Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Pḥng hộ căn môn              防護根門    indriya-saṃvara
Pḥng hộ căn môn, hay căn luật nghi, Skt. indriya-saṃvara, hay Pāli: indriyesu guttadvāro, «canh chừng cánh cửa nơi các giác quan.» Kinh ghi: «Vị tỳ-kheo ấy, khi nh́n thấy sắc, không nắm chặt các h́nh tướng (…), giữ ǵn giác quan con mắt, canh chừng nơi giác quan con mắt.» Pḥng hộ (Skt. saṃvara), Hán cũng dịch là luật nghi. Có ba loại luật nghi: căn luật nghi (Skt. indrya-saṃvara), pḥng hộ các giác quan; biệt giải thoát luật nghi (Skt. prātimokṣa-saṃvara), pḥng hộ bằng các điều học giới đă phát nguyện thọ; và vô lậu luật nghi (Skt. anāsravasaṃvara), pḥng hộ do chứng pháp vô lậu. Về bản chất, có ba loại luật nghi: 1. Biệt giải thoát luật nghi (prātimokṣa-saṃvara); 2. Tĩnh lự luật nghi (dhyānajasaṃvara),
năng lực pḥng hộ phát sanh do thiền định; 3. Vô lậu luật nghi (anāsrava-saṃvara), pḥng hộ tự nhiên v́ không c̣n phiền năo nhiễm ô.

 

Quang âm thiên      Ciel de Lumière    Light Sound heaven    光音天    Ābhassara-deva
Một trong các tầng trời cơi Sắc, tức là tầng trời thứ 3 của đệ nhị thiền; tầng trời này ở trên Vô lượng quang thiên và ở dưới Thiểu tịnh thiên. Chúng sinh ở cơi trời này không có âm thanh, chỉ do ánh sáng phát ra từ định tâm để thay ngôn ngữ mà truyền đạt ư nghĩa, v́ thế nên gọi là Quang âm thiên. Chúng sinh có nghiệp tương ứng bậc thượng phẩm cơi Nhị thiền được sinh về cơi này, được sắc tối thắng, thân cao 8 do tuần, sống lâu 8 đại kiếp, lấy sự vui mừng làm thức ăn, trụ trong an lạc, ánh sáng tự nhiên, đầy đủ thần thông, có thể bay đi trong hư không.

  音譯阿波會提婆。又作阿波會天、阿會互修天、阿波互羞天、阿波羅天、阿波嘬羅遮天。意譯光陰天、水無量天、無量水天、極光淨天、極光天、光淨天、遍勝光天、晃昱天、光曜天。新譯極光淨天、遍勝光天。乃色界天之一。即第二禪之第三天,位於無量光天之上,少淨天之下。此界眾生無有音聲,而由定心所發之光明,以替代語言傳達彼此之意,故稱光音天。上品二禪天相應業之眾生投生此界,得最勝之色,身長八由旬,壽八大劫,以喜悅為食,住於安樂,自然光明,具有神通,可乘空而行。俱舍論卷十二(大二九‧六三上):「初一有情極光淨歿,生大梵處,為大梵王。後諸有情亦從彼歿,有生梵輔,(中略)漸漸下生,乃至人趣。(中略)後生餓鬼、傍生、地獄。」此謂娑婆世界之有情係自極光淨天(光音天)輾轉而來。增一阿含經卷三十四載,劫初之時,光音天子至此世間食地肥,食少者,其體不重,且不失神足,故亦能於虛空飛行;然食多者,其體遂重,終失神足,而致不能重返天上。此外,密教胎藏界曼陀羅外金剛院之一眾,亦出自此天。〔長阿含經卷二十、起世經卷七、大樓炭經卷四、祕藏記〕

Quá khứ thất phật      sept bouddhas du passé         阿彌陀經    
7 đức Phật xuất hiện trong quá khứ, đó là:
1. Phật T́ bà thi, Vipaśyin.
2. Phật Thi khí, Śikhin.
3. Phật T́ xá phù, Viśvabhū.
4. Phật Câu lưu tôn, Krakucchanda.
5. Phật Câu na hàm mâu ni, Kanakamuni.
6. Phật Ca diếp, Kāśyapa.
7. Phật Thích ca mâu ni, Sākyamuni.

  指出現於過去世之七佛,即:(一)毘婆尸佛(梵 Vipaśyin),(二)尸棄佛(梵 Śikhin),(三)毘舍浮佛(梵 Viśvabhū),(四)拘留孫佛(梵 Krakucchanda),(五)拘那含牟尼佛(梵 Kanakamuni),(六)迦葉佛(梵 Kāśyapa),(七)釋迦牟尼佛(梵 Sākyamuni)。於雜阿含經卷三十四、長阿含卷一大本經、增一阿含經卷四十五、賢劫經卷七、七佛父母姓字經、七佛經等諸經中,皆詳載有關此七佛之出世、族姓、父母、生子、弟子、侍者、所居之城、道場樹、初會說法眾等。〔灌頂經卷八、佛名經卷一、法苑珠林卷八〕

Quy y              歸依    śaraṇa
Quy là quay về, y là nương tựa. Quy y là quay về nương tựa, là sự quay đầu, t́m chỗ nương tựa.
Trong Phật giáo, quy y tức là chỉ cho sự quay về nương tựa nơi Tam bảo Phật, Pháp, Tăng.
Trong thời đại Vệ-đà, từ quy y được sử dụng rộng răi với ư nghĩa là t́m chỗ bảo hộ, t́m chỗ cứu tế, t́m chỗ tị nạn. Ư muốn nói nếu như ai có thể quay về nương tựa vào Phạm thiên th́ thân sẽ được an toàn, tâm sẽ được hết buồn lo.
Trong Phật giáo, quy y Tam bảo có nghĩa là nương tựa nơi oai lực công đức của Tam bảo, sự nương tựa này có thể khiến cho tâm của chúng ta được vô lượng an ổn, được thoát ly mọi khổ năo.
Câu-xá luận ghi: 'Quy y có nghĩa là ǵ? Có nghĩa là cứu tế, bởi v́ chỗ mà ḿnh quy y, tức là Tam bảo, chỗ đó có khả năng đưa tới giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau ách nạn'.
Quy y là sự gieo xuống hạt giống Bồ-đề. Hạt giống Bồ-đề không được gieo vào một cánh đồng trừu tượng nào xa xôi, cũng không chờ đợi để được gieo vào một vùng đất hứa thần thoại nào khác, mà nó được gieo xuống ngay trên sa mạc sinh tử này, khô cằn với những đau khổ triền miên của chúng sinh này. Rồi hạt giống ấy cần phải được tưới bằng nước ngọt của từ bi để lớn mạnh, để đến thời trổ hoa giác ngộ.

  梵 śaraṇa,巴 saraṇa,藏 skyabs)‘歸依’一詞,有歸投、仰仗、依托之義。佛教之歸依,即指歸依佛、法、僧三寶。此詞亦寫爲‘皈依’,或單稱‘歸’。梵語śaraṇa,自吠陀時代起即有此詞,多用于‘保護’、‘救濟’,或‘避難所’、‘保護所’之義。意謂如能歸投其中,則此身得以安全,此心得以無憂,故雲歸依。佛教之歸依三寶,系指依三寶之功德威力,能使吾人之心得無限安慰,得脫離苦惱。故《俱舍論》卷十四雲(大正29·76c)︰‘歸依以何爲義?救濟爲義,由彼爲依,能永解脫一切苦故。’

Quyết định thuyết              決定說    
Quyết định thuyết: lời nói chắc thật đúng với việc làm. Kinh
Thế gian, kinh số 137 thuộc bộ Trung A hàm nói: «Đức Như Lai, kể từ đêm thành đạo vô thượng chánh giác cho đến đêm nhập vô dư Niết-bàn, trong khoảng trung gian đó, những ǵ được nói chính từ miệng Như Lai, những ǵ được đối đáp bởi chính Như Lai, những điều ấy tất cả đều chắc thật, không trống rỗng, đúng như thực, không điên đảo; nói về Như Lai cũng là nói về sư tử vậy.»

 

Quư              愧    apatrāpya
Do chi phối bởi thế gian mà xấu hỗ với điều lỗi lầm. “Đây là điều bị chê trách trong đời. Nếu biết việc làm này của ta, họ sẽ chỉ trích.” V́ sợ mất tiếng v.v... mà xấu hỗ.
Đại thừa ngũ uẩn luận định nghĩa: Tàm là ǵ? Tự tính của nó là do coi trọng sự chê trách của người khác mà xấu hỗ với điều tội lỗi của ḿnh làm.
Coi trọng sự chê trách của người khác tức là lo sợ sự bắt lỗi, trách phạt và dị nghị… của thế gian đối với những lỗi lầm ḿnh làm, tức là xấu hỗ khi bị người đời chỉ trích.
Nghiệp dụng của nó là đ́nh chỉ và ngăn chặn hành vi xấu ác.


 

Sơ thiền      Premier niveau d'expérience méditative    First meditation    初禪    Prathama-dhyāna
Ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ, hỷ, lạc, nhất tâm.

  初禪定又初禪天也。楞嚴經曰:「清淨心中,諸漏不動,名為初禪。清淨心中,麤漏已伏,名為二禪。安隱心中,歡喜畢具,名為三禪。法苑珠林,若據火劫,即是初禪。若約火劫,即是二禪。若約風劫,是其三禪。」

Sơ thiền thiên          first meditation heaven    初禪天    prathama-dhyāna
Một trong bốn trời Thiền cơi Sắc, là nơi sinh đến của những người tu định Sơ thiền sau khi mệnh chung, hoặc chỉ cho chúng sinh sống ở cơi trời này. V́ chúng sinh ở cơi trời này đă xa ĺa các pháp xấu ác ở cơi Dục, sinh khởi cảm nhận mừng, vui, nên cơi trời này c̣n được gọi là Ly sinh hỉ lạc địa.

  為色界四禪天之一。乃修初禪定之人命終後所生之處,或指居於此天之眾生。以此天之眾生已遠離欲界之惡法,而生起喜、樂之感受,故此天又稱為「離生喜樂地」

Sư tử hống              師子吼    
Thành ngữ «sư tử hống» hay tiếng rống của con sư tử được dùng theo các ư nghĩa như sau:

1. Quyết định thuyết: lời nói chắc thật đúng với việc làm. Kinh Thế gian, kinh số 137 thuộc bộ Trung A hàm nói: «Đức Như Lai, kể từ đêm thành đạo vô thượng chánh giác cho đến đêm nhập vô dư Niết-bàn, trong khoảng trung gian đó, những ǵ được nói chính từ miệng Như Lai, những ǵ được đối đáp bởi chính Như Lai, những điều ấy tất cả đều chắc thật, không trống rỗng, đúng như thực, không điên đảo; nói về Như Lai cũng là nói về sư tử vậy.»

2. Vô úy thuyết: nói mà không hề do dự, sợ hăi; nói với sự xác tín, kiên quyết. Khi Tôn giả Xá-lợi-phất ca ngợi đức Phật rằng: «Trong quá khứ, trong tương lai, cũng như trong hiện tại, không thể có một (…) ai tối thắng hơn đức Thế Tôn…»; th́ bấy giờ đức Thế Tôn ấn chứng rằng lời nói của tôn giả Xá-lợi-phất thật sự là tiếng nói không sợ hăi, là tiếng rống của sư tử.

3. Như thuyết tu hành: tu tập đúng như những điều đă được giảng dạy. Tất cả những thực hành chân chánh, đúng với Chánh pháp; sự giảng dạy về những điều thực hành ấy được gọi là «Sư tử hống.» Thí dụ, khi đức Phật bác bỏ các lối tu khổ hạnh và chỉ ra con đường chân chính, thiết thực hơn các khổ hạnh ấy cho các người Ưu-đàm-bà-la, th́ đấy là lúc Ngài đang nói bằng tiếng rống của sư tử, và do đó kinh được đặt tên là Ưu-đàm-bà-la sư tử hống.

 

Sắc cứu cánh thiên              色究竟天    Akniṣṭha
Tiếng Phạn a-ca-ni-tra 阿迦膩吒, dịch Sắc cứu cánh (thiên) 色究竟天 , Hữu đỉnh (thiên) 有頂天: tầng cao nhất trong 18 tầng trời thuộc Sắc giới, cơi thiền thứ tư.

  梵名阿迦尼吒天Akaniṣṭha,色界十八天之一。為色界天之最頂,故名色究竟。見三界條。

Số tức quán      samadhi du compter-du-souffle    breath counting meditation    數息觀    ānāpāna-smṛti
Phương pháp thiền quán niệm hơi thở. Hành giả ngồi ngay thắng, để tâm vào hơi thở ra, vào. Để dễ thực tập, một hơi thở vào, ra, đếm một, cho đến mười, rồi từ mười đếm trở lại một. Phương pháp này rất đơn giản, nhưng mang lại hiệu quả rất lớn, giúp hành giả giảm bớt sự căng thẳng, lấy lại tinh thần và năng lượng cho cơ thể.

 

Sở tri chướng          Noetic hindrances    所知障    Jñeyāvaraṇa
Cũng gọi là Tri chướng, Trí ngại.
Chấp chặt vào pháp đă chứng được, khiến cho trí chân như căn bản bị ngăn che, là 1 trong 2 chướng.
Do vô minh căn bản mà chúng sinh mờ mịt đối với cảnh giới sở tri, che lấp pháp tính mà trở thành chướng ngại cho chủng trí trung đạo, cho nên gọi là Trí ngại.

  指執著於所證之法而障蔽其真如根本智。又作智障、智礙。爲二障之一,「煩惱障」之對稱。謂眾生由於根本無明惑,遂迷昧於所知之境界,覆蔽法性而成中道種智之障礙,故稱智礙。 據大毘婆沙論卷一四一、大乘起信論、俱舍論光記卷一等載,不染污無知即所知障。成唯識論卷九、佛地經論卷七等皆謂,所知障是以執著遍計所執諸法之薩迦耶見爲上首,謂所有見、疑、無明、愛、恚、慢等諸法,其所發業與所得之果,悉攝於此中,皆以法執及無明爲根本,故此障但與不善、無記二心相應,凡煩惱障中必含攝此障。 另據菩薩地持經卷九謂,染污所知障者有皮、膚、骨等三種,歡喜住能斷皮障,無開發無相住能斷膚障,如來住能斷骨障。若於一切障清淨,則斷此三住之智障。

Sử              使    kleśa
Sai khiến.
Tên khác của phiền năo. V́ phiền năo xui khiến con người rong ruỗi trong thế giới mê vọng, cho nên gọi phiền năo là Sử (sai khiến). Sử đồng nghĩa với Tuỳ miên. Trong 10 Tuỳ miên, có 5 Kiến thuộc về tính thấy là: Hữu thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến. Tinh chất suy cầu đạo lư của 5 kiến này rất linh lợi nên gọi là Ngũ lợi sử. C̣n tính chất của tham, sân, si, mạn, nghi th́ chậm lụt và khó điều phục, nên gọi là Ngũ độn sử.

  煩惱之異名也。就喻以名煩惱。世之公使隨逐罪人而繫縛之,煩惱亦隨逐行人。繫縛三界使不出離,故名使。又使者驅役之義,煩惱能驅役人,故謂之使。大乘義章六曰:「使者如地論說,隨逐繫縛義名之為使。蓋乃就喻以名煩惱,如世公使隨逐罪人得便繫縛。煩惱亦然,久隨行人,繫縛三有,不令出離,故名為使。毘曇成實亦同此說。故雜心云:使之隨逐如空行影。成實說言:使之隨逐如母之隨子。此等皆隨逐之義也。有人釋言:驅役名使,於義無爽。但非經論名義。」法界次第上之上曰:「使以驅役為義,能驅役行者心神流轉三界。」

Sự quán              事觀    
Quán chiếu bề ngoài, chỉ thấy các pháp trên mặt hiện tượng, chưa thấy được bản chất.

 

Sa la thụ       bosquet de shala        娑羅樹    śāla
Cây sa-la, tiếng Phạm là śāla, tiếng Pāli là sāla, tiếng Tây tạng là sa-li-ljon-pa. C̣n gọi là cây tát-la, cây tô-liên. Dịch ư là cây kiên cố, hoặc cây cao viễn. Tên khoa học là Shorea Robusta, thuộc họ cây long năo hương. Thân cây cao mà cong (kiều mộc), mọc nhiều ở vùng nhiệt đới, như Ấn độ, Bangladesh… Cây cao khoảng 10 trượng (100 feet); lá h́nh bầu dục dài, đầu lá nhọn, dài khoảng 16-25cm, rộng khoảng 10-16cm; hoa nhỏ, màu vàng lợt; trái có hạt có thể ép lấy dầu; gỗ rất cứng, có thể làm vật liệu kiến trúc, cũng có thể làm khí cụ và đóng thuyền…
Theo lịch sử Phật giáo, trong 7 đức Phật quá khứ, th́ đức Phật thứ 3 là T́-xá-phù (Vessabhu) đă thành đạo dưới gốc cây này. Kinh Đại bản trong Trường A-hàm, quyển 1 ghi: “Đức Phật T́-xá-bà ngồi dưới gốc cây sa-la thành chính giác tối thượng”. Kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự, ghi: “Đức Phật Tuỳ Diệp lúc đắc đạo thành Phật Ngài ngồi dưới cây sa-la”.
Rừng cây sa-la ngoài thành Câu-thi-na (Kuśinagara) là nơi đức Thích tôn nhập bát-niết-bàn. Kinh Du hành trong Trường A-hàm quyển 4 đă ghi: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở ngoài thành Câu-thi-na, trong rừng cây sa-la, Ngài nằm giữa hai cây mà vào niết-bàn”.
Theo phẩm Ứng tận hoàn nguyên của kinh Đại bát-niết-bàn hậu phần, quyển thượng, th́: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn nằm nghỉ trên giường báu ở trong rừng sa-la, vào lúc nửa đêm, Ngài nhập Tứ thiền, vắng lặng tuyệt đối, rồi vụt chốc vào bát-niết-bàn. Sau khi Đại giác Thế Tôn vào niết-bàn, quanh chỗ Ngài nằm bốn phía đông tây nam bắc đều có cây sa-la một gốc hai nhánh, bấy giờ đều hợp lại thành một rủ xuống che trùm giường báu của Như Lai, v́ quá thảm thương, chỉ trong chốc lát những cây sa-la đều biến thành màu trắng, giống như bạch hạc, cành lá hoa quả và vỏ cây đều nứt ra rơi xuống đất, rồi dần dần khô héo”.

  (梵 śāla,巴 sāla,藏 sa-li-ljon-pa)植物名。又作沙羅、薩羅、蘇連。意譯堅固或高遠。學名Shorea Robusta。屬龍腦香科。喬木。産于印度、孟加拉等熱帶地方。高達十丈。葉呈長橢圓形而尖,長五寸至八寸五分,寬三寸至五寸。花小,呈淡黃色。果實有長一、二寸的翼。種子可食。材質甚堅,可供建築用,亦可作種種器具及船艦之材料。樹脂可爲瀝青之代用品,幷可供塗料及作藥用。土人常用以治療消化不良、淋疾等病症。<#>相傳,此樹乃過去七佛中第三毗舍浮(Vessabhu)佛之道場樹。如《長阿含》卷一〈大本經〉雲(大正1•2a)︰‘毗舍婆佛坐娑羅樹下成最正覺。’《七佛父母姓字經》雲(大正1•159c)︰‘隨葉佛得道爲佛時,于薩羅樹下。’<#>此外,拘尸那揭羅(Kuśinagara)城外之娑羅樹林,系釋尊般涅槃之聖地。《長阿含》卷四〈游行經〉雲(大正1•24b)︰‘爾時世尊在拘尸那竭城本所生處,娑羅園中雙樹間,臨將滅度。’《大般涅槃經後分》卷上〈應盡還源品〉雲(大正12•905a)︰<#>‘爾時世尊,娑羅林下寢臥寶床,于其中夜入第四禪寂然無聲,于是時頃便般涅槃。大覺世尊入涅槃已,其娑羅林東西二雙合爲一樹,南北二雙合爲一樹,垂覆寶床蓋于如來,其樹即時慘然變白猶如白鶴,枝葉花果皮幹悉皆爆裂墮落,漸慚枯悴摧折無餘。’<#>《大般涅槃經疏》卷一雲(大正38•44b)︰<#>‘娑羅雙樹者,此翻堅固。一方二株四方八株,悉高五丈,四枯四榮,下根相連、上枝相合,相合似連理,榮枯似交讓。其葉豐蔚,華如車輪,果大如瓶,其甘如蜜,色香味具,因茲八樹通名一林,以爲堅固。(中略)東雙表常,南雙表樂,西雙表我,北雙表淨。又雙茂表常,陰凉表我,華以表淨,果以表樂。’<#>故古來稱此樹林爲雙樹林、堅固林或鶴林。<#>[參考資料] 《慧苑音義》卷下;《佛遺教經》;《大唐西域記》卷六;《長阿含》卷十八〈閻浮提州品〉、卷二十〈阿須倫品〉;《般泥洹經》卷下;《大般涅槃經》卷一;《中阿含》卷三十五〈算數目犍連經〉、卷三十七〈鬱瘦歌邏經〉、卷四十八〈牛角娑羅林經〉。<#>

Sám hối      quatre formes de naissance     Repent    懺悔    Kṣamayati
Thấy được lỗi lầm ḿnh đă gây tạo, cảm thấy ăn năn và mong được tha thứ. Tức là, khi ḿnh làm điều tội lỗi hay phạm phải những điều sai lầm ḿnh cần phải sám hối th́ tội lỗi mới tiêu trừ và trở lại thanh tịnh.
Kinh Phật v́ trưởng lăo Thủ-ca giảng về sự sai biệt của nghiệp, nói rằng: ‘Người nào tạo trọng tội th́ phải tự trách ḿnh, ăn năn sám hối, thệ nguyện không bao giờ tái phạm. Sám hối như vậy th́ có thể nhổ được gốc rễ của nghiệp’.
Kinh niết-bàn, ghi rằng: ‘Nếu đại vương biết sám hối, ḷng cảm thấy hỗ thẹn với lỗi lầm ḿnh đă tạo th́ tội lỗi sẽ tiêu diệt, đại vương sẽ trở lại thanh tịnh như xưa’.
Từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay, sám hối luôn luôn được coi là một trong những pháp tu hành quan trọng của người học Phật. Ngoại trừ trường hợp sám hối riêng lẽ thực hiện tùy lúc, trong đời sống tu học có định kỳ thực hiện nghi thức sám hối đều đặn, tức là mỗi nửa tháng cử hành lễ bố-tát (sám hối và tụng giới) một lần, mỗi năm một lần tổ chức lễ tự tứ (tự ḿnh nói lên lỗi lầm của ḿnh đă phạm và xin người khác chỉ cho ḿnh lỗi lầm đă phạm để sám hối) một lần sau ba tháng an cư.
Phương pháp sám hối thực tiễn cụ thể th́ tùy theo thời đại, phong tục, tông phái… mà có đôi chút khác nhau, chứ không có một định chế bắt buộc. Một cách tổng quát, theo Luật tông, có hai cách sám hối sau đây:
1. Chế giáo nghi: Cách thức sám hối những tội lỗi vi phạm giới luật, chỉ giành riêng cho người xuất gia. Có ba phần:
a. Tội pháp sám: Đứng trước đại chúng gồm có bốn người trở lên để sám hối.
b. Đối thủ sám: Đứng trước người thầy của ḿnh, hay trước một vị tăng thanh tịnh để sám hối.
c. Tâm niệm sám: Hướng về Đức Phật Thế Tôn tự ăn năn sám hối.
2. Hóa giáo nghi: Cách thức sám hối những hành vi sai trái liên quan đến thiện ác, giành cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
Thiên thai tông c̣n lập ra các pháp sám hối thực tiễn hơn: Sự sám (phân biệt tùy lúc sám hối); Lư sám (quán thật tướng, thể ngộ tính chất của tội lỗi cũng có Tánh không); Tác pháp sám hối (y theo giới luật mà thực hành sám hối); Thủ tướng sám hối (quán tưởng tướng hảo của Phật, chừng nào thấy tướng hảo xuất hiện th́ tội lỗi tiêu trừ); Vô sanh sám hối (niệm thật tướng, ngộ được tội vốn vô sanh). Trong các phương pháp sám hối trên, Lư sám hoặc Vô sanh sám được dùng làm trung tâm, tổ chức thành phương pháp thực tiễn là ‘Pháp hoa tam-muội sám nghi’, đề xướng việc thực hành sám hối sáu căn.
Do phương pháp và tính chất sám hối có nhiều loại, cho nên văn sám hối cũng có nhiều bài. Trong Phật giáo đại thừa, văn sám hối thường được sử dụng nhiều nhất là bài kệ trong kinh Hoa nghiêm:
‘Con xưa vốn tạo bao ác nghiệp,
Đều do vô thủy tham, sân, si,
Từ thân miệng ư phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối’.
Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết-ma sớ, quyển 4, ghi rằng, muốn thực hành sám hối cần phải hội đủ 5 điều kiện:
1. Thỉnh mười phương chư Phật, Bồ tát chứng minh
2. Tụng kinh chú
3. Nói lên cái tội mà ḿnh đă phạm
4. Lập lời thề không tái phạm
5. Đúng như giáo pháp chứng minh cho.
Viên giác kinh lược sớ sao, quyển 12, cho biết, trong truyền thống Phật giáo Nam truyền, muốn sám hối phải thỉnh đại tăng Tỳ-kheo làm chứng, khi đối trước đại tăng phải làm đủ 5 pháp:
1. Để lộ vai bên phải
2. Gối phải quỳ xuống đất
3. Chắp tay
4. Nói lên tội ḿnh đă phạm
5. Lễ sát chân đại tăng.
Nếu trường hợp không có đại tăng th́ không cần thực hành pháp thứ 5.
Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh, quyển thượng, cho biết, khi thực hành sám hối thành công, người ấy sẽ đắc được cái tướng ba nghiệp thiện, hào quang sáng rực cả pḥng, ngửi được mùi hương lạ vô cùng đặc biệt, thân thể và tâm ư đều được an lạc, nhẹ nhàng, hoặc nằm mộng thấy Phật và Bồ-tát đến lấy tay xoa đầu, nói : ‘Lành thay! Nay con đă được thanh tịnh, v́ vậy Ta đến để chứng minh cho con!’
Đại thừa bổn sanh tâm địa quán kinh, quyển 3, cũng nói ‘Nếu người nào thực hành sám hối đúng như pháp th́ phiền năo chắc chắn tiêu trừ. Giống như thế gian bị kiếp hỏa hủy hoại, thiêu cháy đến tận núi Tu-di, làm khô hết biển cả, sám hối đúng như pháp cũng sẽ đốt cháy hết mọi phiền năo, sám hối đúng như pháp sẽ văng sanh đến cơi trời, sám hối đúng như pháp sẽ đắc được an lạc của Tứ thiền, sám hối đúng như pháp th́ cảm được được mưa báu ngọc ma-ni, sám hối đúng như pháp th́ được thọ mạng lâu dài như kim cương, sám hối đúng như pháp sẽ đưa đến cung thương lạc, sám hối đúng như pháp sẽ thoát khỏi ngục tù ba cơi, sám hối đúng như pháp sẽ làm nở đóa hoa bồ-đề, sám hối đúng như pháp sẽ thấy được Phật…’

  (術語)止觀七曰:「懺名陳露先惡,悔名改往修來。」然懺為梵語懺摩Kṣamayati之略,而非漢語,故台宗之子弟不取之。四明之金光明經文句記三曰:「懺悔二字,乃雙舉二音。梵語懺摩,華言悔過。」悔過之譯,不葉本義。懺摩者請他忍恕之義也。又謂發露已犯罪,則梵語提舍那矣Deśayati或Deśanakaranīyā,譯曰說罪也。玄應音義十四曰:「懺悔,此言訛略也。書無懺字,正言叉摩,此云忍。謂容恕我罪也。」南山戒疏一下曰:「懺悔,悔是此土之言,懺是西方略語,如梵本言懺摩也。懺字非蒼雅所陳,近俗相傳故耳。」寄歸傳二曰:「舊云懺悔,非關說罪,何者?懺摩乃是西音,自當忍義。悔乃東夏之字,追悔為目,懺之與忍,迴不相干。(中略)恐懷後滯,就他致謝。即說懺摩之言,必若自己陳罪,乃云提舍耶矣。」有部毘奈耶十五註曰:「言懺摩者,此方正譯當乞容恕,容忍致謝義也。若觸誤前人,欲乞歡喜者,皆云懺摩。無問大小,咸同此說。若悔罪者,本云阿鉢底提舍那Āpattideśanā,阿鉢底是罪,提舍那是說,應言說罪。云懺悔者,懺是西音,悔是東語。不當請恕,復非說罪,誠無由致。」慧苑音義下曰:「懺悔謂懺摩,此云請忍,謂請前人忍受我悔罪。」

Sát na          a moment    刹那    kṣaṇa
Từ ngữ chỉ đơn vị thời gian cực ngắn như chớp mắt, giây lát...

 

Sân khuể      colère     anger    瞋恚    pratigha
Sự tức giận. Đối với những người làm trái ư ḿnh mà nổi giận, oán ghét, khiến tâm minh bực bội không yên, th́ gọi là sân.
Sân là chướng ngại rất lớn đối với người tu học Phật pháp, bởi sự tu tạo công đức rất khó, mà chỉ cần một niệm sân hận nổi lên th́ đốt cháy hết cả rừng công đức, cho nên các kinh luận thường hay cảnh giác.

  梵語 pratigha 或 dveṣa,巴利語 paṭigha 或 dosa 。又作瞋恚、瞋怒、恚、怒。音譯作醍鞞沙。心所(心的作用)之名。為三毒之一。係指對有情(生存之物)怨恨之精神作用。於俱舍宗屬不定地法之一,於唯識宗屬煩惱法之一。據俱舍論卷十六、成唯識論卷六所載,對違背己情之有情生起憎恚,使身心熱惱,不得平安之精神作用,名為瞋。又忿、恨、惱、嫉、害等隨煩惱,皆以瞋之部分為體,是為六根本煩惱(或十隨眠)之一。以其不屬推察尋求之性質(見),作用遲鈍,故為五鈍使之一。與貪、癡兩者,共稱為三毒(三不善根)。亦屬五蓋、十惡之一。 瞋唯屬欲界所繫之煩惱,於色界、無色界則無。貪乃從喜愛之對境所起,反之,瞋則從違逆(不順心)之對境所起。瞋,為修學佛道上最大之障害,經論中常誡之,如大智度論卷十四(大二五‧一六七中):「瞋恚其咎最深,三毒之中,無重此者;九十八使中,此為最堅;諸心病中,第一難治。」「無瞋」即對境不起害心,為對治瞋之精神作用,屬俱舍宗十大善地法之一、唯識宗善心所之一,與無貪、無癡共稱三善根,又為四無量心中之慈無量心之體。〔雜阿含經卷二十七、卷二十八、悲華經卷六、大毘婆沙論卷二十七、卷三十四、卷四十四、卷四十八、顯揚聖教論卷一、順正理論卷四十、阿毘達磨藏顯宗論卷二十五、俱舍論光記卷十六、成唯識論述記卷六末〕

Sinh y              生依    upādi
Căn bản của sự sống, hay sinh y, là năng lực duy tŕ ḍng tương tục của căn thân không để đứt đoạn.

 

Tăng nhất A hàm kinh      Les sutras des doctrines numériques     Increased by One Āgama Sutras    增一阿含經    Ekottarikāgama
Kinh Tăng nhất A-hàm, tiếng Phạn là Ekottarikāgama, gồm 51 quyển, do Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva) dịch vào đời Đông Tấn (có lẽ trong khoảng thời gian 391-397 Tây lịch), hiện nằm trong ĐTK/ĐCTT, tập 2, số 125, trang 549-830. Các kinh từ số 126 đến 151 là các bản dịch lẻ tẻ thuộc Tăng nhất A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a4, HT. Thích Thanh Từ dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, trọn bộ 3 tập.
Về tên gọi của bổn kinh, theo Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa quyển 1, Ngũ Phần Luật quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54… th́ do kinh này tập hợp các bài pháp thoại có nói đến pháp số, tuần tự sắp xếp từ 1 pháp đến 11 pháp, theo thứ tự tăng dần như vậy nên gọi là Tăng nhất. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa, quyển 1, c̣n cho rằng kinh này Đức Phật v́ chư thiên, người đời… tuỳ thời mà thuyết pháp. Thuyết này không được chính xác lắm!
Toàn kinh được phân thành 52 phẩm, tổng cộng 472 kinh. Mở đầu là phẩm Tự, tŕnh bày sơ lược diễn biến đại hội kết tập, A-nan tụng kinh, và nhân duyên A-nan truyền pháp cho Ưu-đa-la. Tiếp là các phẩm sắp xếp kinh thứ tự theo số pháp, từ 1 đến 11 pháp. 1 pháp có 13 phẩm, 2 pháp có 6 phẩm, 3 pháp có 4 phẩm, 4 pháp có 7 phẩm, 5 pháp có 5 phẩm, 6 pháp có 2 phẩm, 7 pháp có 3 phẩm, 8 pháp có 2 phẩm, 9 pháp có 2 phẩm, 10 pháp có 3 phẩm, 11 pháp có 4 phẩm. Trong đó, cứ sau mỗi kinh hay sau mỗi phẩm đều có bài tụng tóm tắt đại ư của mỗi kinh hay mỗi phẩm. Các bản Tăng nhất A-hàm của Tống, Nguyên, Minh đều ghi nhận có 52 phẩm, 50 quyển. C̣n trong Đại tạng của Cao Ly th́ kinh này có 50 phẩm, 51 quyển.
Về pháp số của kinh này, có hai thuyết. Thuyết thứ nhất cho rằng kinh này vốn có đến 100 pháp, sau v́ quên mất nên chỉ c̣n lại 10 pháp (theo Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 32, A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận quyển 10, Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự quyển 39...). Thuyết thứ hai căn cứ vào Ngũ Phần Luật quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54, Tuyển Tập Tam Tạng và Tạp Tạng Truyện, Phân Biệt Công Dức Luận quyển 2,... cho rằng kinh này thứ tự sắp xếp từ một đến 11 pháp, tổng cộng có 11 pháp. Thuyết này phù hợp với kinh Tăng nhất A-hàm hiện c̣n.
Trong năm bộ Nikāya, th́ kinh này tương đương với Tăng chi bộ (Aṅguttara- nikāya). Tăng chi bộ có 11 tụ, 171 phẩm, 2203 kinh, (nhưng con số này cũng chưa thống nhất), trong đó có 136 kinh tương đương hoặc có thể đối chiếu so với Tăng nhất A-hàm (theo The four Buddhist Àgamas in Chinese). Nhưng trong Phật quang đại tạng kinh, phần đề giải kinh Tăng nhất A-hàm cho biết có 153 kinh của Tăng nhất A-hàm tương đương hoặc gần tương đương với Tăng chi bộ.
Về sự truyền thừa, theo Luận phân biệt công đức, kinh này được truyền từ Nhất thiết hữu bộ. Dịch giả của kinh này xuất thân trong địa bàn truyền giáo của Nhất thiết hữu bộ, cho nên thuyết này cũng rất có lư. Nhưng kinh này lại mang đậm sắc thái Đại thừa, nên ngài Từ Ân cho rằng kinh này được truyền từ Đại chúng bộ. Theo học giả Lương Khải Siêu, kinh này do Nhất thiết hữu bộ truyền, sau đó được bổ sung bởi các bản của Đại chúng bộ.


 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27