Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Vô ưu thụ              無憂樹    Aśoka
Cây Vô ưu, tức cây A-du-ca, tiếng Phạm là aśoka, tiếng Pāli là asoka: Thực vật họ đậu. C̣n được gọi là cây A-du-kha, A-thúc-ca.
Cây này có tên khoa học là Jonesia asoka. Thân cây thẳng đứng, lá giống lá hoè, hoa màu hồng, rất đẹp. Cây mọc nhiều ở vùng Hi-mă-lạp sơn, Tích lan, Mă lai…
Theo lịch sử Phật giáo, Đức Thích tôn đă đản sinh ở dưới gốc cây này. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả, quyển 1, ghi: “Phu nhân nh́n thấy trong vườn ngự có một cây lớn, tên là Vô ưu, hoa nở rất đẹp và mùi hương rất thơm, cành lá rất tươi tốt, Ngài bèn đưa tay phải lên định hái một đoá hoa, th́ Bồ tát từ từ đản sanh phía bên hông phải”.
Tham khảo thêm: Kinh Đại bát-niết-bàn, quyển 32; Luận Đại trí độ, quyển 10; Đại đường Tây vực kí, quyển 6; Phiên Phạm ngữ, quyển 9; Phiên dịch danh nghĩa tập, quyển 3…

  (梵 aśoka,巴 asoka)豆科植物。又作阿輸柯樹、阿叔迦樹。意譯作無憂樹。學名Jonesia asoka 。樹幹直立,其葉似槐,花紅色,極鮮艶。多分布于喜馬拉雅山、錫蘭、馬來半島等地。相傳釋尊于此種樹下誕生。《過去現在因果經》卷一雲(大正3·625a)︰‘夫人見彼園中有一大樹,名曰無憂,花色香鮮,枝葉分布極爲茂盛,即舉右手,欲牽摘之,菩薩漸漸從右脅出。’<#>[參考資料] 《大般涅槃經》卷三十二;《大智度論》卷十;《大唐西域記》卷六;《翻梵語》卷九;《翻譯名義集》卷三。<#>

Vô công dụng      Sans effort    Without effort    無功用    An-ābhoga
Hay Vô công, Phạn an-ābhoga, dịch ư là không cần dụng công nữa, tức là không cần phải tạo tác thêm nữa, v́ đă có tác dụng tự nhiên. Cũng có nghĩa là không cần mượn thân, khẩu, ư mà vẫn có thể nắm vững nguyên tắc của đạo một cách tự tại. Từ Bồ-tát Bát địa trở xuống, mặc dù ở trong cảnh giới Chân như, nhưng chưa được tự tại. Từ Bồ-tát Bát địa trở lên, v́ đă thuần khiết vô lậu, nên rất tự tại, gọi là Vô công dụng đạo. Lại nữa, từ Bát địa trở lên đă nắm vững Vô công dụng trí, tự tại lợi sanh, gọi là Vô công dụng địa. Tuy nhiên, nếu căn cứ quả vị Phật mà nói, th́ từ Bát địa trở lên vẫn c̣n thuộc Hữu công dụng, chỉ có quả vị Phật mới là Vô công dụng.

  (梵 an-ābhoga,藏 lhun kgis-grub-pa)任運自然、不刻意造作、不加上意志的决定,謂之‘無功用’。略稱無功。爲‘有功用’之對稱。陳譯《攝大乘論釋》卷十四雲(大正31·262a)︰‘作意名功用,緣三世起,謂我已作、正作、當作,離如此作意名無功用。’又雲(大正31·262c)︰‘由修因及本願成熟,所作佛事皆自然成,無惓無難故言無功用。’皆將離作意而自然得成佛事稱爲無功用。<#>《佛性論》卷四舉出八地無功用之說,謂八地以前之菩薩,于真如之境未得自在;但八地以上之菩薩則完全無漏、任運續起,故名爲‘無功用道’。

Vô dư niết bàn      Nirvāṇa sans reliquat    Nirvāṇa without remainder    無餘涅槃    Nirupadhiśeṣa-nirvāṇa
C̣n gọi là Vô dư y niết-bàn.
Chỉ cho sự đoạn trừ hoàn toàn phiền năo chướng, diệt hết hoàn toàn quả khổ dị thục h́nh thành thân năm uẩn, hiển hiện niết-bàn hoàn toàn không có chỗ sở y.
Đại trí độ luận, quyển 31, nói: ‘Cảnh giới Vô dư niết-bàn là sự xả bỏ hoàn toàn năm uẩn, năm uẩn không c̣n hoà hợp, vĩnh viễn không c̣n thọ sanh trở lại’.
Đại t́-bà-sa luận, quyển 32, nói: ‘Sự tương tục của sắc thân, tâm, tâm sở pháp hoặc của thân, căn, giác đă đoạn trừ hoàn toàn, mọi phiền năo đă đoạn trừ vĩnh viễn, gọi là Vô dư y niết-bàn giới’.
Vô dư y là chỉ cho sự không c̣n y vào hai thứ: 1, Không c̣n y vào phiền năo (đă sạch hết phiền năo); 2, Không c̣n y sinh thân (không c̣n thân tái sinh).
Trung luận, quyển 3, nói: ‘Diệt hết nghiệp và phiền năo, đạt được tâm giải thoát, không c̣n tàn dư thân thể, tức là đạt Vô dư niết-bàn’.
Du-già sư địa luận, quyển 86, cho biết duyên do v́ sao mà gọi là Vô dư y niết-bàn. Luận nói: ‘Lại nữa, do diệt trừ hoàn toàn ba tướng trạng của các hành nên gọi là Vô dư y niết-bàn. Một là, v́ đă diệt trừ hoàn toàn các hành sinh khởi từ trước; hai là, đă diệt trừ hoàn toàn tự tính hoại diệt của các hành; ba là, đă diệt trừ vĩnh viễn tất cả phiền năo’.
Thành duy thức luận, quyển 13, nói ‘Niết-bàn vô dư y, tức chân như đă xuất ly khổ sinh tử, phiền nào đă hoàn bị diệt tận không c̣n, dư y cũng diệt, mọi thứ khổ bị dập tắt, nên được gọi là Niết-bàn’.



  為「有餘涅槃」之對稱。四種涅槃之一,九諦之一。新譯為「無餘依涅槃」。依,指依身,即人之身體。無餘依涅槃係指斷煩惱障,滅異熟苦果五蘊所成之身,而完全無所依處之涅槃。〔中阿含卷二「七車經」、大毘婆沙論卷三十二、大智度論卷三十一、瑜伽師地論卷十三、卷二十一、卷八十六、成唯識論卷十〕

Vô kí      neutre        無記    Avyākrita
Một trong 3 tính. Sự vật có tính thể trung dung, không ghi lại dấu ấn thiện, cũng không ghi lại dấu ấn ác, đồng thời chiêu cảm quả báo thiện hay ác không thể xác định được gọi là Vô kư.
Luận Câu-xá, ghi: 'Vô kư có nghĩa là, không thể xác định được tính chất thiện hay bất thiện. Thuyết khác nói, đối với quả dị thục (vipāka), chúng không xác định, nên gọi là Vô kư'.
Đại thừa nghĩa chương, ghi: 'Có hai cách hiểu về Vô kư. Thứ nhất là, đối với sự phân biệt quả báo, nghiệp này có tính chất trung dung, không thể xác định được quả báo là lạc hay khổ, cho nên gọi là Vô kư. Thứ hai là, đối với nghiệp trung dung, không thể xác định được là thiện hay ác, nên gọi là Vô kư'.

  三性之一。事物之性體中容,不可記為善,亦不可記為惡者。又感善果不可記,感惡果亦不可記者。俱舍論二曰:「無記者,不可記為善不善性,故名無記。有說,不能記異熟果,故名無記。」唯識論五曰:「於善不善損益義中,不可記別,故名無記。」大乘義章七曰:「解有二種:一對果分別,中容之業不能記得苦樂兩報,故名無記。二就說分別,中容之業如來不記為善為惡,故名無記。」

Vô lượng nghĩa xứ tam muội      samadhi du lieu des Sens infinis    The anantanirdeśapratiṣṭhāna samādhi    無量義處三昧    anantanirdeśapratiṣṭhāna-samādhi
Tam muội mà đức Phật đă vào khi Ngài muốn nói kinh Pháp hoa. Vô lượng là rất nhiều pháp môn tu tập, tức vô lượng nghĩa; Nghĩa xứ là chỗ nương của vô lượng nghĩa, tức Thực tướng. Tam muội Tược tướng vô tướng là chỗ sinh ra vô lượng pháp nghĩa, gọi là Vô lượng nghĩa xứ tam muội.

  梵語 anantanirdeśapratiṣṭhāna-samādhi。指佛陀欲說法華經時所入之三昧。無量,乃三乘、五乘等無量法門,即無量義;義處,乃無量義之依處,即實相。生出無量法義依處之實相無相三昧,稱為無量義處三昧。佛陀既已說無量義之後,將說實相,則於中間入此三昧,依所出之無量義,故為無量義經之三昧;依所歸之義處,則為法華經之三昧。〔法華經序品、法華文句卷二〕

Vô lậu      Sans perturbation mentale        無漏    Anāsravaḥ
Lậu là ṛ rỉ, tên khác của phiền năo. Các phiền năo tham, sân... ngày đêm từ cửa của 6 căn mắt, tai... ṛ rỉ ra không ngừng. Lậu cũng có nghĩa là rơi rớt, lọt xuống, phiền năo có khả năng khiến cho con người lọt xuống 3 đường ác, cho nên gọi là Lậu. Các pháp thanh tịnh, xa ĺa phiền năo nhiễm ô, được gọi là Vô lậu, như Niết bàn, Bồ đề và tất cả pháp có năng lực đoạn trừ phiền năo trong 3 cơi đều thuộc về vô lậu.

  漏者煩惱之異名,漏泄之義,貪瞋等之煩惱,日夜由眼耳等六根門漏泄流注而不止,謂之漏。又漏為漏落之義,煩惱能令人漏落於三惡道謂之漏。因之謂有煩惱之法云有漏,離煩惱之法云無漏。俱舍論二十曰:「諸境界中,流注相續,泄過不絕,故名為漏。」大乘義章五本曰:「流注不絕,其猶瘡漏,故名為漏。」法華文句一曰:「毘曇云:漏落生死。」

Vô minh      obscurité fondamentale    ignorance    無明    Avidyā
Tên khác của phiền năo. Nghĩa là không có trí tuệ, không thấy biết một cách đúng như thật, tức trạng thái tinh thần mờ tối đối với sự vật, không thông suốt chân lư và không thể lư giải rơ ràng sự tướng hoặc đạo lư, cũng tức là không thấu, không hiểu, không rơ sự thật, lấy ngu si làm tự tướng.
Kinh Tạp A hàm, đức Phật định nghĩa: “Thế nào là vô minh? Nếu chẳng biết kiếp trước, chẳng biết kiếp sau, chẳng biết cả kiếp trước lẫn kiếp sau; chẳng biết trong, chẳng biết ngoài, chẳng biết cả trong lẫn ngoài; chẳng biết nghiệp, chẳng biết báo, chẳng biết nghiệp báo; chẳng biết Phật, chẳng biết Pháp, chẳng biết Tăng; chẳng biết Khổ, chẳng biết Tập, chẳng biết Diệt, chẳng biết Đạo; chẳng biết nhân, chẳng biết pháp sinh khởi bởi nhân; chẳng biết thiện, bất thiện, có tội, không tội, tập, không tập; hoặc kém, hoặc hơn; nhiễm ô, hoặc thanh tịnh; phân biệt duyên khởi, tất cả đều chẳng biết; đối với sáu xúc nhập xứ không giác tri như thật, đối với các pháp này không thấy không biết, không hiện quán, bị si ám, không có minh, tối mù mịt, đó gọi là vô minh".

  謂闇鈍之心無照了諸法事理之明。即痴之異名也。本業經上曰:「無明者,名不了一切法。」大乘義章二曰:「於法不了為無明。」同四曰:「言無明者,痴闇之心。體無慧明,故曰無明。」俱舍論十曰:「明所治無明。(中略)其相云何?謂不了知諦寶業果。」(四諦三寶業因果報)。唯識論六曰:「云何為痴?於諸事理迷闇為性,能障無痴一切雜染所依為業。」

Vô minh lậu              無明漏    avidyāsrava
Một trong ba lậu. C̣n gọi là Vô minh phiền năo.
Chỉ cho phiền năo khiến chúng sanh hữu t́nh trôi lăn trong ba cơi.
Vô minh là gốc rễ căn bản khiến chúng sanh bị luân hồi sanh tử trong ba cơi không gián đoạn.

 

Vô ngại trí              無礙智    Asanga-jñāna
Trí tuệ của Phật, thông đạt tự tại, hễ phát tâm là biết liền, không nhờ phương tiện, không cần suy nghĩ, rơ suốt không ngại.

  謂佛智之通達自在也。法華經化城喻品曰:「如來無礙智。知彼佛滅度。及聲聞菩薩。如見今滅度。」涅槃經八曰:「如來不爾。悉知自地及以他地。是故如來名無礙智。」大集經一曰:「無礙智慧無有邊,善解眾生三世事。」無量壽經下曰:「佛眼具足,覺了法性,以無礙智為人演說。」勝鬘寶窟上末曰:「無礙智者,於世諦法知之自在也。」

Vô ngă      Impersonnalité    Impersonality    無我    anātman, anātmaka, nirātman, ni-rātmika, nairātmya
Ngă (ta) tức là vĩnh viễn bất biến (thường), độc lập tự tồn (nhất), là sở hữu chủ trung tâm (chủ), có năng lực chi phối (tể). Nghĩa là: Ta là cái chủ tể thường nhất, vĩnh viễn không thay đổi, tồn tại một cách độc lập, tức là cái linh hồn hoặc bản thể có thật.
Phật giáo không chấp nhận có một cái Ngă như thế, gọi là Vô ngă.
Vô ngă là một trong những giáo nghĩa căn bản của Phật giáo.
Phật giáo nói Vô ngă với mục đích phủ định quan niệm cho rằng vạn pháp có thật thể và có linh hồn tồn tại bất biến trong sinh mạng chúng sinh.
Trong Phật giáo, Vô ngă có hai loại:
1. Nhân vô ngă: con người do vay mượn năm uẩn hoà hợp mà thành, tuyệt đối không có một cái (ngă) chủ thể tồn tại thường hằng, bất biến.
2. Pháp vô ngă: các pháp do nhân duyên hoà hợp mà sanh, luôn luôn thay đổi, tuyệt đối không có một chủ tể thường hằng.
Phật giáo không thừa nhận có một cái ‘ngă’ là chủ thể thường hằng hoặc một ‘thực thể’ tồn tại bất biến. Phật giáo chủ trương tất cả các pháp là Vô ngă, và kiến lập ‘Chư pháp vô ngă’ làm một trong ba dấu ấn chứng nhận chánh pháp.
Các Kinh A-hàm đều nói 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới đều là giả hữu, không có thật thể, không tồn tại một cái ngă.
Vả chăng, để đối trị với bốn quan niệm điên đảo (tứ điên đảo) tịnh, lạc, ngă và thường của thế gian, Đức Phật dạy bốn niệm xứ (tứ niệm xứ) bất tịnh (thân), khổ (thọ), vô ngă (pháp) và vô thường (tâm).
Trong các bộ phái Phật giáo, th́ bộ phái Vātsī-putrīya (Độc-tử bộ) chủ trương trong sinh mạng có một cái ‘ngă không phải đồng nhất cũng không phải thoát ly năm uẩn’, tức là chủ trương ngă và pháp đều có thật, cho nên bị phê phán và gọi tên là ‘ngă pháp câu hữu tông’. Bộ phái Sarvāsti-vādin (Thuyết nhất thiết hữu bộ) th́ chấp nhận con người không có ngă, nhưng lại chủ trương tất cả các pháp là có thật, cho nên bị phê phán và gọi tên là ‘pháp hữu ngă vô tông’.
Đến thời kỳ Phật giáo đại thừa th́ cho rằng con người không có ngă mà các pháp cũng không có ngă, chủ trương ‘nhân vô ngă, pháp vô ngă’.
‘Nhân vô ngă, pháp vô ngă’ cũng c̣n gọi là ‘nhân không, pháp không’.
Kinh điển Phật giáo nguyên thuỷ thường dùng từ ‘vô ngă’, nhưng Phật giáo đại thừa đa phần dùng từ ‘không’. Cho nên cần biết rằng, ‘không’ tức là ‘vô ngă’.
Đại Trí độ luận nói: ‘Tất cả các pháp đều vô ngă. Trong các pháp không có chủ tể, không có tác giả, không biết, không thấy, không có người sinh ra, không có người tạo nghiệp… tất cả đều thuộc nhân duyên; v́ phụ thuộc vào nhân duyên cho nên không được tự tại, v́ không được tự tại cho nên vô ngă, không thể nào nắm bắt được cái tướng của ngă’.


  又云非我。常一之體,有主宰之用者為我,於人身執有此,謂之人我,於法執有此,謂之法我,於自己執有此,謂之自我,於他執有此,謂之他我。然人身者五蘊之假和合,無常一之我體,法者總為因緣生,亦無常一之我體,既無人我,無法我,則無自我他我,不待言矣。如此畢竟無有我,是究竟之真理也。金剛經曰:「通達無我法者,如來說名真是菩薩。」十地經論一曰:「無我智有二種,我空法空。」大乘義章二曰:「法無性實,故曰無我。」同三曰:「苦非我體,故名為無我。」俱舍光記二十六曰:「違我見故非我。」又曰:「非自在故非我。」又曰:「即蘊自體非我故非我,如言即舍非人。」止觀七曰:「為無智慧故,計言有我。以慧觀之,實無有我。我在何處?頭足支節,一一諦觀,了不見我。何處有人及以眾生?眾生業力機關,假為空聚。從眾緣生,無有宰主,如宿空亭。」原人論曰:「形骸之色,思慮之心,從無始來,因緣力故,念念生滅,相續無窮。如水涓涓,如燈焰焰。身心假合,似一似常。凡愚不覺之,執之為我。寶此我故,即起貪瞋痴等三毒。三毒擊意,發動身口,造一切業。」

Vô sở đắc          nothing to be attained    無所得    aprāptitva
Các pháp đều do nhân duyên mà sanh ra, vốn không có tự tính, v́ không tự tính nên không có tướng quyết định có được, gọi là vô sở đắc.

  體無相之真理心中無所執著,無所分別,是曰無所得。即空慧也,無分別智也。涅槃經十七曰:「無所得者,則名為慧。有所得者,名為無明。」又曰:「有所得者,名生死輪。一切凡夫輪迴生死,故有所見。菩薩永斷一切生死,是故菩薩名無所得。」智度論十八曰:「諸法實相中,決定相不可得故,名無所得。」仁王良賁疏中二曰:「有所得心者,取相之心也。無所得心者,無分別智也。」維摩慧遠疏曰:「無所得者,理中無情可得。此諸菩薩破去情相,到無得處,名為無所得。」又曰:「觀真捨情,名無所得。」

Vô sở hữu xứ      Troisième des quatre royaumes du monde du sans-forme    The third region in the realm of formlessness.    無所有處    ākiñcanyāyatana
Cảnh giới không có tâm sở hữu. Là tầng trời thứ 3 trong 4 tầng trời cơi Vô sắc.

 

Vô thường      Impermanent    Impermanent    無常    Anitya
Tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh, tuỳ thuộc 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt mà biến hoá đổi dời trong từng sát na, xưa có nay không, nay có sau không, chẳng lúc nào thường trụ, v́ thế nên gọi chung là Vô thường.

Xem bài Vô thường


  世間一切之法,生滅遷流,剎那不住,謂之無常。無常有二:一剎那無常,謂剎那剎那有生住異滅之變化也。二相續無常,謂一期相續之上有生住異滅之四相也。涅槃經一曰:「是身無常,念念不住,猶如電光暴水幻炎。」智度論二十三曰:「一切有為法無常者。新新生滅故。屬因緣故。」六祖壇經曰:「生死事大,無常迅速。」無常經曰:「未曾有一事不被無常吞。」㘝俗以為鬼名。陳裕詩曰:「一朝若也無常至,劍樹刀山不放伊。」

Vô trước       Essence des phénomènes est Vacuité        無著    Asaṅga
Vô trước (Asaṅga), sống vào khoảng 310-390, tổ sư phái Du-già hành (Yogācāra).
Ông là người Kiền-đà-la (Gandhāra), Bắc ấn. Ông cùng với người em là Thế thân, là hai nhân vật lịch sử trọng yếu của Phật giáo Ấn độ.
Lúc đầu, Vô trước xuất gia theo bộ phái Hoá địa (Mahiśāsaka, có thuyết nói là Tát-bà-đa bộ, Sarvāstivāda), nhưng sau một thời gian tu học ông nhận thấy giáo nghĩa của bộ phái này chưa thật sự được đầy đủ. Sau đó, ông theo học với La-hán Tân-đầu-lô (Piṇḍola) tu học phép Quán không của Tiểu thừa, mặc dù có sở đắc, nhưng ông chưa thoả măn.
Về sau, tương truyền, ông lên trời Đâu-xuất gặp Bồ-tát Di-lặc để học tập nghĩa Không của Đại thừa, từ đó ông mới thấy an tâm, đồng thời ngộ nhập được phép Quán không của ‘Duy thức vô cảnh’. Nơi Bồ-tát Di-lặc, Vô trước học được rất nhiều kinh luận Đại thừa.
Từ đó về sau tại Ấn độ mới thạnh hành pháp môn Đại thừa Pháp tướng duy thức, Thế thân trở thành một luận sư vô cùng trọng yếu trong nền triết học tư tưởng Phật giáo tiếp nối sau ngài Long thọ.
Vô trước là người đặt nền móng cơ bản và cũng là người chủ trương hoằng dương Pháp tướng duy thức tại Ấn độ. Căn nguyên của Pháp tướng duy thức học, theo như lời giới thiệu của Vô trước, là từ cuốn Du-già sư địa luận mà Bồ-tát Di-lặc giảng dạy cho ông.
Vô trước c̣n biên soạn Nhiếp đại thừa luận (Mahāyāna-saṃgraha), Hiển dương thánh giáo luận (Prakaraṇāryavācā-śāstra), Thuận trung luận, Kim cương kinh luận…


 

Vô uư thuyết              無畏說    
Vô úy thuyết: nói mà không hề do dự, sợ hăi; nói với sự xác tín, kiên quyết. Khi Tôn giả Xá-lợi-phất ca ngợi đức Phật rằng: «Trong quá khứ, trong tương lai, cũng như trong hiện tại, không thể có một (…) ai tối thắng hơn đức Thế Tôn…»; th́ bấy giờ đức Thế Tôn ấn chứng rằng lời nói của tôn giả Xá-lợi-phất thật sự là tiếng nói không sợ hăi, là tiếng rống của sư tử.

 

Vô úy      Absence de crainte    Fearlessness    無畏    Vaiśāradya, Abhaya
Không hề sợ hăi điều ǵ. Chỉ cho Phật và Bồ tát khi nói pháp có đủ tự tín, không hề sợ hăi điều ǵ, mạnh mẽ và an ổn.



 

Vô úy thí      Don de courage    Gift of fearlessness    無畏施    Abhayadăna
Cho sự không sợ hăi. Danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm, bởi Bồ tát luôn luôn xuất hiện vào những lúc chúng sinh gặp sự nguy hiểm, khổ đau để kịp thời cứu giúp, khiến chúng sinh thoát khỏi sự sợ hăi.

Người giữ giới, không có tâm giết hại, khiến người và vật không không sợ hăi, hoặc khi người và vật gặp tai nạn, ḿnh che chở cho họ khỏi sợ hăi.

 

Vô vi      inconditionné    Non-active    無為    asaṃskṛta
Không tạo tác, tức chẳng phải do nhân duyên tạo ra, là pháp tuyệt đối thường trụ, ĺa sinh diệt biến hoá. Vốn là tên khác của Niết bàn, nhưng đời sau, ngoài Niết bàn c̣n lập nhiều Vô vi, do đó có các thuyết như 3 vô vi, 6 vô vi, 9 vô vi.

  梵語 asaṃskṛta。無造作之意。為「有為」之對稱。即非由因緣所造作,離生滅變化而絕對常住之法。又作無為法(梵 asaṃskṛta-dharma)。原係涅槃之異名,後世更於涅槃以外立種種無為,於是產生三無為、六無為、九無為等諸說。

Xả      Équanimité        捨    Upekṣā
1. Gọi đủ là hành xả: Buông bỏ, tức không vướng mắc, không bám víu vào bất thứ ǵ.
2. Cũng gọi là Xả thụ, Bất khổ bất lạc thu (Aduḥkhāsukha-vedanā): Chỉ cho cảm giác ấn tượng của ư thức không khổ, không vui, là một trong ba loại cảm thụ.

 

Xá Lợi      Relique    Relic    舍利    Śarīra
Là những hạt, những viên hoặc những mảnh xương cốt c̣n lại sau khi hỏa táng.
Trước đây người ta không tin là có xá-lợi Phật. Măi đến năm 1898, ông W.C. Peppé, người Pháp, tiến hành khảo cổ tại vùng Pīprāvā, phía nam nước Népal, đă t́m thấy một cái hộp bằng đá khá lớn, trong đó có chứa hai cái b́nh bằng đá và vài dụng cụ bằng đá khác như tách trà… Hai h́nh đá một lớn một nhỏ đều có chứa những viên xá-lợi. B́nh đá nhỏ dạng h́nh cầu, chia thành hai phần thượng hạ. Nữa phần trên có h́nh tay cầm, khắc niên đại của vua A-dục bằng lối văn tự Brahmī, và người ta đă đọc được nội dung của nó như sau: “Đây là xá-lợi của Đức Phật. Phần xá-lợi này do bộ tộ Śākya, nước Śrāvastī phụng thờ”. Kết quả của việc khảo cổ này đă chứng minh những ǵ được ghi lại trong Kinh Trường A-hàm và rải rác ở những kinh khác về việc phân chia xá-lợi của Phật thành tám phần cho tám quốc gia cổ đại Ấn Độ sau khi Phật nhập niết-bàn là hoàn toàn sự thật.
Kinh ghi: “Sau khi Đức Thích tôn nhập niết-bàn ở rừng Śāla, thành Kuśinagara, xá-lợi của Phật được phân thành tám phần đựng trong tám tháp chia cho tám quốc gia phụng thờ, tháp thứ chín là cái b́nh, tháp thứ mười là tháp tro, tháp thứ mười một là tháp tóc, thờ tóc Thế Tôn khi c̣n tại thế (Trường A-hàm, kinh Du hành).
Theo Bồ-tát xử thai kinh, quyển 3, phẩm Vô thường, xá-lợi có hai loại: Toàn thân xá-lợi và toái thân xá-lợi. Toàn thân xá-lợi là sau khi chết, toàn thân không bị thối rữa, tự nhiên khô cứng lại thành thân kim cương bất hoại. Toái thân xá-lợi là một phần c̣n lại của cơ thể sau khi hỏa táng.
Theo Dục Phật công đức kinh th́ di cốt của Phật gọi thân cốt xá-lợi, c̣n giáo pháp của Phật thuyết gọi là pháp thân xá-lợi. Những xá-lợi này sẽ hiển thị sau khi Đức Phật diệt độ, giáo pháp và giới luật của Phật thuyết sẽ tồn tại măi ở thế gian, làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh.
Theo Pháp uyển châu lâm, quyển 40 th́ xá-lợi có ba loại: Xá-lợi xương màu trắng, xá-lợi tóc màu đen, nhục xá-lợi màu đỏ.
Từ xưa đến nay, tín đồ Phật tử vẫn thường lưu truyền và lễ bái ba loại xá-lợi của Phật là xá-lợi đảnh đầu, xá-lợi răng và xá-lợi ngón tay.
Kinh Kim quang minh, quyển 4, phẩm Xả thân, ghi rằng: “Xá-lợi là kết quả của quá tŕnh huân tu giới, định, tuệ, rất khó đạt được, cho nên nó là ruộng phước điền tối thượng”.
Luận Đại trí độ, quyển 59, nói: “Cúng dường xá-lợi Phật, cho dù nhỏ như hạt cải, cũng được phước báo vô lượng vô biên”. Luận này cũng cho biết, xá-lợi là kết quả tu tập sáu pháp ba-la-mật mà thành.
Tựu trung, xá-lợi là kết quả tự nhiên của quá tŕnh tu tập giới, định, tuệ và đạt được giải thoát. Tuy nhiên, quán sát hành động của chư Phật, chư Bồ-tát, chư vị Tổ sư… th́ xá-lợi được trang nghiêm bằng sự đại dơng mănh, phát ra sự đại thệ nguyện và tăng cường tâm ḿnh bằng sự đại từ bi, để bảo vệ chánh pháp và cứu độ chúng sanh.

 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27