Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Tư đà hàm      Un retour        斯陀含    sakṛd-āgāmin
Quả vị thứ hai trong bốn quả Thánh, có nghĩa là 'một lần tái sinh'. Người tu tập đạt được quả vị này th́ chỉ c̣n một lần sinh tử nữa là chấm dứt ṿng luân hồi, cho nên quả này c̣n có tên là Nhất lai quả.
Người nào đang trên giai đoạn gần chứng quả này th́ gọi là Tư-đà-hàm hướng; c̣n người nào chứng được rồi th́ gọi là Tư-đà-hàm quả.
Người đă chứng được quả Dự lưu (Sơ quả, tức Tu-đà-hoàn) tiến thêm một bước nữa, đoạn trừ thêm từ một cho đến năm phần Tu hoặc ở Dục giới th́ gọi là Tư-đàm-hàm hướng (hướng tới quả Tư-đàm-hàm), hoặc là Nhất lai quả hướng (hướng đến quả Nhất lai); nếu đoạn trừ thêm sáu phần Tu hoặc ở Dục giới th́ chỉ c̣n một lần tái sinh ở cơi trời hoặc người nữa thôi là đoạn hết phiền năo, chứng nhập niết-bàn, từ đó về sau không c̣n tái sinh nữa, gọi là Tư-đàm-hàm quả, hay Nhất lai quả.
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi: "Thế nào gọi Sa-môn kia như hoa phân-đà-lợi? Ở đây có một hạng người ba kết đă diệt; dâm, nộ, si mỏng, thành Tư-đà-hàm, trở lại đời này, dứt hết bờ khổ. Nếu người hơi chậm, trở lại đời này lần nữa, rồi dứt hết bờ khổ. Nếu dơng mănh, th́ ngay trong đời này dứt hết bờ khổ. Giống như hoa phân-đà-lợi sớm nở, chiều úa tàn. Đó gọi là Sa-môn như hoa phân-đà-lợi".

  梵語 sakṛd-āgāmin,巴利語 sakad-āgāmin。又作沙羯利陀伽彌。意譯作一來、一往來。係沙門四果之第二。又分為斯陀含向與斯陀含果,即預流果(初果)之聖者進而更斷除欲界一品至五品之修惑,稱為斯陀含向,或一來果向;若更斷除欲界第六品之修惑,尚須由天上至人間一度受生,方可般涅槃,至此以後,不再受生,稱為斯陀含果,或一來果。以其僅餘下品之貪瞋癡,故又稱薄貪瞋癡、薄地。 增一阿含經卷二十(大二‧六五三下):「云何名為邠陀利花沙門?或有一人,三結使盡,婬怒癡薄,成斯陀含果,來至此世,盡於苦際;若小遲者,來至此世,盡於苦際;若勇猛者,即於此間盡於苦際,猶如邠陀利花,晨朝剖花,向暮萎死,是謂邠陀利花沙門。」準此,可知同是一來果之聖者亦可細別為二:(一)其修行之功勇猛迅捷者,稱為邠陀利花沙門。(二)修行之功較為遲緩鈍下者,稱為一來,即經中所謂之「小遲者」。又據北本大般涅槃經卷十載,得斯陀含果者未來過六萬劫,當得證成阿耨多羅三藐三菩提(無上正等正覺),此即所謂「五果迴心」之說。〔雜阿含經卷四十一、卷四十七、中阿含卷八阿修羅經、卷九瞻波經、卷二十一說處經、卷四十七瞿曇彌經、大毘婆沙論卷五十三、俱舍論卷二十四、順正理論卷六十四〕(參閱「五果迴心」1114、「四向四果」

Tư trạch lực              思擇力    
Nhờ tư duy đúng đắn (chánh tư duy) mà có sức mạnh giản trạch, từ bỏ mọi việc ác, làm mọi việc lành, gọi là Tư trạch lực (khả năng chọn lựa dứt khoát, mạnh bạo nhờ có tư duy đúng đắn).
Kinh ghi: Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo: Các Thầy nên biết rằng, chư vị Đa văn Thánh đệ tử phải nên tư duy như sau: Tất cả mọi việc làm xấu ác từ nơi thân, hiện tại, tương lai sẽ đưa đến quả báo dị thục; nếu như thân ta làm mọi việc ác th́ hiện tại ta tự huỷ đi danh dự của ḿnh, cũng bị những người khác, chư thiên, quỷ thần và chư Phật quở trách, cũng bị các vị có trí, đồng phạm hạnh dùng pháp hiền trách ta, như vậy tiếng xấu sẽ truyền khắp thiên hạ, thân hoại mạng chung chắc chắn đoạ vào đường ác, sanh vào địa ngục. Do suy nghĩ, tư duy chân chính như vậy nên biết được mọi việc làm xấu ác từ nơi thân, hiện tại, tương lai chắc chắn sẽ thọ quả báo dị thục, do đó nỗ lực siêng năng đoạn trừ mọi việc ác từ nơi thân và cũng siêng năng nỗ lực đem thân làm mọi việc lành. Đối với khẩu hành và ư hành cũng như thế, phải nên siêng tu thân, khẩu, ư diệu hành. Nếu suy nghĩ được như vậy th́ là có nhân tư trạch, nhờ tư trạch, trụ tư trạch mà đoạn trừ được pháp ác bất thiện, tu các pháp thiện, gọi là Tư trạch hay Lực, hay Tư trạch lực.

 

Tương tức              相即    
Gọi đầy đủ là Tương tức tương nhập. Chỉ cho tính tương quan tương duyên của vạn vật. Không có hiện tượng nào (người hay vật) có thể tự ḿnh sinh khởi và tồn tại độc lập. Cái này phải nương vào cái kia mà sinh khởi và tồn tại; cái này ở trong cái kia, các pháp dung nhiếp nhau, một là tất cả, tất cả là một gọi là tương tức tương nhập.

 

Tương tức tương nhập              相即相入    
Tương tức và tương nhập.
Tương tức: cái này tức là cái kia, chính là cái kia, không chính là sắc, sắc chính là không.
Tương nhập: cái này có trong cái kia, cái kia có trong cái này, dung chứa lẫn nhau.
Tất cả các hiện tượng, một trái núi, một đám mây, một hạt bụi đều có tính chất tương tức tương nhập. Cái này bao trùm cái kia. Cái kia nằm trong cái này. Phật đă nói một cách rất đơn giản mà uyên thâm: "Cái này có v́ cái kia có" (Trung A Hàm).

Tương tức là kết luận đương nhiên của vô ngă quán. Khi tương tức trở thành một tuệ giác, không chỉ thuần là một ư niệm, th́ khổ đau được chuyển hóa. Khi chứng nhập tương tức th́ vượt thoát sinh tử. Tương tức và tương nhập là hai ư niệm của Hoa Nghiêm. Tương tức nghĩa là cái này là cái kia (inter-are), tương nhập nghĩa là cái này đi vào cái kia (inter-penetration). Trong nhận thức tương tức, tương nhập th́ đám mây nằm trong bông hoa và bông hoa nằm trong đám mây. Điều này có thể quán chiếu. Màng lưới Đế Thích (Indra nest) gồm những hạt châu lóng lánh nối kết với nhau, là h́nh ảnh tuyệt diệu của tính tương tức, tương nhập.


 

Tướng phần                  
Tướng phần : Tướng là tướng trạng, là tướng trạng của cảnh giới (cũng chính là tướng trạng của sự vật ngoại giới ánh hiện lên trong nhận thức chủ quan). Chẳng hạn, nhăn thức duyên lấy sắc cảnh mà phân biệt nhận biết tướng trạng của sắc là hiển sắc hay h́nh sắc…, nhĩ thức duyên lấy âm thanh mà phân biệt nhận biết âm thanh ưa thích hay không ưa thích…, tỷ thức duyên lấy mùi hương mà phân biệt nhận biết mùi hương thơm hay thúi…, thiệt thức duyên lấy mùi vị mà phân biệt nhận biết vị ngọt hay chua…, thân thức duyên lấy sự xúc chạm mà phân biệt nhận biết cứng hay mềm…, thức thứ sáu duyên lấy các pháp, từ đó mà có sắc, tâm…, thức thứ bảy duyên lấy kiến phần của thức tám mà phân biệt tướng trạng ngă, pháp, thức thứ tám duyên lấy chủng tử, năm căn, khí giới, cũng như các tướng trạng mà nó đă cất giữ.
Tướng phần (nimitta-bhāga) là tín hiệu của nhận thức.
Tướng được nắm bắt (grāhya: sở thủ) là tướng phần.

 

Tạp A hàm kinh      Les sutras sur des sujets liés     Saṃyuktāgama    雜阿含經    Saṃyuktāgama
Tạp A-hàm, tiếng Phạn là Saṃyuktāgama, gồm 50 quyển, do Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra, người Trung Ấn độ, 394~468 Tây lịch) dịch sang tiếng Hán vào đời Lưu Tống (435 Tây lịch), hiện được xếp vào ĐTK/ĐCTT, tập 2, kinh số 99, trang 1-303. Từ số 100-124 là các bản biệt dịch Tạp A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a3, HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, trọn bộ 4 tập.
Theo Ngũ Phần Luật, quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54... cho rằng kinh này do Đức Phật nói cho nhiều đối tượng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên tử, Thiên nữ về các pháp Tứ thánh đế, Bát chính đạo, Thập nhị nhân duyên... biên tập thành một bộ, nên gọi là Tạp A-hàm. Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 32, nói rằng kinh này văn cú phức tạp, cho nên gọi là Tạp A-hàm. Ngoài ra, Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa quyển 1, nói kinh Tạp A-hàm xiển dương các loại thiền định, là pháp môn mà người tọa thiền phải học tập. Du Già Sư Dịa Luận quyển 85, th́ nói do tất cả mọi sự đều tương ưng với giáo, tập hợp tất cả nghĩa lư đó lại thành một bộ, gọi là Tạp A-hàm.
Căn cứ vào Đại chính tạng, kinh này có 50 quyển, 1362 kinh, nội dung tương đương với Tương ưng bộ (Saṃyutta-nikāya, gồm 5 tụ, 56 thiên, 203 phẩm, 2858 kinh) bản Pāli của Nam truyền Phật giáo. Đây là bộ kinh lớn nhất và cũng được h́nh thành sớm nhất trong bốn bộ A-hàm. Nếu phân loại theo tính chất, toàn kinh có thể chia thành ba bộ phận lớn.
1. Tu-đa-la (sūtra), nội dung gồm các kinh tŕnh bày về Uẩn, Xứ, Duyên khởi, Thực, Đế, Giới, Niệm, Trụ...
2. Kỳ-dạ (geya), là những kinh có lời vấn đáp được tŕnh bày bằng thể loại kệ tụng.
3. Kư thuyết (vyākaraṇa), những lời của Đức Phật và các đệ tử của Ngài thuyết.
Ba bộ phận trên đây tương đương với Sở thuyết, Sở vi thuyết, Năng thuyết được nói đến trong Du Già Sư Dịa Luận quyển 85.
Kinh Tạp A-hàm c̣n bảo tồn phong cách của Phật giáo nguyên thủy, tuy vẫn có những phần do đời sau thêm vào, nhưng hầu hết đều được thành lập vào thời kỳ rất sớm. Văn phong của kinh này rất đơn giản, câu cú rơ ràng, chứa đựng nhiều pháp môn tu hành rất thực tiễn. Chẳng hạn như các phẩm nói về Niệm trụ, Uẩn, Giới... Từ những đoạn đối đáp giữa Đức Phật và các đệ tử hiển hiện ra Tứ song, Bát bội, y vào Bát chúng mà nói "Chúng tương ưng", khiến cho hàng tại gia, xuất gia, nam nữ, lăo ấu, các đại đệ tử đều có thể lănh thọ được sự lợi ích của giáo pháp.
Có rất nhiều học giả cận đại nghiên cứu về bốn bộ A-hàm. Đầu tiên là các học giả Phương tây, sau đó là các học giả Nhật bản tiến bộ thêm một bước trong phương pháp luận cứu. Thành quả đạt được tuy rất to lớn, nhưng chủ yếu là văn bản Pāli, v́ họ cho rằng đó mới là ngôn ngữ thánh điển nguyên thủy. Các bộ Hán dịch A-hàm pho quyển quá nhiều, thiên chương trùng phức, từ ngữ mâu thuẫn, văn dịch vụng về, nên không được phổ cập. Sau khi các nhà nghiên cứu Phật học Trung quốc thời cận đại nhận thức được giá trị của kinh điển A-hàm mới bắt đầu có xu hướng khảo cứu tư tưởng A-hàm. Chẳng hạn như Tạp A-hàm, bản hiện nay do nội dung chưa hoàn chỉnh, thứ tự lộn lạo, thất lạc, kinh văn khó hiểu, cho nên các học giả cận đại mới chỉnh lư lại kinh này. Trước mắt, có 2 bản mới là kinh Tạp A-hàm do Phật Quang Sơn xuất bản và Tạp A-hàm kinh luận hội biên của Ấn Thuận. Bản Tạp A-hàm của Phật Quang Sơn sử dụng h́nh thức chấm câu mới và phân đoạn rơ ràng, chú trọng đối chiếu với các bản Pāli, Hán dịch cùng với các bản dị dịch khác, phân định lại thứ tự số quyển, ở mỗi kinh nhỏ đều có giải thích ư kinh, những chỗ kinh văn khó hiểu th́ cẩn thận chua thêm văn Pāli để đối chiếu hoặc dịch ra Trung văn (Bạch thoại). Ngoài ra, điểm đặc sắc của bản này c̣n được nh́n thấy qua cách hiệu đính nghiêm túc, chú giải rơ ràng, dẫn chứng đầy đủ. Tạp A-hàm kinh luận hội biên của ngài Ấn Thuận th́ lấy kinh Tạp A-hàm đối chiếu với Luận Du Già Sư Địa, đồng thời dùng phương pháp cổ lệ của Ấn độ để phân loại nội dung, mà không dùng cách phân quyển như các bản kinh Hán dịch truyền thống. Ấn Thuận hội biên Tạp A-hàm thành 7 phần 51 mục tương ưng.

 

Tất Đạt Đa (thái tử)      Gautama Siddharta (prince)        悉達多    Siddhārtha
Tên của Đức Phật khi c̣n là Thái tử con vua Tịnh Phạn.
Khi Đức Phật đản sinh làm trưởng tử của vua Tịnh phạn thành Ca Tỳ La Vệ, tiên A Tư Đà xem tướng biết vị Vương tử này nhờ các thiện căn công đức ở đời trước nên có đầy đủ tướng tốt thù thắng, có năng lực thành tựu tất cả việc lành. Nếu Vương tử ở nhà th́ chắc chắn sẽ làm Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia th́ sẽ thành Vô thượng chánh giác. V́ thế, để biểu thị ư nghĩa nói trên, nên Thái tử được đặt tên là Tất đạt đa: Thành tựu tất cả mọi điều tốt đẹp.

 

Tất đàn              悉檀    Siddhānta
Tất đàn có nghĩa là thành tựu. Luận Đại trí độ tŕnh bày Bốn loại tất đàn, tức bốn pháp đưa đến sự thành tựu cho chúng sinh trong giáo lư của Phật.
Xem mục: Tứ tất đàn.

 

Tầm tứ      signifie pensée conceptuelle    discursive thought and investigation    尋伺    vitarka-vicāra
Tầm tứ là từ dịch nghĩa của từ tiếng Phạm vitarka-vicāra, xưa dịch là ‘giác quán’, là tên gọi chung của hai tâm sở Tầm và Tứ. Tầm là tác dụng của tư duy, truy t́m để hiểu được danh nghĩa (tên gọi và ư nghĩa của tên gọi đó) của các pháp ở dạng thức đơn giản. Tứ (hay đọc là Từ) là tác dụng của tư duy ở dạng thức tinh tế hơn, đào sâu vào vấn đề để hiểu rơ hơn về danh nghĩa của các pháp, nó không có mặt trong tất cả các tâm, cũng không khởi lên trong mọi lúc, tính của nó rất chậm chạp, nhưng đi sâu vào bản thân của đối tượng để hiểu đối tượng, và nó cùng có mặt một lúc với ‘tầm’ để phát huy tác dụng của ngôn ngữ.
Luận Câu xá xếp Tầm và Tứ vào mục Bất định địa pháp, là hai tâm sở trong 75 pháp. Duy thức th́ xếp nó vào trong 4 pháp bất định, là hai trong 100 pháp.

 

Tập khí              習氣    vāsanā
Điều có được do thói quen. Tính nết đă quen.

C̣n gọi là Phiền năo tập, Dư tập, Tàn khí.

Gọi tắt là Tập.

Tàn dư của phiền năo c̣n tiềm phục.

Đại trí độ luận, quyển 27, ghi: ‘Phiền năo tập c̣n gọi là Phiền năo tàn khí. Thân nghiệp và khẩu nghiệp không phát sinh theo trí tuệ mà phát sinh theo phiền năo. Nếu một người không có khả năng biết được tâm người khác, chỉ thấy người đó khởi phiền năo, th́ sẽ sinh tâm bất tịnh. Nhưng thật ra, đó là thứ phiền năo không có thật, mà chỉ là phiền năo do thói quen lâu ngày, cho nên thấy nó khởi như là nghiệp. Giống như một người bị trói chân lâu ngày, khi đă được cởi trói rồi, bước chân đi vẫn c̣n khập khiễng y như c̣n bị trói. Lại giống như đem chiếc áo ngâm trong bồn sữa, lâu ngày th́ sữa thấm cả áo, đến khi đem áo giặt sạch, dù áo không c̣n dính sữa, nhưng mùi sữa vẫn c̣n. Cũng vậy, tâm của Thánh nhân, bụi bặm phiền năo đă được lấy nước trí tuệ tẩy sạch cả rồi, nhưng cái tập khí phiền năo vẫn c̣n sót lại. Như vậy, các bậc Thánh hiền dù đă đoạn trừ hết phiền năo nhưng cái tập của phiền năo vẫn chưa trừ được. Giống như tôn giả Nan-đà vẫn c̣n tập dâm dục, dù đă đắc quả A-la-hán, nhưng khi ngồi trong đại chúng có cả nam và nữ, th́ mắt tôn giả trước hết lại thấy người nữ, dùng ngôn ngữ để thuyết pháp cho người nữ’.

Đoạn luận trên giải thích căn bản phiền năo tuy đă đoạn trừ hết rồi mà cái thói quen hay cái năng lực của nó vẫn c̣n tiềm phục lưu lại thêm một thời gian nữa, gọi là Tập khí. Giống như khi ḿnh tắt cái quạt máy, nguồn điện đă cắt rồi (căn bản phiền năo đă đoạn trừ hết rồi), mà cái quạt vẫn c̣n quay thêm một hồi nữa mới dừng hẳn (tập khí).

Trong kinh điển Phật có nói tôn giả Nan-đà c̣n dâm tập, Xá-lợi-phất và Ma-ha Ca-diếp c̣n sân tập, T́-lăng-ca-bà-bạt c̣n mạn tập, Ma-đầu-bà-tư-trá c̣n khiêu hí tập, Kiều-phạm-bát-đề c̣n ngưu nghiệp tập… là chỉ cho những thói quen c̣n sót lại của nghiệp chứ không phải các tôn giả c̣n có những nghiệp đó.

Câu-xá luận quang kí, quyển 1, nói rằng Bất nhiễm ô vô tri (không biết rằng ḿnh không có nhiễm ô) là Tập khí.

Tổng quát, có ba loại tập khí.

1. Danh ngôn tập khí : chủng tử trực tiếp của từng pháp hữu vi cá biệt. Danh ngôn có hai: Một, danh ngôn biểu nghĩa, đó là sự sai biệt của âm thanh chuyển tải ư nghĩa. Hai, danh ngôn hiển cảnh, tức tâm, tâm sở pháp nhận thức đối tượng cá biệt. Tùy theo hai danh ngôn mà chủng tử được huận tập thành để làm nhân duyên cho từng pháp hữu vi cá biệt.

2. Ngă chấp tập khí : đó là chủng tử của ngă và ngă sở được chấp thủ một cách bất thực. Ngă chấp có hai: Một, câu sinh ngă chấp, loại kiến chấp về ngă và ngă sở bị đoạn trừ bởi tu đạo. Hai, phân biệt ngă chấp, lọai kiến chấp ngă, ngă sở bị đoạn trừ bởi kiến đạo.

Tùy theo chủng tử được huân tập thành hai loại ngă chấp này mà có sự sai biệt ta và nó trong các hữu t́nh.

3. Hữu chi tập khí: đó là chủng tử của nghiệp dẫn đến dị thục trong ba cơi. Hữu chi có hai: Một, thiên hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái. Hai, bất thiện, nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hữu chi mà có sự sai biệt của các cơi do bởi nghiệp dị thục.

Nên biết, tập khí ngă chấp và hữu chi là tăng thượng duyên cho quả sai biệt.

 

Tỉ khâu ni, T́ kheo ni      nonne bouddhiste    nun    比丘尼     bhiksuni
Người nữ xuất gia theo Phật giáo đă thọ giới cụ túc (c̣n gọi là giới tỳ kheo ni, gồm 348 giới).

  女子出家受具足戒者之通稱。新云苾芻尼。梵語尼者,顯女性之聲也。因之比丘為男僧,比丘尼為女僧。俱舍光記十四曰:「苾芻,唐言乞士,舊云比丘,訛也。苾芻尼苾芻如前解,尼是女聲。」慧琳音義二曰:「苾芻尼義說同上,出家女之總名,尼例聲明即女聲也。」以阿難懇請初度佛之姨母大愛道為僧,是為比丘尼之始。參照苾芻條。

Tỉ khâu, T́ kheo      Moine bouddhiste    Buddhist monk    比丘    Bhikkhu, Bhikṣu
Người nam xuất gia theo Phật giáo đă thọ giới cụ túc (250 giới), đầy đủ 5 ư nghĩa: 1. Khất sĩ (đi xin ăn để đơn giản đời sống cho thanh tịnh và để gần gũi với tín đồ mà giáo hoá, tạo cho tín đồ cơ hội gieo trồng phước điền); 2. Phá giặc phiền năo (tham, sân, si, mạn, nghi...); 3. Ra khỏi nhà thế tục và nhà tam giới (ra khỏi 3 cơi); 4. Giữ giới thanh tịnh; 5. Làm cho chúng ma sợ hăi.

  為出家受具足戒者之通稱。男曰比丘,女曰比丘尼。其義甚多。以乞士之翻為本義。嘉祥法華義疏一曰:「比丘名為乞士,上從如來乞法以練神,下就俗人乞食以資身,故名乞士。世之乞人,但乞衣食,不乞於法,不名比丘。(中略)餘怖魔,破惡,淨命,如智度論中廣說也。」

Tịnh độ      Terre pure    Pure land     淨土    Sukhāvatī
Tịnh độ là thế giới trong sạch, không có những điều xấu xa, hoàn toàn thanh tịnh. Nhiếp đại thừa luận chép rằng: "Thế giới mà chúng sinh sống trong đó không có năm điều xấu xa (ngũ trược), th́ gọi là Tịnh độ". Đó là thế giới của chư Phật, là quốc độ của chư Phật, như Tịnh độ của Phật A di đà ở phương Tây, Tịnh độ của Phật Dược Sư ở phương Đông...

  聖者所住之國土也。無五濁之垢染,故云淨土。梁譯之攝論八曰:「所居之土無於五濁,如彼玻璃珂等,名清淨土。」大乘義章十九曰:「經中或時名佛地,或稱佛界,或云佛國,或云佛土,或復說為淨剎、淨首、淨國、淨土。」

Tứ độ      Terres quatre    Four lands    四土    Buddha-kṣetra
Cũng gọi Tứ Phật độ, Tứ chủng Phật độ. Chỉ cho 4 cơi Phật.
1. Phàm thánh đồng cư độ, cũng gọi Nhiễm tịnh đồng cư độ, Nhiễm tịnh quốc: Cơi nước trong đó phàm phu người, trời cùng ở chung với các bậc thánh Thanh văn và Duyên giác.
2. Phương tiện hữu dư độ, cũng gọi Phương tiện độ, Hữu dư độ: Chỉ cho nơi cư trú của các bậc A la hán, Bích chi Phật và hàng Bồ tát Địa tiền. V́ các bậc này tu đạo phương tiện, đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, cho nên gọi là Phương tiện; nhưng Vô minh căn bản vẫn c̣n sót lại, ngăn che thực tướng Trung đạo, cho nên gọi là Hữu dư.
3. Thực báo vô chướng ngại độ, cũng gọi Thực báo độ, Quả báo độ: Nơi sinh về của các vị Bồ tát đă dứt bỏ được 1 phần vô minh. Nhờ tu hành đạo chân thực mà được quả báo sinh về cơi nước tự tại vô ngại này, nên gọi là Thực báo vô chướng ngại độ.
4. Thường tịch quang độ, cũng gọi Lư tính độ: Chỗ ở của Phật đă hoàn toàn dứt trừ vô minh căn bản, tức nơi cư trú của Phật đă chứng được quả Diệu giác rốt ráo, là cơi Phật thường trụ (pháp thân), tịch diệt (giải thoát) và quang minh (bát nhă).

  (一)凡聖同居土,又 椄V淨同居土、染淨國。指人、天兩道之凡夫,與聲聞、緣覺之聖者同居之國土。其中,又可分種:(1)凡居,其內亦有惡眾生所居之「四惡趣」與善眾生所居之「人天趣」之別。(2)聖居,亦有實聖與權聖之分別。實聖即聲聞四果、辟支佛、通教之六地、別教之十住等人所居之處。權聖則有方便有餘土中之三乘人、實報無障礙土及常寂光土之法身菩薩、妙覺如來等,應有緣眾生之須而權化生於此土。此外,此凡聖同居土又有淨、穢二種,如娑婆世界是同居之穢土,西方極樂則是同居之淨土。(二)方便有餘土,又稱方便土、有餘土。指阿羅漢、辟支佛、地前菩薩所居之土。此等之人,係修方便道,斷除見、思惑者,故稱方便;但尚餘障覆中道實相之無明根本惑,故稱有餘。(三)實報無障礙土,又稱實報土、果報國。為斷除一分無明之菩薩所生之處。係酬報真實之道的無礙自在國土,故稱實報無障礙土;純屬菩薩之居,無有凡夫二乘,乃別教初地以上、圓教初住以上之菩薩所居之果報土。(四)常寂光土,又稱理性土。為全然斷除根本無明之佛之依處,即妙覺究竟果佛所居之土,乃常住(法身)、寂滅(解脫)、光明(般若)之佛土。 上記四土之說,主要係就所居之人而作區別,然其中亦有佛為教化眾生而權化於其間之情形,故又可稱為「佛土」。又此四土之說,乃根據淨影寺慧遠之說而來。慧遠於大乘義章卷十九主張淨土有事淨、相淨、真淨三種,真淨之中又分出離妄之真、純淨之真兩種。若與上記智顗之四土相比照,則「事淨」相當於智顗之凡聖同居土,「相淨」相當於方便有餘土,真淨中之「離妄」相當於實報無障礙土,真淨中之「純淨」相當於常寂光土。智顗立此說後,三論宗嘉祥大師吉藏亦常引用其說,然於名稱略有變更,即方便有餘土改為「大小同住土」,實報無障礙土改為「獨菩薩所住土」,常寂光土改為「諸佛獨居土」。

Tứ động tâm              四動心    
Bốn nơi Thánh tích mà khi chiêm bái, viếng thăm ai nấy đều bị chấn động tâm thức hay rung động tâm linh. Đó là nơi: Phật đản sinh, Phật thành đạo, Phật chuyển pháp luân, Phật nhập niết-bàn.

Kinh Du Hành, thuộc Trường A-hàm, ghi: ‘Này A-nan, có bốn chỗ tưởng nhớ: 1. Tưởng tới chỗ Phật sinh, hoan hỷ muốn thấy, nhớ măi không quên, sinh tâm luyến mộ. 2. Tưởng tới chỗ Phật thành đạo, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ. 3. Tưởng tới chỗ Phật chuyển Pháp luân đầu tiên, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ. 4. Tưởng tới chỗ Phật vào Niết-bàn, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ.

‘Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, trai hay gái con nhà ḍng dơi nhớ nghĩ khi Phật giáng sinh có những công đức như thế, khi Phật đắc đạo có những thần thông như thế, khi Phật chuyển Pháp luân có những sự hóa độ như thế, khi Phật diệt độ có những lời di huấn như thế. Rồi mỗi người đi đến bốn chỗ đó kính lễ, dựng chùa tháp cúng dường. Khi chết đều được sinh lên cơi trời, chỉ trừ người đắc đạo.’


 

Tứ điên đảo              四顛倒    viparyāsa
Bốn nhận thức sai lầm, điên đảo.
Có hai loại:
1. Bốn thứ điên đảo của phàm phu, gọi là bốn thứ điên đảo hữu vi: Đối với các pháp hữu vi vốn bị sinh tử, vô thường chi phối mà nhận chấp sai lầm, điên đảo, cho rằng có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Tức là, chúng sanh phàm phu mê muội, không hiểu biết tướng chân thật của các pháp, thế gian vốn Vô thường mà cho là Thường, Khổ đau mà cho là Lạc, Vô ngă mà cho là có Ngă, Bất tịnh mà cho là Tịnh.
2. Bốn thứ điên đảo vô vi: chỉ cho những người khi nghe Phật nói bốn thứ điên đảo hữu vi th́ phát sinh chánh kiến, biết rơ các pháp hữu vi là Vô thường, Vô ngă, Vô lạc, Bất tịnh, nhưng đối với pháp vô vi, tức là đối với niết-bàn vốn là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh lại khởi lên nhận thức sai lầm, cho rằng niết-bàn cũng Vô thường, Vô ngă, Vô lạc, Bất tịnh.
Đoạn trừ bốn thứ điên đảo hữu vi là các bậc Nhị thừa. Đoạn trừ tám thứ điên đảo hữu vi và vô vi là các bậc Bồ-tát.

  梵語 viparyāsa。指四種顛倒妄見。略稱四倒。可分為二:(一)有為之四顛倒,指凡夫對於生死有為法所執之四種謬見─常顛倒(梵 nitya-viparyāsa)、樂顛倒(梵 sukha-viparyāsa)、我顛倒(梵 ātma-viparyāsa)、淨顛倒(梵 śuci-viparyāsa)。即凡夫不知此迷界之真實相,而於世間之無常執常、於諸苦執樂、於無我執我、於不淨執淨。〔大智度論卷三十一、俱舍論卷十九、大毘婆沙論卷一○四、雜阿毘曇心論卷八、成唯識論卷一、俱舍論寶疏卷十九、華嚴經孔目章卷三、宗鏡錄卷三十九〕 (二)無為之四顛倒,指聲聞、緣覺二乘人雖對有為之四顛倒具有正見,然卻誤以為悟境(涅槃)是滅無之世界,而於涅槃無為法起四種妄見。即於涅槃之「常、樂、我、淨」妄執為「無常、無樂、無我、不淨」。前述之中,斷有為之四顛倒為二乘,斷有為、無為等八顛倒則為菩薩。〔南本涅槃經卷二哀歎品、卷七「四倒品」、佛性論卷二、大般涅槃經疏卷七、卷八、成唯識論樞要卷下末、華嚴孔目章卷三、大乘義章卷五末、宗鏡錄卷三十九〕

Tứ ác đạo              四惡道     
C̣n gọi là Tứ ác thú.
Là bốn chỗ sống xấu ác và khổ đau, gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la.
Chúng sanh tạo những nghiệp ác nên đi đến những thế giới, những hoàn cảnh mà môi trường sinh sống toàn là khổ đau.

  指地獄、餓鬼、畜生、阿修羅等四惡處。又作四惡趣。即衆生以造作惡業而受生的苦難世界。《法華經》卷三〈授記品〉說大迦旃延于當來世成佛的國土中,‘無四惡道︰地獄、餓鬼、畜生、阿修羅道。’又,《隨相論》、《解脫道論》卷四等也都提及四惡趣。

Tứ châu              四洲    Catvāro-dvīpāḥ
Quan niệm về thế giới của Ấn độ xưa.
Chỉ cho 4 châu lớn. Ở giữa thế giới là núi Tu di, chung quanh núi Tu di có 7 lớp núi và 7 lớp biển, giữa khoảng lớp núi Thất kim và núi Đại thiết vi là lớp Hàm hải (biển mặn), trong đó có 4 châu lớn, nằm ở 4 phương:
1. Đông thắng thân châu, Pūrva-videha: Cũng gọi Đông phất bà đề. V́ người sinh sống ở đây có thân h́nh thù thắng nên gọi là Thắng thân. Địa h́nh châu này giống như h́nh bán nguyệt, khuôn mặt con người cũng có h́nh bán nguyệt.
2. Nam thiệm bộ châu, Jambu-dvīpa: Cũng gọi Nam diêm phù đề. Thiệm bộ, Jambu, là cây bồ đào, châu này lấy tên cây bồ đào làm tên châu. Địa h́nh như cái thùng xe, khuôn mặt người ở đâu cũng thế.
3. Tây ngưu hoá châu, Apara-godānīya: Cũng gọi Tây cù da di. V́ dùng ḅ, dê làm tiền tệ mua bán, trao đổi, nên có tên Tây ngưu hoá châu. Địa h́nh châu này như trăng tṛn, khuôn mặt người cũng thế.
4. Bắt cu lô châu, Uttara-kuru: Cũng gọi là Bắc uất đơn việt. Câu lô có nghĩa là nơi thù thắng, v́ đất đai ở châu này thù thắng hơn 3 châu nói trên nên được đặt tên là Bắc câu lô châu. Địa h́nh châu này vuông vức, khuôn mặt người cũng thế.

  1731梵語 catvāro dvīpāḥ,巴利語 cattāro dīpā。古代印度人之世界觀,謂於須彌山四方,七金山與大鐵圍山間之鹹海中,有四個大洲。又稱四大部洲、四大洲、四天下、須彌四洲、四洲形量。 據大唐西域記卷一、俱舍論光記卷八等記載,四洲即:(一)東勝身洲(梵 Pūrva-videha),舊稱東弗婆提、東毘提訶,或東弗于逮。略稱勝身(梵 Videha,毘提訶)。以其身形殊勝,故稱勝身。地形如半月,人面亦如半月。(二)南贍部洲(梵 Jambu-dvīpa),舊稱南閻浮提。贍部(梵 jambu)原為蒲桃樹之音譯,本洲即以此樹而得名。地形如車箱,人面亦然。(三)西牛貨洲(梵 Apara-godānīya),舊稱西瞿耶尼。以牛行貿易而得名。地形如滿月,人面亦然。(四)北俱盧洲(梵 Uttara-kuru),舊稱北鬱單越。俱盧,意謂勝處,以其地勝於上述三洲而得名。地形正方,猶如池沼,人面亦然。 日、月、星辰圍繞於須彌山腹,普照四天下。又四大洲各有二中洲與五百小洲,四大洲及八中洲皆住人,二千小洲則或住人或不住人。北洲之果報最勝,樂多苦少,惟無佛出世,故為八難之一。四洲各有特殊之三事:(一)南洲,住民勇猛強記而能造業行、能修梵行、有佛出其土,此三事勝於其他三洲及諸天。(二)東洲,其土極廣、極大、極妙。(三)西洲,多牛、多羊、多珠玉。(四)北洲,則無所繫屬、無有我所、壽命千歲。〔長阿含經卷十八閻浮提洲品、卷二十忉利天品、起世經卷一、新華嚴經卷十三、大智度論卷十、俱舍論卷十一、卷二十、法苑珠林卷二〕

Tứ chính cần          Four correct endeavors    四正勤    catvāri prahāṇāni
Cũng gọi là Tứ chính đoạn, Tứ ư đoạn.
Cần là siêng năng; Đoạn là cắt đứt chướng ngại. Dùng tâm siêng năng tinh tân để đoạn trừ tâm lười biếng, buông lung.
Tứ chính cần là bốn đức mục tu hành làm phương tiện siêng năng tinh tấn trong việc đoạn ác sinh thiện.
1. Nỗ lực đoạn trừ điều ác đă sinh.
2. Nỗ lực ngăn chặn những điều ác chưa sinh.
3. Nỗ lực phát khởi, khơi dậy điều thiện chưa sinh.
4. Nỗ lực nuôi dưỡng, phát triển những điều thiện đă sinh.

 

Tứ diệu đế      Quatre nobles vérités         四妙諦    catvāri āryasatyāni
Bốn chân lư cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo. Tứ diệu đế là nội dung của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích-ca Mâu-ni, và cũng là nội dung chính của bài kinh đầu tiên, kinh Chuyển pháp luân.

Tứ diệu đế là:
1. Khổ đế hay chân lư về sự Khổ: Chân lư thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ năo, không trọn vẹn. Sinh, lăo bệnh, tử, xa ĺa điều ḿnh ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn, là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.
2. Tập khổ đế hay chân lư về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, ái , t́m sự thỏa măn dục vọng, thỏa măn được trở thành, thỏa măn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi.
3. Diệt khổ đế hay chân lư về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt th́ sự khổ cũng được tận diệt.
4. Đạo đế hay chân lư về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo.

 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27