Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Lâm t́ ni              藍毗尼園    Lumbinī
Chữ Lâm-t́-ni dịch ư là khu vườn có đầy đủ mọi loài hoa trái ngon ngọt quư hiếm nhất, trần đầy ánh sáng, hương hoa, rất đáng yêu và vô cùng thanh thoát.

Hoa viên này do Vua Thiện Giác (Suprabuddha), quốc chủ thành Thiên-tư (Devadaha), kiến tạo cho phu nhân Lâm-t́-ni. Lâm-t́-ni sanh hạ hai người con gái, trưởng nữ là Ma-ha-ma-da (Mahāmāyā), tức mẫu thân của Đức Phật, và thứ nữ là Ma-ha Ba-xà-ba-đề (Mahāprajāpati), cả hai đều gả cho vua Tịnh Phạn.

Căn cứ kinh điển ghi chép, phu nhân Ma-da của vua Tịnh Phạn (Śuddhodana), quốc chủ thành Ca-t́-la-vệ, sắp đến kỳ lâm bồn, theo tập tục của người dân bấy giờ, phu nhân phải về quê ngoại để sanh nở. Trên đường trở về quê ngoại, đến Hoa viên Lâm-t́-ni, chính là hoa viên mang tên mẹ của bà, Ma-da vào dạo chơi, đến bên cây Vô ưu th́ đản sanh thái tử Tất-đạt-đa.

Thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, Vua A-dục (Aśoka) đă đến Hoa viên này chiêm bái và kiến tạo một trụ đá chôn ở đây để lưu niệm.

Hoa viên Lâm-t́-ni đă trải qua nhiều thời gian hoang phế. Đến năm 1896 mới được phát hiện trở lại, và từ đó, nhiều cuộc khảo cổ đă được tiến hành. Trong quá tŕnh khai quật, người ta đă t́m thấy không ít những di vật của các vương triều Khổng Tước (Maurya), vương triều Quư Sương (Kushan, Kuṣāṇa), vương triều Cấp-đa (Gupta).

Ngày nay, tại chính giữa di chỉ khảo cổ là đền thờ Thánh mẫu Ma-da. Trong đền thờ có bức phù điêu bằng đá tả cảnh Thánh mẫu Ma-da hạ sanh thái tử. Phía nam đền thờ có một hồ nước, tương truyền là nơi rồng chúa phun nước tắm cho Thái tử. Trụ đá trứ danh của vua A-dục nằm ở phía tây đền thờ. Theo Đại Đường Tây vực kư quyển sáu, Huyền Trang ghi chép: ‘Trên đầu trụ đá có mă tượng, do vua Vô Ưu (tức vua A-dục) kiến tạo. Sau v́ ác long phá hoại, trụ đá đă bị găy làm đôi’. Hiện nay, trụ đá c̣n lại cao khoảng 7 mét, phần đầu trụ đá có mă tượng đă mất. Tuy nhiên, phần trụ đá c̣n lại vẫn c̣n những ḍng chữ do vua A-dục pháp sắc, và người ta đọc được như sau: ‘Hai mươi năm sau khi lên ngôi, quốc vương Devànampiya Piyadasi (tức vua A-dục) ngự đến đây chiêm bái, v́ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, bậc hiền nhân của bộ tộc Thích-ca, đă đản sanh tại đây. Nhà vua ban lệnh khắc một bia bằng đá và dựng một thạch trụ. Ngài miễn thuế đất ở làng Lumbini và giảm thuế hoa lợi từ 1/4 theo lệ thường xuống c̣n 1/8’.

Những năm gần đây, chính phủ Nepal và những nước Phật giáo đă xây nhiều chùa tháp mới. Chính phủ Nepal đă có kế hoạch đệ tŕnh Liên Hiệp Quốc để xin trợ cấp xây dựng lại Hoa viên Lâm-t́-ni.

 

Liễu đạt              了 達    
Hiểu rơ một cách triệt để. Biết rơ, thấu rơ. Liễu ngộ thông đạt cả sự và lư.
Mật Am ngữ lục ghi: "親 悟 親 證、 了 達 三 祇 劫 空、 不 被 諸 塵 所 轉" – Tự ḿnh ngộ lấy, tự ḿnh chứng lấy, thấu rơ ba tăng ḱ kiếp rỗng không, chẳng bị trần cảnh khuấy động.
Pháp hoa kinh, Đề-bà-đạt-đa phẩm, ghi: 'Thâm nhập thiền định, thấu rơ các pháp'.
Hoa nghiêm kinh, quyển 37, ghi: 'Thấu rơ ba cơi đều do tâm mà có, 12 nhân duyên cũng như vậy'.

  了悟通達事理也。法華經提婆品曰:「深入禪定了達諸法。」唐華嚴經三十七曰:「了達三界依心有,十二因緣亦復然。」

Liễu nghĩa              了義    nītārtha
Nghĩa của các pháp được trực tiếp hiển bày một cách rơ ràng.
Giáo lư của đức Phật được trực tiếp tŕnh bày một cách rơ ràng, tường tận, gọi là Liễu nghĩa giáo. Như các kinh Đại thừa nói sinh tử, niết bàn không hai, không khác. Những kinh điển nói đạo lư này, gọi là kinh Liễu nghĩa, do đức Phật nói.


 

Linh Thứu Sơn              靈鷲山    Gṛdhra-kūṭa
Tên chữ là Kỳ-xà-quật, Gṛdhra-kūṭa, ngọn núi nằm gần thủ đô Vương-xá của quốc vương Ma-kiệt-đà xưa.
Thành Vương-xá có 5 ngọn núi, th́ núi Linh Thứu là ngọn cao nhất. Núi có nhiều cây cối, không gian thanh tịnh, không khí trong lành, nên có rất nhiều Thánh nhân ẩn cư.
V́ Đức Phật thường lên núi này ngắm hoàng hôn và giảng nhiều bản kinh quan trọng mà ngọn núi này nổi danh.
‘Kỳ-xà’ (Gṛdhra) là một loại chim giống diều hâu, lông và cánh hơi đen, đầu trắng, là loài chim ăn thịt. Theo Huyền ứng âm nghĩa, quyển thứ 7, ghi chép, th́ đây là loài chim có linh tính, biết trước người chết. V́ vậy, khi biết có người sắp chết, chúng liền bay đến nhà người đó, đợi cho đến khi người chết được đem tống tang trong rừng th́ bay xuống mà ăn thịt, nên gọi là Linh thứu.
Theo Luận Đại trí độ, quyển 3, núi này có tên gọi như thế v́ hai lư do: 1. Trên đỉnh núi có một tảng đá nhô lên cao, nh́n giống đầu chim Thứu, nên người dân thành Vương-xá gọi là núi đầu chim Thứu (Thứu đầu sơn); 2. Phía nam thành Vương-xá có một khu rừng gọi là Thi-đà lâm, trong rừng này có một khu vực để người dân tống táng tử thi, v́ vậy chim Thứu thường đến đây ăn thịt tử thi, ăn xong chúng bay đến đậu trên đỉnh núi, bấy giờ người dân bèn gọi núi ấy là Thứu đầu sơn.
Đức Phật thường đến núi này và giảng nhiều bản kinh Đại thừa, như Kinh Thiện sinh, Kinh Vô lượng nghĩa, Kinh Diệu pháp liên hoa, Kinh Vô Lượng thọ…


 

Luân hồi      Cycle des renaissances        輪迴    saṃsāra
Là ṿng sinh tử liên tục, như bánh xe quay ṿng. Chúng sanh do tạo nghiệp (tham, sân, si), chết trong kiếp này, rồi lại sanh vào kiếp khác, hệt như cái bánh xe, cứ quay ṿng măi măi trong ba cơi.

 

Lư quán              理觀    
Quán chiếu lư tánh của các pháp, tức nh́n vào bên trong để thấy được thực tướng của các pháp.

 

Mạn      arrogance    identity    慢    Asmimāna
Mạn, đọc từ tiếng Phạm māna, là một loại tâm sở (tác dụng của tâm gọi là tâm sở). Nó ám chỉ cái tâm tự măn, cao ngạo, khi nào cũng thấy ḿnh tài giỏi hơn người khác và tỏ ư coi thường người khác. Nó cùng một loại với ‘kiêu’, nhưng không thực sự tương đồng. ‘Kiêu’ là tự cho ḿnh xinh đẹp, có huyết thống cao quư, có học thức… hơn người khác và tỏ ư tự hào. Cùng một cách như vậy, nhưng ‘mạn’ là cái tâm vọng tưởng về chính bản thân ḿnh, tức ḿnh không đẹp, không giỏi, không cao quư… mà tự cho ḿnh như thế, nghĩ ḿnh ưu tú hơn người, khi nào cũng muốn khoe khoang, ngạo mạn.
Duy thức tông xếp ‘mạn’ vào một trong 6 tâm sở căn bản phiền năo. C̣n Câu xá tông xếp nó vào một trong các pháp bất định địa.
Người ta đă chia ‘mạn’ ra thành những tâm lư nhỏ hơn, vi tế hơn, thành 7 mạn, 8 mạn, 9 mạn.
Luận Đại thừa ngũ uẩn chia ‘mạn’ ra thành 7 loại: 1. mạn; 2. quá mạn; 3. mạn quá mạn; 4. ngă mạn; 5. tăng thượng mạn; 6. ti mạn; 7. tà mạn.
Luận Đại t́ bà sa quyển 43 và 50, luận Câu xá quyển 19, giải thích nội dung 7 mạn như sau:
1. Mạn: Đối với người kém hơn ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người bằng ḿnh th́ nghĩ ḿnh bằng họ. Cái tâm lư này xem ra rất tự nhiên, không thể nói là xấu, thế nhưng, khi tâm lư này biểu hiện, nó thường có ư cao ngạo, v́ vậy mà không tốt.
2. Quá mạn: Đối với người bằng ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người hơn ḿnh, nghĩ ḿnh bằng họ.
3. Mạn quá mạn: Đối với người hơn ḿnh, nghĩ họ thua ḿnh.
4. Ngă mạn: Cho năm uẩn là ta, của ta.
5. Tăng thượng mạn: Chưa chứng quả mà tự cho ḿnh đă chứng quả, chưa đoạn trừ hết phiền năo mà nói ḿnh đă hết phiền năo.
7. Tà mạn: Không có đức độ, lại buông lung làm việc ác, mà tự cho ḿnh có đức độ.
Những người nào có tâm mạn nói trên, nếu không theo học với bậc thiện tri thức, không hành đạo xuất ly, th́ không bao giờ thoát khỏi sinh tử luân hồi.


 

Mạt pháp      derniers jours du Dharma    latter dharma    末法    saddharma-vipralopa
Thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, bấy giờ những lời dạy của Phật bị mất dần, không c̣n người hiểu và hành tŕ đúng chính pháp, cho đến lúc mất hết hoàn toàn. Đồng nghĩa với Mạt thế, Mạt đại.
Phật pháp tồn tại ở thế gian được chia làm ba thời kỳ: Chính pháp, tượng pháp và mạt pháp.
1. Chính pháp: Giáo pháp của Phật c̣n nguyên vị. Sau khi Phật nhập niết bàn, giáo pháp ở đời, nếu nương theo giáo pháp mà tu hành th́ liền được chứng quả, gọi là chính pháp.
2. Tượng pháp: Phật pháp không c̣n nguyên vị, chỉ tương tự mà thôi. Giai đoạn này, giáo pháp tuy có và người tu hành cũng nhiều nhưng không có người chứng quả.
3. Mạt pháp: Giáo pháp của Phật bị tà ma ngoại đạo lợi dụng, xen tạp vào; kinh điển được chú thích, giảng giải tuỳ tiện... làm mất hết hương vị chính pháp. Tuy có nhiều người đi tu, nhiều người quy y Tam bảo nhưng không có ai thực hành theo lời Phật dạy.

 

Mật giáo          esoteric Buddhism    密教    
Đối lại là Hiển giáo.
Hai bộ giáo pháp Thai tạng mạn đà là và Kim cang mạn đà la do Đại Nhật Như Lai giảng thuyết được gọi là Mật giáo. Đó là cảnh giới nội chứng pháp thân của Phật, thâm sâu, bí áo, cho nên gọi là Mật giáo. Hơn nữa, đối với người chưa được làm lễ Quán đỉnh th́ không thể truyền trao giáo pháp Hiển tông, cho nên gọi là Mật giáo.

  對顯教而言,謂大日如來所說之金胎兩部教法也。是為法身佛內證之境界。深密秘奧,故云密教,又為對未灌頂人不許顯示之教法,故云密教。二教論上曰:「法佛談話,謂之密藏,言秘奧實說。」又曰:「自性受用佛,自受法樂故,與自眷屬各說三密門,謂之密教。」日本東密於此密教立事理二密。

Mâu ni              牟尼    Muni
Mỹ hiệu chỉ cho những bậc Thánh đă đoạn trừ hết phiền năo. Trong hàng Thánh giả đó, Đức Phật được tôn xưng là Đại Mâu ni.

 

Năng duyên              能緣    
Chủ thể có đủ tác dụng nhận thức gọi là 'Năng duyên'; c̣n khách thể (đối tượng) bị nhận thức gọi là 'Sở duyên'.
Duyên có nghĩa là nương tựa, nương nhờ, vin theo, tức là tâm thức không thể tự sinh khởi mà phải nương vào cảnh bên ngoài (khách thể, đối tượng) mới có thể phát sinh tác dụng. Theo Duy thức học Phật giáo, Năng duyên là Kiến phần (chủ thể nhận thức) và Sở duyên là Tướng phần (đối tượng nhận thức).
Chủ thể nhận thức (Năng duyên) gồm có ba phần: Kiến phần, Chứng phần, và Chứng tự chứng phần. Khi Năng duyên sinh ra tác dụng th́ Kiến phần duyên theo Tướng phần, Tự chứng phần duyên theo Kiến phần và Chứng tự chứng phần, c̣n Chứng tự tự chứng phần th́ duyên theo Tự chứng phần.

  具有認識作用之主體為「能緣」,被認識之客體對象為「所緣」。緣乃依賴、依靠、攀緣等意,即表示心識非獨自生起,必攀緣外境(客體對象)方能產生作用。唯識家又稱能緣為見分,所緣為相分,而以能緣之法分為見分、自證分、證自證分三者。能緣產生作用時,見分緣相分,自證分須緣見分、證自證分,證自證分緣自證分。此外,轉識論亦舉出能緣分為果報識(阿賴耶識)、執識(阿陀那識)、塵識(六識)等三種。〔成唯識論卷二、俱舍論卷七、成實論卷五立無數品〕

Ngũ độn sử      cinq passions illusoires     five afflictions that affect beginning practitioners    五鈍使    pañca-kleśa
Chỉ cho 5 loại phiền năo căn bản: tham, sân, si, mạn, nghi.
Năm thứ phiền năo này thường sai khiến tâm thần người tu hành, làm cho trôi nổi, lăn lộn trong 3 cơi nên gọi là Sử; và v́ rất khó trừ diệt nên gọi là Độn.

  即貪、瞋、癡、慢、疑等五種。此五者能驅使行者之心神,使其流轉於三界,故稱「使」,乃煩惱之異名。

Ngũ đ́nh tâm quán      cinq méditations    five meditations and four bases of mindfulness    五停心觀     
Năm pháp quán dứt trừ phiền năo mê hoặc.
1. Bất tịnh quán (aśubhā-smṛti): Quán tưởng thân ḿnh và thân người nhơ nhớp để trừ bỏ ḷng tham muốn.
2. Từ bi quán (Maitrī-smṛti): Cũng gọi là Từ tâm quán. Quán tưởng ḷng thương xót để đối trị với phiền năo oán giận.
3. Duyên khởi quán (Iidaṃpratyayatā-pratītyasamutpāda-smṛti): Cũng gọi là Nhân duyên quán. Quán tưởng 12 duyên khởi thuận và nghịch để đối trị phiền năo ngu si.
4. Giới phân biệt quán (dhātu-prabheda-smṛti): Cũng gọi là Giới phương tiện quán, Tích giới quán, Phân tích quán, Vô ngă quán. Quán tưởng các pháp 18 giới đều do hoà hợp của đất, nước, lửa, giớ, không và thức mà có để đối trị chấp ngă.
5. Sổ tức quán (Ānāpāna-smṛti): Cũng gọi là An na ban na niệm, Tŕ tức niệm. Đếm số hơi thở ra, thở vào để đối trị tầm, tứ tán loạn, giữ cho tâm dừng yên một chỗ.

  為息止惑障所修之五種觀法。又作五觀、五念、五停心、五度觀門、五度門、五門禪。即:(一)不淨觀(梵 aśubhā-smṛti),乃多貪之眾生觀想自他色身之不淨而息止貪欲之心。如觀想死屍青瘀等相以對治顯色貪,觀想鳥獸噉食死屍以對治形色貪,觀想死屍腐爛生蟲蛆之相以對治妙觸貪,觀想死屍之不動以對治供奉貪,及觀想白骨之骨鎖觀以對治以上之四貪。(二)慈悲觀(梵 maitrī-smṛti),又作慈心觀、慈愍觀。乃多瞋之眾生觀想由與樂拔苦而得之真正快樂,以對治瞋恚煩惱。(三)緣起觀(梵 idaṃpratyayatā-pratītyasamutpāda-smṛti),又作因緣觀、觀緣觀。乃觀想順逆之十二緣起,以對治愚癡煩惱。(四)界分別觀(梵 dhātu-prabheda-smṛti),又作界方便觀、析界觀、分析觀、無我觀。乃觀想十八界之諸法悉由地、水、火、風、空、識所和合,以對治我執之障。外道於身心常執為我而起我執,故於地、水、火、風、空、識六界起因緣假和合之分別,若觀無我,則能對治我執。此觀為聖道之方便,故稱界方便觀。(五)數息觀(梵 ānāpāna-smṛti),又作安那般那觀、持息念。即計數自己之出息、入息,以對治散亂之尋伺,而令心念止持於一境,為散亂之眾生所修者。此外,五門禪經要用法中以念佛觀(梵 buddhānusmṛti)取代界分別觀,而與其他四觀合稱為五門禪。所謂念佛觀,即念應身、報身、法身等三佛身,以次第對治昏沈暗塞障、惡念思惟障、境界逼迫障等三種障害。

Ngũ biến hành              五遍行    
Năm tâm sở biến hành : xúc, tác ư, thọ, tưởng, tư. Năm loại tâm lư này có mặt khắp trong tất cả mọi trường hợp tâm thiện, bất thiện và vô kư, nên gọi là biến hành.

 

Ngũ biệt cảnh              五別境    
Năm tâm sở biệt cảnh : dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. Năm loại tâm lư này chỉ xuất hiện trong những trường hợp và cảnh vực sai biệt, duyên vào từng đối tượng cụ thể mà sinh khởi ; chúng thay đổi hoặc quyết định xuất hiện trong từng trường hợp nhưng chúng không tách rời nhau, nhất định hỗ trợ nhau, khi một cái khởi th́ tất có bốn cái kia.

 

Ngũ căn          five faculties    五根    Pañcendriyāṇi
Năm loại gốc rễ phát sinh ra pháp lành, dẫn vào Thánh đạo. Gồm Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn và Tuệ căn.

 

Ngũ cái      cinq voiles     Five coverings    五蓋     pañca āvaraṇāni
C̣n gọi là Ngũ triền cái.
Triền là trói buộc. Cái nghĩa là che lấp. Ngũ triền cái là 5 thứ phiền năo trói buộc, che lấp tâm tính, làm cho pháp lành không sanh ra được.
1. Tham dục cái (rāga-āvaraṇa): Tham đắm ngũ dục là tài sản, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ không biết nhàm chán nên tâm tính bị che lấp.
2. Sân khuể cái (pratigha-āvaraṇa): Đối trước cảnh trái ư, ḷng tức giận nổi lên làm che lấp tâm tính.
3. Hôn miên cái (styāna-middha-āvaraṇa): Cũng gọi là Thuỵ miên cái. Hôn trầm và buồn ngủ khiến tâm tính li b́, không thể tích cực hoạt động.
4. Trạo cử ác tác cái (auddhatya-kaukṛtya-āvaraṇa): Cũng gọi là Điệu hư cái, Trạo hối cái. Sự chao động của tâm, hoặc lo buồn, ân hận đối với những việc đă làm, khiến tâm tính bi che lấo.
5. Nghi cái (vicikitsā-āvaraṇa): Đối với giáo pháp do dự không quyết đoán, chưa có niềm tin đối với Tam Bảo và cả đối với sự tu tập của bản thân.

 

Ngũ chủng pháp sư      cinq sortes de maîtres du dharma     five kinds of authorities of the doctrine    五種法師    
5 bậc pháp sư hay 5 bậc thầy có khả năng hoằng dương Phật pháp.
1. Thụ tŕ pháp sư: Người có khả năng tiếp nhận, tin tưởng vững chắc và ghi nhớ, giữ ǵn không quên lời dạy của Như Lai được ghi chép trong kinh luận.
2. Đọc kinh pháp sư: Người có khả năng ngồi ngay thẳng, trang nghiêm, giữ tâm chính niệm, mắt xem kinh văn mà tụng đọc mạch lạc, rơ ràng.
3. Tụng kinh pháp sư: Người có khả năng tụng đọc thuộc ḷng kinh văn, không cần phải xem sách mà không nhầm lẫn.
4. Giải thuyết pháp sư: Người có khả năng truyền dạy, giảng giải chính xác kinh điển.
5. Thư tả pháp sư: Người có khả năng biên chép, phiên dịch kinh điển để lưu truyền rộng răi cho đời sau.

 

Ngũ dục      cinq désirs     five desires    五欲    pañca kāmāḥ
Năm đối tượng của sự tham muốn:
1. Tài dục: Tham muốn tiền của.
2. Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp.
3. Danh dục: Tham muốn danh vọng, địa vị, quyền lực.
4. Thực dục: Tham muốn sự ăn uống.
5. Thuỳ dục: Tham muốn sự ngủ nghỉ.
Năm đối tượng khác của sự tham muốn là:
1. Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp.
2. Thanh dục: Đắm say âm thanh, âm nhạc, lời khen...
3. Hương dục: Đắm say mùi thơm quyến rũ.
4. Vị dục: Tham muốn vị ngon ngọt.
5. Xúc dục: Ham thích sự xúc chạm mịn màng, trơn láng.

  梵語 pañca kāmāḥ,巴利語 pañca kāmā。<一>又作五妙欲、妙五欲、五妙色。指染著色、聲、香、味、觸等五境所起之五種情欲。即:(一)色欲(梵 rūpa-kāma),謂男女之形貌端莊及世間寶物玄、黃、朱、紫等種種妙色,能使眾生樂著無厭。(二)聲欲(梵 śabda-kāma),謂絲竹與環珮之聲及男女歌詠等聲,能使眾生樂著無厭。(三)香欲(梵 gandha-kāma),謂男女身體之香及世間一切諸香,能使眾生樂著無厭。(四)味欲(梵 rasa-kāma),謂各種飲食肴饍等美味,能使眾生樂著無厭。(五)觸欲(梵 spraṣṭavya-kāma),謂男女之身有柔軟細滑、寒時體溫、熱時體涼及衣服等種種好觸,能使眾生樂著無厭。又相對於欲界粗弊之五欲,稱色界、無色界之五欲為「淨潔五欲」。〔佛遺教經、大智度論卷十七、卷三十七、摩訶止觀卷四下〕 <二>指財欲、色欲、飲食欲、名欲、睡眠欲。即:(一)財欲,財即世間一切之財寶。謂人以財物為養身之資,故貪求戀著而不捨。(二)色欲,色即世間之青、黃、赤、白及男女等色。謂人以色悅情A意,故貪求戀著,不能出離三界。(三)飲食欲,飲食即世間之肴饍眾味。謂人必藉飲食以資身活命,故貪求戀著而無厭。(四)名欲,名即世間之聲名。謂人由聲名而能顯親榮己,故貪求樂著而不知止息。(五)睡眠欲,謂人不知時節,怠惰放縱,樂著睡眠而無厭。〔華嚴經隨疏演義鈔卷二十七、大明三藏法數卷二十四〕

Ngũ giới      Cinq préceptes    Five precepts    五戒    Pañca śīlāni
Năm giới, năm nguyên tắc thực hành đạo đức.
1. Không giết hại
2. Không trộm cắp
3. Không quan hệ bất chính
4. Không nói dối
5. Không uống rượu.

  一不殺生戒,不殺生物也。二不偷盜戒,不取不與也。三不邪婬戒,不犯有看守者也。四不妄語戒,不為無實之言也。五不飲酒戒,不飲酒也。此五者在家之人所持,男子謂之優婆塞,女子謂之優婆夷。大毘婆娑論名為五學處。大莊嚴經名曰五大施。俱舍論名曰近事律儀。俱舍論十四曰:「受離五所應遠離,安立第一近事律儀。何等名為五所應離?一者殺生,二不與取,三欲邪行,四虛誑說,五飲諸酒。」㘝指持五戒之優婆塞而云五戒,如趙五戒,智舉五戒等。仁王經上曰:「有千萬億五戒賢者。


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27