến hoá theo căn tính của chúng sinh để mà giáo hoá. Chư Phật dùng thần lực không thể nghĩ bàn, biến hiện vô lượng, tuỳ theo các loài mà hoá thân, trụ ở các cơi tịnh uế, để giáo hoá chúng sinh.

  又作三身佛、三佛身、三佛。身即聚集之義,聚集諸法而成身,故理法之聚集稱為法身(梵 dharma-kāya),智法之聚集稱為報身(梵 saṃbhoga-kāya),功德法之聚集稱為應身(梵 nirmāṇa-kāya)。又作法身佛報身佛應身佛、法佛報佛應佛、法身報身化身、法身佛報佛化佛、法佛報佛應化佛、真身報身應身、自性身滿資用身化身、自性身應身化身、法身應身化身、法性身受用身變化身、自性身受用身變化身、自性身食身化身、法身佛受用身佛化身佛、正法佛修成佛應化佛、佛所見身菩薩所見身二乘凡夫所見身。 金光明最勝王經疏卷三載,化身佛有化身、父母生身、隨世間身、生身、假名身等五名稱;應身佛有應身、受用身、報身、智慧佛、功德佛、法性生身等六稱;法身佛有法身、自性身、真實身、如如佛、法佛等五稱。另金光明最勝王經玄樞卷四謂,前述之化身五名外,加上釋迦身、二乘凡夫所見身、應身、變化身,共為九名;應身六名加上舍那身、菩薩所見身,共為八名;法身五名加上佛所見身、毘盧遮那,共為七名。各經論所舉三身之名稱與解釋不一。 (一)十地經論等諸經所說之三身,即:(1)法身,為證顯實相真如之理體,無二無別,常住湛然,稱為法身。(2)報身,酬報因行功德而顯現相好莊嚴之身。(3)應身,順應所化眾生之機性而顯現之身。 (二)金光明經所說之三身,即:法身(梵 dharma-kāya)、應身(梵 saṃbhoga-kāya)、化身(梵 nirmāṇa-kāya)。依合部金光明經卷一之三身分別品載,如來昔在因地修行中,為一切眾生修種種法至修行滿,因修行力故,得自在而能隨應眾生現種種身,稱為化身。又諸佛如來為令諸菩薩得通達,並體得生死涅槃一味,以為無邊佛法而作本,故示現此具足三十二相、八十種好、項背圓光之身,稱為應身。為滅除一切諸煩惱等障而具足一切之諸善法故,唯有如如如如智,稱為法身。前二種身為「假名有」,第三身為「真有」,乃為前二身而作本故。又依金光明經言,法報之兩佛是其真身,為化眾生而示現佛身,相好具足、威光殊勝,稱為應身。佛隨眾生現種種形,或人、或天、或龍、或鬼,如同世之色像,稱為化身。此三身以真身為本,依真起應,依應起化,如依煩惱起業行,依業受報。慧遠之觀無量壽經義疏卷末(大三七‧一八三下):「佛具三身,一者真身,謂法與報。二者應身,八相現成。三者化身,隨機現起。」即依此金光明經之意而言。 (三)解深密經卷五所說之三身,即法身、解脫身、化身。其中化身指八相示現之身;解脫身指五分法身;法身指於諸地波羅蜜多,善修出離轉依成滿之妙果。蓋五分法身,聲聞獨覺亦可得之,故單就此身而言,二乘與如來無異。梁譯攝大乘論釋卷十三(大三一‧二四九中):「二乘道究竟果,名解脫知見。二乘解脫知見中無三身,菩薩解脫知見中有三身差別。何以故?二乘不能滅智障,無一切智故,不得圓滿清淨法身,無大慈悲,不行利益他事故,無應化兩身。」故知二乘之解脫身,無法身及應、化等身。 (四)據宗鏡錄卷八十九載,自性身、受用身、變化身稱為三佛身,此即法、報、化三身:(1)自性身,諸佛如來具無邊際真常功德,是一切法平等實性,即此自性,又稱法身。(2)受用身,又分二種:(a)自受用身,諸如來修習無量福慧,起無邊真實功德,恒自受用廣大法樂。(b)他受用身,諸如來由平等智示現微妙淨功德身,居純淨土,為住十地菩薩眾顯現大神通,轉正法輪。(3)變化身,諸如來以不思議神力,變現無量,隨類化身,居淨穢土,為未登地諸菩薩眾及二乘等,稱其機宜,現通說法。同書並舉出轉三心可得三身之說,即:轉根本心(第八識)可得法身,轉依本心(第七識)可得報身,轉起事心(第六識)可得化身。 (五)禪宗六祖慧能以自性來解釋三身:(1)清淨法身佛,謂吾人之身即是如來法身,故吾人之自性本即清淨,並能生出一切諸法。(2)圓滿報身佛,謂自性所生之般若之光若能滌除一切情感欲望,則如一輪明日高懸於萬里晴空之中,光芒萬丈,圓滿無缺。(3)自性化身佛,謂吾人若能堅信自性之力勝於一切化身佛,則此心向惡,便入地獄,若起毒害之心,便變為龍蛇;若此心向善,便生智慧,若起慈悲之心便變為菩薩。

Tam thiền      Troisième niveau d'expérience méditative    Third meditation    三禪    Tri-dhyāna
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
Tam thiền có đủ 5 thiền chi: Xả, Niệm, Tuệ (Trí), Lạc, Nhất tâm.

  色界之第三禪天也。此天名定生喜樂地,由深妙之禪定生身心之快樂。三界九地之中以此地為樂受之限,在同此已上之天處,唯有捨受。故此地之樂受,為三界中最第一。聖教中多引之以為比。悲華經二曰:「身心快樂,無有疲極,譬如比丘入第三禪。」涅槃經二十一曰:「有佛世界名曰不動,若有眾生聞其華香身心安樂,譬如比丘入第三禪。」

Tam thiền thiên          third meditation heaven    三禪天    Tri-dhyāna
Chỉ cho cơi Thiền thứ 3 trong 4 cơi thiền Sắc giới. V́ ĺa bỏ hủ của thiền thứ 2 th́ lại sinh lạc tĩnh diệu, nên cơi thiền này cũng gọi l à Ly hỷ diệu lạc địa. Cơi này chỉ có ư thức và có 2 cảm thụ lạc, xả tương ứng với ư thức. Tướng vui thích của ư thức ở cơi này cực kỳ tĩnh diệu nên gọi là Lạc thụ. Trong 18 tầng trời cơi Sắc th́ 3 tầng trời Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh chính là Tam thiền thiên.

  指色界四禪天中之第三天。又作第三靜慮、第三禪。因離第二禪之喜,更生靜妙之樂,故又稱離喜妙樂地。其為僅有之意識,有樂、捨二受與之相應。此地意識怡悅之相,至極靜妙,故立樂受。於色界十八天中,少淨、無量淨、遍淨等三天即為三禪天。於三地中,屬於無尋無伺地。

Tam thiên đại thiên thế giới      trois mille mondes    one billion worlds    三千大千世界    Tri-sāhasra-mahā-sāhasra-loka-dhātu
Một thế giới hệ gồm ba ngàn Đại thiên thế giới.

Tập hợp bốn đại châu, mặt trời, mặt trăng và các cơi trời làm thành một thế giới. Một ngàn thế giới hợp lại thành một tiểu thiên thế giới (1000). Một ngàn tiểu thiên thế giới hợp lại thành một trung thiên thế giới (1000x1000). Một ngàn trung thiên thế giới hợp lại thành một đại thiên thế giới (1000x1000x1000 = 1.000.000.000 (1 tỷ thế giới).

Tam thiên đại thiên thế giới tức là 3 ngàn tỷ thế giới, là quốc độ hay phạm vi giáo hoá của một Đức Phật, gọi là Phật độ.

  須彌山為中心,七山八海交互繞之,更以鐵圍山為外郭,是曰一小世界,合此小世界一千為小千世界,合此小世界一千為中千世界,合此中千世界一千為大千世界。大千世界之數量為一○○○○○○○○○也。大千世界之上有三千者,示此大千世界,成自小千中千大千三種之千也。內容即一大千世界。以此一大千世界為一佛之化境。且此三千大千世界之廣,恰等於第四禪天,成壞必同時焉。見智度論七,佛地論六。

Tam thí      trois sortes d'offrandes         三施     
Ba h́nh thức hay ba cách cúng dường, bố thí:
1. Tài thí: Tự ḿnh giữ giới, không xâm phạm đến tài vật của người khác, lại c̣n đem tài vật của ḿnh bố thí cho kẻ khác.
2. Pháp thí: Thuyết pháp cho mọi người nghe, khiến cho họ khai mở trí tuệ, thoát khổ được vui.
3. Vô uư thí: Người giữ giới không có tâm sát hại, không có tâm niệm ác, cho nên gần gũi với tất mọi loại chúng sinh mà chúng sinh không hề lo sợ, đó là ban cho chúng sinh sự không sợ hăi.
Ngoài ra, các kinh luận c̣n nói 3 loại bố thí khác, như Đại trí độ luận nói 3 loại thí là Vật thí, Tài thí (cho của cải), Cúng dường cung kính thí (dùng tâm tin tưởng, thanh tịnh cung kính lễ bái), Pháp thí (thuyết pháp); Hoa Nghiêm kinh sớ sao th́ nói: Ẩm thực thí (cho thức ăn, thấy người đói khát lập tức đem cơm nước cung cấp cho họ), Trân bảo thí (thấy người nghèo khổ, bần cùng th́ đem tiền bạc cho họ có vốn làm ăn), Thân mạng thí (đem cả thân mạng ḿnh cho chúng sinh).

 

Tam trí      trois sortes de sagesse    Three kinds of wisdom    三智    
3 thứ trí tuệ.
1. Nhất thiết trí: Trí biết rơ cái tướng chung của tất cả các pháp. Cái tướng chung ấy chính là Không tướng. Trí này là trí của hàng Thanh văn, Duyên giác.
2. Đạo chủng trí: Trí biết rơ tướng riêng của tất cả các pháp. Cái tướng riêng ấy tức là các thứ đạo pháp sai biệt. Trí này là trí tuệ của hàng Bồ tát.
3. Nhất thiết chủng trí: Tức trí biết rơ suốt tướng chung và tướng riêng, đó là Phật trí. Trí hiểu biết một cách trọn vẹn, hoàn hảo.

  (一)一切智,即了知一切諸法總相之智。總相即空相。此智乃聲聞、緣覺之智。(二)道種智,又作道種慧、道相智。即了知一切諸法別相之智。別相即種種差別之道法。此智乃菩薩之智。(三)一切種智,又作一切相智。即通達總相與別相之智,即佛智。天台家認為,此三智為空、假、中三觀所成,即一切智為空觀所成,道種智為假觀所成,一切種智為中觀所成。

Tam vô lậu học      Trois disciplines     Three uncontaminated studies    三無漏學    Tisraḥ śikṣāh
Lậu có nghĩa là phiền năo. Tam vô lậu học có nghĩa là ba môn học giúp hành giả vượt thoát khỏi sự trói buộc của phiền năo, hoàn toàn được tự do, tự tại. Lậu c̣n có nghĩa là rơi rớt, v́ vậy, tam vô lậu học c̣n là phương tiện giúp hành giả không c̣n bị rơi rớt trong ba cơi, tâm không c̣n bị ràng buộc bởi mọi lậu hoặc, khổ đau. Đây là ba môn học đoạn trừ phiền năo, chứng nhập quả vị niết-bàn, giải thoát hoàn toàn; là ba môn học căn bản, nền tảng của hệ thống giáo lư Phật giáo mà nguyên thuỷ hay đại thừa đều nói đến, đó chính là Giới - Định - Tuệ.
- Giới vô lậu học. Trong kinh Tạp A-hàm, đức Thế Tôn định nghĩa: “Tỳ-kheo an trú trong pháp Ba-la-đề-mộc-xoa, đầy đủ oai nghi và tế hạnh, cẩn trọng sợ hăi ngay cả với những lỗi nhỏ nhặt, cho nên học và thọ tŕ đầy đủ các giới, như vậy gọi là giới vô lậu học”.
- Định vô lậu học. Kinh Trung A-hàm, đức Phật định nghĩa: “Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác và quán (c̣n gọi là tầm và tứ), ly sanh hỷ lạc, chứng từ sơ thiền đến tứ thiền, gọi là định vô lậu học”.
- Tuệ vô lậu học. Đức Phật dạy: “Hiểu một cách đúng đắn về khổ thánh đế, tập thánh đế, diệt thánh đế và đạo thánh đế, như vậy gọi là tuệ học vô lậu”. Kinh Tương Ưng V cũng định nghĩa tuệ học vô lậu như là sự quán triệt và thấy biết “thế nào là khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ và các phương pháp để diệt tận khổ”.
Kinh Phật Tự Thuyết th́ định nghĩa tuệ học chính là “sự hiểu rơ về giáo lư Nhân duyên hay Duyên khởi”. Theo đó, tuệ vô lậu là sự nhận thức được nguyên lư “do cái này có mặt nên cái kia có mặt. Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt. Do cái này sinh nên cái kia sinh. Do cái này diệt nên cái kia diệt”.

  學佛人可通學者有三:一、戒學,戒者禁戒也,能防禁身口意所作之惡業者。二、定學,定者禪定也,能使靜慮澄心者。三、慧學,慧者智慧也,觀達真理而斷妄惑者。戒學者律藏之所詮,定學者經藏之所詮,慧學者論藏之所詮。依戒而資定,依定而發慧,依慧而證理斷惡。因位之修學,過此三者,果上則無學也。名義集三學篇曰:「道安法師云:世尊立教,法有三焉:一者戒律,二者禪定,三者智慧。斯之三者至道之由戶泥洹之關要,戒乃斷三惡之干將也,禪乃絕分散之利器也,慧乃濟藥病之妙醫也。今謂防非止惡曰戒,息慮靜緣曰定,破惑證真曰慧。」

Tam-muội      concentration-extatique    Samādhi    三昧    samādhi
Trạng thái thiền định. Cảnh giới thiền định.
Trong kinh Phật, từ Samādhi được dịch là Đẳng tŕ thời, 'đẳng' là giữ cho tâm được b́nh đẳng an lành, không để cho lao xao, lay động; 'tŕ' là chuyên tâm ở một cảnh, không tán loạn, gọi là Tâm nhất cảnh tính.
Nói chung, việc tu hành cốt yếu là chuyên tâm chú ư ở một chỗ, không để tán loạn mà phài giữ cho tâm an tĩnh, trạng thái này gọi là Tam muội. Khi đạt đến trạng thái Tam muội th́ liền phát khởi trí tuệ mà khai ngộ chân lư.

  舊稱三昧,三摩提,三摩帝。譯言定,正受,調直定,正心行處,息慮凝心。心定於一處而不動,故曰定。正受所觀之法,故曰受。調心之暴,直心之曲,定心之散,故曰調直定。正心之行動,使合於法之依處,故曰正心行處。息止緣慮,凝結心念,故曰息慮凝心。智度論五曰:「善心一處住不動,是名三昧。」同二十八曰:「一切禪定,亦名定,亦名三昧。」同二十曰:「諸行和合,皆名為三昧。」同二十三曰:「一切禪定攝心,皆名為三摩提,秦言正心行處。是心從無始世界來常曲不端,得此正心行處,心則端直,譬如蛇行常曲,入竹筒中則直。」止觀二曰:「通稱三昧者,調直定也。」大論云:「善心一處住不動,是名三昧。」大乘義章十三曰:「定者當體為名,心住一緣,離於散動,故名為定。言三昧者,是外國語,此名正定。」同二曰:「以心合法,離邪亂,故曰三昧。」同九曰:「心體寂靜,離於邪亂,故曰三昧。」同二十曰:「定者據行便息亂住緣,目之為定。就實而辨真心體寂,自性不動,故名為定。」新稱三摩地,譯為定或正受,等持等念。又曰現法樂住。定與正正受。其義同前。平等保持心,故曰等持。諸佛諸菩薩入有情界平等護念彼等,故曰等念。是就利他業而釋之也。又現定中法樂,故曰現法樂住。正受之異名也。唯識論五曰:「於所觀境令心專注不散為性,智依為業。」探玄記三曰:「三昧此云等持,離沈浮,故定慧等,故名等也。心不散,故住一境,故名持也。」法華玄贊二曰:「梵云三摩地,此云等持。平等持心而至於境,即是定也,云三昧者訛也。」玄應音義三曰:「三昧,或言三摩提,或云三摩帝皆訛也。正言三摩地,此譯云等持。等者正也,正持心也,持謂持諸功德也。或云正定,謂住緣一境,離諸邪亂也。」菩提心義一曰:「梵云三摩地,唐云等念。入有情界,平等攝受而護念之者。」

Tà kiến              邪見    mithyā-dṛṣṭi
Đó là các quan điểm bài bác nhân quả, hoặc bài bác tác dụng, hoặc phá hoại các việc lành. Tự tính của nó là làm nhiễm ô tuệ.
Bài bác nhân là sao ? Tự tính của nhân là nghiệp và phiền năo, tổng cộng có 5 thứ : phiền năo có 3 thứ là vô minh, ái và thủ ; nghiệp có 2 thứ là hành và hữu. Hữu tức là những nghiệp chủng tử (hạt giống của nghiệp) nằm trong thức a-lại-da, c̣n gọi là nghiệp. Như trong kinh Đức Thế Tôn dạy : ‘Này A-nan ! Nếu nghiệp có khả năng đưa tới quả báo ở vị lai, th́ nó cũng được gọi là hữu’. Bài bác hết tất cả những điều này th́ gọi là bài bác nhân.
Bài bác quả là sao ? Quả có 7 thứ, đó là thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, sinh, và già chết. Bác bỏ hết những thứ này th́ gọi là bài bác quả.
Hoặc cho rằng không có việc thiện, việc ác gọi là bài bác nhân ; cho rằng không có quả báo của việc thiện, việc ác gọi là bài bác quả. Hoặc cho rằng không có đời này, đời sau, không có cha, không có mẹ, không có chúng sinh hoá sinh… sự bài bác này gọi là bài bác tác dụng. Nghĩa là, tác dụng từ đời này sang đời khác, tác dụng duy tŕ chủng tử, tác dụng kết sinh tương tục…
Cho rằng ở đời không có A-la-hán là phá hoại việc thiện.
Nghiệp dụng của tà kiến là đoạn mất thiện căn, làm sở y cho bất thiện căn thêm kiên cố, khiến cho thiện căn không phát triển, bất thiện căn càng thêm phát triển.


 

Tàm              慚    hrī
Do tôn trọng bản thân hay tôn trọng pháp mà có sự xấu hỗ về lỗi lầm của ḿnh. Lỗi lầm là sự xấu xa bị người hiền chê trách, và do kết quả không mong muốn. Với lỗi lầm ấy, đă làm hay chưa làm, mà tâm co rút lại, xấu hỗ, gọi là tàm.
Đại thừa ngũ uẩn luận định nghĩa: Tàm là ǵ ? Tự tính của nó là do tôn trọng bản thân hay tôn trọng pháp mà có sự hỗ thẹn về những tội lỗi của ḿnh làm.
Tội lỗi là những lỗi lầm, bị người trí chê trách. Hỗ thẹn là không làm những điều tội lỗi nữa.
Nghiệp dụng của tàm là đ́nh chỉ và ngăn chặn hành vi xấu ác.


 

Tác tŕ              作持    
Tác là tạo tác, tức khích lệ thân, khẩu và ư tạo tác các thiện nghiệp. Nhờ vào tạo tác mà bảo tŕ được giới thể, nên gọi là tác tŕ. Tác tŕ giới dạy mọi người làm tất cả các việc thiện (chúng thiện phụng hành).

 

Tâm          heart, mind, spirit, motive, sense, mentality, idea    心    citta
① Tim, đời xưa cho tim là vật để nghĩ ngợi, cho nên cái ǵ thuộc về tư tưởng đều gọi là tâm. Như tâm cảnh 心境, tâm địa 心地, v.v. Nghiên cứu về chỗ hiện tượng của ư thức người gọi là tâm lí học 心理學. Phật học cho muôn sự muôn lẽ đều do tâm người tạo ra gọi là phái duy tâm 唯心. Nhà Phật chia ra làm nhiều thứ, nhưng rút lại có hai thứ tâm trọng yếu nhất: 1) vọng tâm 妄心 cái tâm nghĩ ngợi lan man sằng bậy, 2) chân tâm 真心 cái tâm nguyên lai vẫn sáng láng linh thông, đầy đủ mầu nhiệm không cần phải nghĩ mới biết, cũng như tấm gương trong suốt, vật ǵ qua nó là soi tỏ ngay, khác hẳn với cái tâm phải suy nghĩ mới biết, phải học hỏi mới hay. Nếu người ta biết rơ cái chân tâm (minh tâm 明心) ḿnh như thế mà xếp bỏ sạch hết cái tâm nghĩ ngợi lan man sằng bậy đi th́ tức th́ thành đạo ngay. (Từ điển Thiều Chửu)

Xem bài nói về Tâm


 

Tâm hành      actes mentaux    activities of the mind    心行    citta-carya
1. Chỉ cho tác dụng, hoạt động, trạng thái, biến hoá của nội tâm, như vui, buồn, mừng, lo, sợ hăi... những hoạt động tâm lư của con người không ai giống ai.
2. Chỉ cho đối tượng của tâm, tức phạm vi tác dụng của tâm.
3. Chỉ cho chí hướng, tâm nguyện, quyết tâm...
4. Chỉ cho ư thức phân biệt, vọng tưởng, sự tính toán so đo từ tâm dấy động lên.
5. Tâm và Hành gộp chung lại. Trong Tịnh độ tông, an tâm và khởi hành, gọi là Tâm hành tha lực; c̣n bồ đề tâm và các loại thiện hạnh (phát tâm tu hành) th́ gọi là Tự lực tâm hành.

  梵語 citta-carya。<一>心內之作用、活動、狀態、變化。所謂「言語道斷心行處滅」,即指既無法用語言表達,亦不能以心思加以計度。有關心之活動,如自心之喜愛、喜好;大乘起信論說眾生之心行不等,專為喜好文簡義豐之文語者著起信論。 <二>心之對象。心作用所及之範圍。〔中論卷三觀法品〕 <三>心之志向、心願、性向、決心等。〔無量壽經卷上〕 <四>於心所起之分別意識、妄想、計較分別。〔景德傳燈錄卷十九、碧巖錄第四十六則〕 <五>心、行之合稱。淨土教中,安心與起行,稱為他力之心行;菩提心與眾多之善行(發心修行),稱為自力之心行。〔安樂集卷上〕

Tâm sở          mental factors    心所    caitta, caitasika
C̣n được gọi là Tâm sở hữu pháp (sa. caittadharma), là những yếu tố phụ thuộc vào Tâm, gắn liền với một nhận thức (sa. vijñāna) – nhận thức đây cũng được gọi là Tâm vương (sa. cittarāja), là hoạt động tâm thức chủ yếu – đang sinh khởi và khởi lên đồng thời với nhận thức đó. Các Tâm sở miêu tả tất cả những khía cạnh tâm trạng mà ai cũng có thể tự khám phá, t́m được nơi chính ḿnh – có thể gọi là bản đồ tâm lí của con người.
Duy thức tông liệt kê 51 loại tâm sở.

  心所有法之略。為心王之所有,而有貪瞋等別作用之心法也。小乘俱舍有四十四法。大乘唯識有五十一法。見五位條。

Tâm vương          mind-king    心王    caitta, caitasika
Vua tâm, tức chỉ cho chủ thể của 6 thức hoặc 8 thức.
Thuyết nhất thiết hữu bộ cho thể tính của 6 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư là một, cho nên chủ trương Tâm vương chỉ một (chỉ có một Tâm mà thôi).
Tông Pháp tướng (Duy thức tông) th́ cho rằng 8 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, mạt na (thức thứ 7), a lại da thức (thức thứ 8) đều có thể tính riêng, cho nên chủ trương có 8 loại Tâm vương.

  有部及法相宗等所列五位法中之心法。相對「心所」而言,六識或八識之識體自身稱為心王。意為精神作用之主體。說一切有部以眼、耳、鼻、舌、身、意等六識之識體為一,故列心王為一;法相宗以八識(六識加末那識、阿賴耶識)各有識體,故列心王為八。〔百法明門論忠疏卷上、百法明門論疏卷上〕

Thất bảo       Sept bijoux, trésors    Seven jewels, tresors    七寶    Sapta ratnāni
Bảy thứ ngọc báu quư giá ở thế gian. Các kinh nói về bảy thứ báu khác nhau. Theo Kinh A-di-đà và luận Đại trí độ, bảy thứ báu là vàng, bạc, lưu li, pha-lê, xa cừ, xích châu và mă năo. Theo kinh Pháp hoa quyển 4, bảy thứ báu là vàng, bạc, lưu li, xa cừ, măn năo, chân châu, mai khôi.

  金 (suvaṇṇa/ suvarṇa), 銀 (rūpīya/ rūpya), 琉 璃 (veluriya/ vaiḍurya), 頗梨 (phalika / sphaṭika), 硨 磲 (masāragalla/ musāragalva), 赤 珠 (lohitanka/ lohitamukæika), 瑪 瑙 (asama/ aśmagarbha).

Thất giác chi      sept bodhyanga        七覺支    saptabodhyaṇgāni
Thất giác chi, tiếng Phạm saptabodhyaṇgāni: Bảy pháp tu hành hướng đến quả vị giác ngộ. Trong 7 khoa phần của 37 phẩm đạo, 7 pháp này thuộc khoa phần thứ 6. Tên gọi đầy đủ là Thất đẳng giác phần, hoặc Thất biến giác chi, c̣n gọi là Thất bồ đề phần, Thất giác phần, Thất giác ư, Thất giác…
1. Trạch pháp giác chi, Phạm dharma-pravicaya-sambodh-yaṅga: Trạch có nghĩa là lựa chọn, dùng trí tuệ quán sát các pháp để phân biệt pháp nào chân thật, pháp nào giả dối, để không bị lầm lẫn nắm giữ những pháp hư nguỵ để tu tập.
2. Tinh tiến giác chi, Phạm virya-sambodh-yaṅga: Tinh là không tạp nhiễm, là thanh tịnh; tiến là không gián đoạn. Đối với sự tu tập, luôn luôn nỗ lực tinh tiến, không bao giờ lười biếng hay có ư niệm bỏ cuộc. Nhưng sự nỗ lực tinh tiến này hoàn toàn có trí tuệ, không nỗ lực làm những việc vô ích, như khổ hạnh ép xác, mà nỗ lực tinh tiến trong chánh pháp, chuyên tâm nhất ư, không dừng nghỉ.
3. Hỷ giác chi, Phạm prīti-sambodh-yaṅga: Hỷ là vui vẻ, hoan hỷ. Tâm khế ngộ với pháp chân thật cho nên đạt được niềm an vui, hạnh phúc; biết rơ pháp này không phải là pháp điên đảo, do đó càng vui thích hơn khi được an trú trong chính pháp.
4. Khinh an giác chi, Phạm praśrabahi-sambodh-yaṅga: C̣n gọi là Trừ giác chi. Trừ có nghĩa là đoạn trừ, cắt đứt. Tức là đoạn trừ tất cả mọi nhận thức sai lầm, phiền năo và ḿnh biết rơ ḿnh đă đoạn trừ được tất cả các pháp hư nguỵ, thiện căn càng tăng trưởng trong chính pháp.
5. Xả giác chi, Phạm upekṣā-sambodh-yaṅga: Xả là từ bỏ, tức là từ bỏ tất cả những nhận thức, những vướng mắc, tham muốn ngoại cảnh, nhận biết rơ ràng ḿnh không c̣n theo đuổi hay nhớ nghĩ đến các pháp hư nguỵ, không thật.
6. Định giác chi, Phạm samādhi-sambodh-yaṅga: Định là thiền định, tức là khi hành giả tu tập đạt được thiền định th́ phát sinh khả năng nhận biết ở trong các thiền không có phiền năo, vọng tưởng.
7. Niệm giác chi, Phạm smṛiti-sambodh-yaṅga: Niệm là ghi nhớ, tức là hành giả tu tập các pháp, phát sinh khả năng nhận biết, ghi nhớ các pháp khiến cho định và tuệ bằng nhau, không hôn trầm, không trạo cử.

 

Thất lậu              七漏    
7 thứ phiền năo.
1. Kiến lậu: Những phiền năo do nhận thức sai lầm, do hiểu biết lầm lạc (là năm thứ nhận thức sai lầm: ngă kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến (xem mục Ngũ kiến). Những phiền năo này sẽ được đoạn trừ khi thấy chân lư, thấy rơ bốn sự thật (kiến đạo).
2. Tu lậu: Các phiền năo tham, sân, si (hay những phiền năo mà chỉ có sự tu tập mới đoạn trừ được (tu đạo).
3. Căn lậu: Các phiền năo nương vào các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... mà sinh ra.
4. Ác lậu: Các phiền năo nương vào tất cả những việc ác, pháp ác... mà sinh ra.
5. Thân cận lậu: Các phiền năo nương vào 4 thứ gần gũi là quần áo, thức ăn uống, thuốc thang và pḥng xá mà sinh ra.
6. Thụ lậu: Thụ gồm khổ thụ, lạc thụ, xả thụ có công năng sinh ra tham, sân, và si.
7. Niệm lậu: Những ư niệm tà vạy.

 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27