Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Tam thế lưỡng trùng nhân quả                  
Các bộ phái Phật giáo đều phân chia 12 chi nhân duyên thành hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời, quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong đó, Vô minh và Hành là hai chi nguyên nhân của đời quá khứ; Thức, Danh sắc, Lục xứ, Xúc, Thọ là năm chi kết quả của đời hiện tại. Đây là lớp nhân quả thứ nhất, nhân quá khứ, quả hiện tại. Tiếp theo, Ái, Thủ, Hữu là ba chi nguyên nhân của đời hiện tại; cuối cùng, Sanh, Lăo tử là hai chi kết quả của đời vị lai. Đây là lớp nhân quả thứ hai, nhân hiện tại, quả tương lai. Như vậy, thuyết Tam thế lưỡng trùng nhân quả giải thích:
1. Vô minh là chỉ cho những phiền năo, những nhận thức sai lầm từ quá khứ.
2. Hành là những nghiệp thiện, nghiệp ác đă tạo từ quá khứ.
3. Thức là thức trong năm uẩn ở sát na đầu tiên khi nhập vào thai mẹ.
4. Danh sắc là 5 giai đoạn phát triển thai nhi trong bụng mẹ: Tuần lễ đầu tiên gọi là Kiết-thích-lam, Phạm Kalalaṃ, c̣n gọi là Ka-la-la, Yết-thích-lam, chỉ cho tinh cha và huyết mẹ bắt đầu kết hợp lại như tơ sương (phôi). Tuần lễ thứ 2 gọi là Án-bộ-đàm, Phạm Arbuda, c̣n gọi là A-bộ-đàm, tức thai nhi từ phôi chuyển thành phôi bào. Tuần lễ thứ 3 gọi là Bế-thi, Phạm Peśī, c̣n gọi là Tế-thi, Bế-thi, tức là phôi bào thành tế bào, có máu và thịt. Tuần lễ thứ 4 gọi là Kiện-nam, Phạm Ghana, c̣n gọi là Kiết-nam, tức là thai nhi h́nh thành. Từ tuần lễ thứ 5 đến tuần lễ thứ 38 gọi là Bát-la-xa-khư, Phạm Praśākhā, là giai đoạn các chi như tay, chân… h́nh thành.
5. Lục xứ là giai đoạn thai nhi trong bụng mẹ đă hoàn thành các căn mắt, tai…
6. Xúc là sự tiếp xúc giữa các căn với các trần sau khi thai nhi ra đời. Sự tiếp xúc này sẽ làm phát sinh tác dụng của nhận thức, nhưng ở đây chỉ là một cảm giác đơn thuần.
7. Thọ là cảm giác thấy vui, buồn, khổ đau, hạnh phúc, tác dụng của nhận thức phân biệt.
8. Ái, sự thèm khát, mong muốn.
9. Thủ, bằng mọi cách chiếm giữ, sở hữu để thoả măn ḷng tham muốn.
10. Hữu là do Ái dục và Thủ trước mà tạo nghiệp thiện, ác. Quá tŕnh tạo nghiệp thiện, ác tích luỹ và h́nh thành nên năng lực tập quán dấn đến sự thọ nhận quả báo ở tương lai.
11. Sanh, ở đây là nói đến sự thọ nhận quả báo ở tương lai, sự tái sanh sang đời khác.
12. Già chết là điều nhất định xảy ra đối với mọi sự hữu.
Nam phương Phật giáo và Đại thừa Phật giáo sau này (c̣n gọi là Bắc phương Phật giáo), đều phân tích 12 duyên khởi thành hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời. Đây là truyền thống thuyết pháp của hết thảy bộ phái Phật giáo. Tuy nhiên, Pháp tướng tông của Du-già hành pháp (hệ thống của ngài Hộ Pháp) lại phân tích 12 duyên khởi thành một lớp nhân quả liên hệ đến hai đời mà thôi, tức từ Vô minh đến Hữu, gồm 10 là nhân hiện tại; Sinh và Già chết là hai chi quả ở đời sau.
Theo trường phái Sarvāstivāda (Thuyết nhất thiết hữu bộ), 12 duyên khởi cũng được phân tích thành tam thế lưỡng trùng nhân quả, nhưng điểm đặc biệt của bộ phái này là chia 12 duyên khởi thành bốn loại khác nhau, gồm Sát-na duyên khởi, Liên phược duyên khởi, Phân vị duyên khởi và Viễn tục duyên khởi. Trong đó,
1. Sát-na duyên khởi: 12 duyên khởi cùng khởi tác dụng trong một sát-na.
2. Liên phược duyên khởi: Thuyết minh 12 duyên khởi tạo nên thân thể, tinh thần, luôn luôn thay đổi, tiến triển, biến hoá. Những hoạt động của thân và tâm mà chúng ta có thể kinh nghiệm được trong cuộc sống hằng ngày là y cứ vào mối quan hệ của loại Duyên khởi này mà phát sinh.
3. Phân vị duyên khởi: 12 chi duyên khởi được phân làm hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai.
4. Viễn tục duyên khởi: Nói rơ 12 chi duyên khởi không những chỉ biểu thị liên hệ trong ba đời, mà nhiều đời nhiều kiếp, từ vô lượng kiếp quá khứ đến vô biên kiếp vị lai.

 

Tam thừa      trois véhicules     three vehicles    三乘     trīṇi yānāni
Chỉ cho ba loại xe, ví dụ pháp môn vận chuyển chúng sinh vượt qua sinh tử đến bờ Niết bàn.
Để thích ứng với 3 loại căn cơ của chúng sinh là hạng chậm lụt (độn căn), hạng trung b́nh (trung căn) và hạng thông minh lanh lợi (lợi căn), đức Phật nói 3 thứ giáo pháp là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa.
1. Thanh văn thừa (śrāvaka-yāna): Nhờ nghe tiếng noi pháp của đức Phật mà được ngộ đạo nên gọi là Thanh văn. Hàng này tu pháp Tứ diệu đế.
2. Duyên giác thừa (pratyeka-buddha-yāna): Cũng gọi là Bích chi Phật thừa, Độc giác thừa. Nhờ quán xét 12 nhân duyên mà giác ngộ chân lư. Hạng này tu pháp 12 nhân duyên.
3. Bồ tát thừa (bodhisattva-yāna): Cũng gọi là Ddaị thừa, Như lai thừa. Cầu bồ đề vô thượng, nguyện độ tất cả chúng sinh, tu 6 pháp ba la mật và muôn hạnh.

  1. auditeurs-shravakas, pratyekabuddhas, bodhisattvas. Expression fréquemment utilisée pour désigner les disciples auxquels le Bouddha destine un enseignement provisoire. Dans le chapitre II du Sutra du Lotus, les trois chariots auxquels sont comparés ces san-jo sont remplacés par un chariot unique, incomparablement plus beau, celui du Bouddha lui-même. 2. Enseignements et pratiques propres au cheminement spirituel des auditeurs-shravakas, pratyekabuddhas, bodhisattvas.


Tam thân      trois corps    The threefold body    三身    Trayaḥ kāyāḥ
Cũng gọi là Tam thân Phật, Tam Phật thân, Tam Phật. Đó là Pháp thân, Báo thân, và Ứng hoá thân.
Thân có nghĩa là tụ tập. Tụ tập các pháp mà thành thân.
1. Sự tụ tập về lư pháp mà thành thân gọi là Pháp thân (Dhamra-kāya). Thân này vốn thanh tịnh, thường trụ vắng lặng, không sinh không diệt, đầy đủ công đức, b́nh đẳng nơi mỗi chúng sinh, gọi là Tự tính, là Như như, là Như như trí, là Pháp tính thân. Tức là cái thân chân thật của Phật, mà cũng là Tự tính thanh tịnh của mỗi chúng sinh, của cả pháp giới.
2. Sự tụ tập về trí pháp mà thành thân gọi là Báo thân (Saṃbhoga-kāya). Là thân công đức, tức là thân có được do sự tu tập thành tựu mọi công đức, đầy đủ tướng hảo trang nghiêm, thụ dụng pháp lạc vô biên, nên c̣n gọi là Thụ dụng thân.
3. Sự tụ tập các pháp công đức gọi là Ứng thân (Nirmāṇa-kāya). Là thân biến hoá theo căn tính của chúng sinh để mà giáo hoá. Chư Phật dùng thần lực không thể nghĩ bàn, biến hiện vô lượng, tuỳ theo các loài mà hoá thân, trụ ở các cơi tịnh uế, để giáo hoá chúng sinh.

  trois corps ou triple corps ou trois propriétés du corps de bouddha (san-jin ou honnu musa sanjin, trikaya). Concept adopté par le Mahayana pour organiser différents concepts du Bouddha qui apparaissent dans les sutras. Nichiren compare les trois façons d'envisager l'existence du Bouddha à la lune, au rayonnement de la lune et à son reflet dans l'eau et établit un parallèle entre la pensée, la parole et l'action. Ces trois corps, dont la présence est simultanée, sont les suivants :
- le corps de dharma ou le corps non-manifesté du Dharma (hosshin, dharmakaya, Body of the Law) : il s'agit d'un "corps" de boddhéité éternel et omniprésent. On l'appelle également corps de l'Ainsité. C'est la réalité ultime de la vie, le "corps cosmique" du Bouddha auquel se réfère Shakyamuni dans le chapitre XVI du Sutra du Lotus lorsqu'il parle de l'atemporalité de son Eveil. Mais c'est également le corps des bouddhas infinis de nature identique. Pourtant le simple mortel n'en a pas conscience.
- le corps de rétribution ou propriété de la sagesse ou corps de la fructification (hoshin, hoshinbutsu, 報身・
報身仏, sambhogakaya, Body of retribution) : c'est un reflet du corps de dharma. Pour en décrire 1'action libre et resplendissante, ainsi que la pureté de la perception, on use de l'expression "corps de rétribution qui spontanément reçoit et emploie" On l'appelle également corps de la joie bouddhique car il traduit le bonheur rayonnant du Bouddha à enseigner le Dharma. Il peut être envisagé de deux façons différentes : la sagesse et la gloire. Le corps de sagesse est celui de son enseignement. Le corps de gloire se reflète dans les innombrables hyperboles de la littérature et de l'art religieux de l'Extrême-Orient. Ainsi le Bouddha est doté de trente-deux marques de beauté caractéristiques. Pour signifier l'authenticité de ses paroles on dira qu'il tire une langue longue et large qui monte jusqu'au ciel de Brahma. Le Sutra du Lotus en parle ainsi de ce bouddha : "Il a pratiqué jusqu'à leur terme les innombrables méthodes portant sur la voie des Eveillés ; plein d'audace et d'énergie, son renom s'est universellement répandu" (yu myo sho jin myo sho fu mon) (réf.)
- le corps de manifestation ou corps de l'action (oshin, ojin, 応身・応身仏, nirmanakaya, Body of Condescension, Manifest body) : manifestation du Bouddha en tant que créature. C'est la mise en action du corps de rétribution. Le Corps manifesté peut être subdivisé en inférieur (retsu-ojin) et supérieur (sho-ojin), deux aspects différents manifestés par le Bouddha lorsqu'il agit pour le bien des êtres. Le Bouddha apparaît sous la forme du Corps manifesté supérieur lorsqu'il agit pour le bien des bodhisattvas ayant atteint ou dépassé la première étape de développement, la quarante et unième des Cinquante-deux étapes de la pratique de bodhisattva. Le Bouddha emprunte l'aspect du Corps manifesté inférieur lorsqu'il agit pour le bien du commun des mortels, des personnes des deux véhicules et des bodhisattvas n'étant pas encore parvenus à la première étape de développement.
Certaines conceptions du corps de manifestation peuvent aller jusqu'à signifier le choix d'incarnation auquel procéderait un Bouddha : ainsi le choix de naître sous la forme de Gautama en Inde. Shakyamuni dit de lui-même qu'il s'est montré "tantôt comme lui-même, tantôt comme un autre"(réf.) et qu'il peut apparaître sous les traits d'un enfant, d'un conjoint, d'un ami.
S'appuyant sur le principe qu'il n'y a pas de différence de substance entre un bouddha et un simple mortel Nichiren donne à la notion des trois corps une dimension très large et il parle alors des trois propriétés du Dharma : les propriétés du Dharma, de la sagesse et de l'action.

Tam thiền      Troisième niveau d'expérience méditative    Third meditation    三禪    Tri-dhyāna
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
Tam thiền có đủ 5 thiền chi: Xả, Niệm, Tuệ (Trí), Lạc, Nhất tâm.

  Le troisième niveau d'expérience méditative comprend 5 états:
- Développer l'équanimité
- L'établissement de l'attention
- La sagesse
- Le bonheur
- L'unification du sujet et objet

Tam thiền thiên          third meditation heaven    三禪天    Tri-dhyāna
Chỉ cho cơi Thiền thứ 3 trong 4 cơi thiền Sắc giới. V́ ĺa bỏ hủ của thiền thứ 2 th́ lại sinh lạc tĩnh diệu, nên cơi thiền này cũng gọi l à Ly hỷ diệu lạc địa. Cơi này chỉ có ư thức và có 2 cảm thụ lạc, xả tương ứng với ư thức. Tướng vui thích của ư thức ở cơi này cực kỳ tĩnh diệu nên gọi là Lạc thụ. Trong 18 tầng trời cơi Sắc th́ 3 tầng trời Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh chính là Tam thiền thiên.

 

Tam thiên đại thiên thế giới      trois mille mondes    one billion worlds    三千大千世界    Tri-sāhasra-mahā-sāhasra-loka-dhātu
Một thế giới hệ gồm ba ngàn Đại thiên thế giới.

Tập hợp bốn đại châu, mặt trời, mặt trăng và các cơi trời làm thành một thế giới. Một ngàn thế giới hợp lại thành một tiểu thiên thế giới (1000). Một ngàn tiểu thiên thế giới hợp lại thành một trung thiên thế giới (1000x1000). Một ngàn trung thiên thế giới hợp lại thành một đại thiên thế giới (1000x1000x1000 = 1.000.000.000 (1 tỷ thế giới).

Tam thiên đại thiên thế giới tức là 3 ngàn tỷ thế giới, là quốc độ hay phạm vi giáo hoá của một Đức Phật, gọi là Phật độ.

  abréviation de trichilio mégachiliocosme (san-zen daisen sekai, 三千大千世界, trisahasra mahasahasro lokhadatu) ; vision cosmique du bouddhisme d'après les sutras Agama. Un microcosme, est constitué de quatre continents entourant le soleil et la lune ou encore un Mont Sumeru et comportant neuf montagnes et huit océans, ainsi que le plan des désirs et le premier ciel de méditation au sein du plan de la forme. Mille microcosmes constituent un micro chiliocosme. Mille micro chiliocosmes constituent à leur tour un moyen chiliocosme qui, multiplié par mille donne un trichilio méga trichiliocosme (trois mille grands trois mille mondes).
Une autre définition du trichiliocosme (ichidai san-zenkai, 一大三千界, donne le calcul suivant : un "petit" monde serait plus ou moins un équivalent de notre monde dans la représentation indienne antique. Mille "petits" mondes forment un "monde moyen". Mille mondes moyens forment un "grand monde". On a donc non pas "trois mille mondes" mais mille mondes à la puissance trois.

Tam thí      trois sortes d'offrandes         三施     
Ba h́nh thức hay ba cách cúng dường, bố thí:
1. Tài thí: Tự ḿnh giữ giới, không xâm phạm đến tài vật của người khác, lại c̣n đem tài vật của ḿnh bố thí cho kẻ khác.
2. Pháp thí: Thuyết pháp cho mọi người nghe, khiến cho họ khai mở trí tuệ, thoát khổ được vui.
3. Vô uư thí: Người giữ giới không có tâm sát hại, không có tâm niệm ác, cho nên gần gũi với tất mọi loại chúng sinh mà chúng sinh không hề lo sợ, đó là ban cho chúng sinh sự không sợ hăi.
Ngoài ra, các kinh luận c̣n nói 3 loại bố thí khác, như Đại trí độ luận nói 3 loại thí là Vật thí, Tài thí (cho của cải), Cúng dường cung kính thí (dùng tâm tin tưởng, thanh tịnh cung kính lễ bái), Pháp thí (thuyết pháp); Hoa Nghiêm kinh sớ sao th́ nói: Ẩm thực thí (cho thức ăn, thấy người đói khát lập tức đem cơm nước cung cấp cho họ), Trân bảo thí (thấy người nghèo khổ, bần cùng th́ đem tiền bạc cho họ có vốn làm ăn), Thân mạng thí (đem cả thân mạng ḿnh cho chúng sinh).

  trois sortes d'offrandes (san-se, 三施) Plusieurs listes :
A. 1) offrande de biens : nourriture, médicaments, vêtements ; 2) offrande du Dharma :enseigner ou expliquer le Dharma ; 3) offrande de courage : sécuriser dans des circonstances difficiles.
B. 1) offrande de biens ; 2) offrande de vénération ; 3) offrande du Dharma.
C. 1) offrande de nourriture et de boisson ; 2) offrande de trésors rares ; 3) offrande de la vie.

Tam trí      trois sortes de sagesse    Three kinds of wisdom    三智    
3 thứ trí tuệ.
1. Nhất thiết trí: Trí biết rơ cái tướng chung của tất cả các pháp. Cái tướng chung ấy chính là Không tướng. Trí này là trí của hàng Thanh văn, Duyên giác.
2. Đạo chủng trí: Trí biết rơ tướng riêng của tất cả các pháp. Cái tướng riêng ấy tức là các thứ đạo pháp sai biệt. Trí này là trí tuệ của hàng Bồ tát.
3. Nhất thiết chủng trí: Tức trí biết rơ suốt tướng chung và tướng riêng, đó là Phật trí. Trí hiểu biết một cách trọn vẹn, hoàn hảo.

  trois sortes de sagesse, (san-chi, 三智). Selon le Daichido Ron ce sont :
- La sagesse des auditeurs-shravakas et des pratyekabuddhas (les deux véhicules) qui leur permet de comprendre l'aspect universel de tous les phénomènes
- La sagesse des bodhisattvas, qui leur permet de mener les êtres au salut en comprenant les aspects individuels de tous les phénomènes
- La sagesse du bouddha, qui comprend à la fois l'aspect universel et l'aspect individuel de tous les phénomènes ainsi que le véritable principe qui les régit.
Dans l'enseignement de Zhiyi, une personne obtient les trois sortes de sagesse par la méditation qui permet de percevoir l'unification des trois vérités en un seul esprit (en yu no sangan). On appelle cela les trois sortes de sagesse en un seul esprit (isshin sanshi). Par la perception de la vérité de la non-substantialité (kutai), une personne obtient la sagesse des deux véhicules ; par la perception de la vérité de la temporalité (ketai), une personne acquiert la sagesse des bodhisattvas ; et par la perception de la vérité de la voie du milieu (chutai) une personne obtient la sagesse de bouddha.

Tam vô lậu học      Trois disciplines     Three uncontaminated studies    三無漏學    Tisraḥ śikṣāh
Lậu có nghĩa là phiền năo. Tam vô lậu học có nghĩa là ba môn học giúp hành giả vượt thoát khỏi sự trói buộc của phiền năo, hoàn toàn được tự do, tự tại. Lậu c̣n có nghĩa là rơi rớt, v́ vậy, tam vô lậu học c̣n là phương tiện giúp hành giả không c̣n bị rơi rớt trong ba cơi, tâm không c̣n bị ràng buộc bởi mọi lậu hoặc, khổ đau. Đây là ba môn học đoạn trừ phiền năo, chứng nhập quả vị niết-bàn, giải thoát hoàn toàn; là ba môn học căn bản, nền tảng của hệ thống giáo lư Phật giáo mà nguyên thuỷ hay đại thừa đều nói đến, đó chính là Giới - Định - Tuệ.
- Giới vô lậu học. Trong kinh Tạp A-hàm, đức Thế Tôn định nghĩa: “Tỳ-kheo an trú trong pháp Ba-la-đề-mộc-xoa, đầy đủ oai nghi và tế hạnh, cẩn trọng sợ hăi ngay cả với những lỗi nhỏ nhặt, cho nên học và thọ tŕ đầy đủ các giới, như vậy gọi là giới vô lậu học”.
- Định vô lậu học. Kinh Trung A-hàm, đức Phật định nghĩa: “Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác và quán (c̣n gọi là tầm và tứ), ly sanh hỷ lạc, chứng từ sơ thiền đến tứ thiền, gọi là định vô lậu học”.
- Tuệ vô lậu học. Đức Phật dạy: “Hiểu một cách đúng đắn về khổ thánh đế, tập thánh đế, diệt thánh đế và đạo thánh đế, như vậy gọi là tuệ học vô lậu”. Kinh Tương Ưng V cũng định nghĩa tuệ học vô lậu như là sự quán triệt và thấy biết “thế nào là khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ và các phương pháp để diệt tận khổ”.
Kinh Phật Tự Thuyết th́ định nghĩa tuệ học chính là “sự hiểu rơ về giáo lư Nhân duyên hay Duyên khởi”. Theo đó, tuệ vô lậu là sự nhận thức được nguyên lư “do cái này có mặt nên cái kia có mặt. Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt. Do cái này sinh nên cái kia sinh. Do cái này diệt nên cái kia diệt”.

  trois disciplines ou trois sortes d'étude (san-gaku, 三學). Les trois éléments de la pratique qu'un bouddhiste doit maîtriser. Ce sont les préceptes, la méditation et la sagesse. Cela comprend tous les aspects de la doctrine et de la pratique bouddhiques.
- La fonction des préceptes (kai, 戒, sila) est de repousser l'injustice et d'arrêter le mal, en pensées, paroles et actions.
- La méditation (jo, 定, dhyana) a pour but de permettre à l'esprit de se concentrer et de s'apaiser.
- La fonction de la sagesse (e, 慧, prajna) est de libérer une personne de ses illusions et de lui permettre d'accéder à la vérité.
Nichiren assimile les trois disciplines, à l'époque des Derniers jours du Dharma, aux Trois grands Dharmas cachés en identifiant les préceptes au kaidan, la méditation au gohonzon et la sagesse au daimoku.

Tam-muội      concentration-extatique    Samādhi    三昧    samādhi
Trạng thái thiền định. Cảnh giới thiền định.
Trong kinh Phật, từ Samādhi được dịch là Đẳng tŕ thời, 'đẳng' là giữ cho tâm được b́nh đẳng an lành, không để cho lao xao, lay động; 'tŕ' là chuyên tâm ở một cảnh, không tán loạn, gọi là Tâm nhất cảnh tính.
Nói chung, việc tu hành cốt yếu là chuyên tâm chú ư ở một chỗ, không để tán loạn mà phài giữ cho tâm an tĩnh, trạng thái này gọi là Tam muội. Khi đạt đến trạng thái Tam muội th́ liền phát khởi trí tuệ mà khai ngộ chân lư.

  littéralement "l'état de l'esprit qui se contient lui-même" : deux interprétations 1) état de recueillement profond ("recueillement accompli") et exempt de toute pensée obtenu par la méditation ; dans ce sens le dhyana est un moyen pour arriver au résultat qui est samadhi.
2) samadhi = dhyana = concentration de la pensée sur un seul objet avec une grande intensité. Le Sutra Mahaprajnaparamita dénombre 108 samadhi différentes. Le Sutra du Lotus en cite une vingtaine.

Tà kiến              邪見    mithyā-dṛṣṭi
Đó là các quan điểm bài bác nhân quả, hoặc bài bác tác dụng, hoặc phá hoại các việc lành. Tự tính của nó là làm nhiễm ô tuệ.
Bài bác nhân là sao ? Tự tính của nhân là nghiệp và phiền năo, tổng cộng có 5 thứ : phiền năo có 3 thứ là vô minh, ái và thủ ; nghiệp có 2 thứ là hành và hữu. Hữu tức là những nghiệp chủng tử (hạt giống của nghiệp) nằm trong thức a-lại-da, c̣n gọi là nghiệp. Như trong kinh Đức Thế Tôn dạy : ‘Này A-nan ! Nếu nghiệp có khả năng đưa tới quả báo ở vị lai, th́ nó cũng được gọi là hữu’. Bài bác hết tất cả những điều này th́ gọi là bài bác nhân.
Bài bác quả là sao ? Quả có 7 thứ, đó là thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, sinh, và già chết. Bác bỏ hết những thứ này th́ gọi là bài bác quả.
Hoặc cho rằng không có việc thiện, việc ác gọi là bài bác nhân ; cho rằng không có quả báo của việc thiện, việc ác gọi là bài bác quả. Hoặc cho rằng không có đời này, đời sau, không có cha, không có mẹ, không có chúng sinh hoá sinh… sự bài bác này gọi là bài bác tác dụng. Nghĩa là, tác dụng từ đời này sang đời khác, tác dụng duy tŕ chủng tử, tác dụng kết sinh tương tục…
Cho rằng ở đời không có A-la-hán là phá hoại việc thiện.
Nghiệp dụng của tà kiến là đoạn mất thiện căn, làm sở y cho bất thiện căn thêm kiên cố, khiến cho thiện căn không phát triển, bất thiện căn càng thêm phát triển.


 

Tàm              慚    hrī
Do tôn trọng bản thân hay tôn trọng pháp mà có sự xấu hỗ về lỗi lầm của ḿnh. Lỗi lầm là sự xấu xa bị người hiền chê trách, và do kết quả không mong muốn. Với lỗi lầm ấy, đă làm hay chưa làm, mà tâm co rút lại, xấu hỗ, gọi là tàm.
Đại thừa ngũ uẩn luận định nghĩa: Tàm là ǵ ? Tự tính của nó là do tôn trọng bản thân hay tôn trọng pháp mà có sự hỗ thẹn về những tội lỗi của ḿnh làm.
Tội lỗi là những lỗi lầm, bị người trí chê trách. Hỗ thẹn là không làm những điều tội lỗi nữa.
Nghiệp dụng của tàm là đ́nh chỉ và ngăn chặn hành vi xấu ác.


 

Tác tŕ              作持    
Tác là tạo tác, tức khích lệ thân, khẩu và ư tạo tác các thiện nghiệp. Nhờ vào tạo tác mà bảo tŕ được giới thể, nên gọi là tác tŕ. Tác tŕ giới dạy mọi người làm tất cả các việc thiện (chúng thiện phụng hành).

 

Tâm          heart, mind, spirit, motive, sense, mentality, idea    心    citta
① Tim, đời xưa cho tim là vật để nghĩ ngợi, cho nên cái ǵ thuộc về tư tưởng đều gọi là tâm. Như tâm cảnh 心境, tâm địa 心地, v.v. Nghiên cứu về chỗ hiện tượng của ư thức người gọi là tâm lí học 心理學. Phật học cho muôn sự muôn lẽ đều do tâm người tạo ra gọi là phái duy tâm 唯心. Nhà Phật chia ra làm nhiều thứ, nhưng rút lại có hai thứ tâm trọng yếu nhất: 1) vọng tâm 妄心 cái tâm nghĩ ngợi lan man sằng bậy, 2) chân tâm 真心 cái tâm nguyên lai vẫn sáng láng linh thông, đầy đủ mầu nhiệm không cần phải nghĩ mới biết, cũng như tấm gương trong suốt, vật ǵ qua nó là soi tỏ ngay, khác hẳn với cái tâm phải suy nghĩ mới biết, phải học hỏi mới hay. Nếu người ta biết rơ cái chân tâm (minh tâm 明心) ḿnh như thế mà xếp bỏ sạch hết cái tâm nghĩ ngợi lan man sằng bậy đi th́ tức th́ thành đạo ngay. (Từ điển Thiều Chửu)

Xem bài nói về Tâm


 

Tâm hành      actes mentaux    activities of the mind    心行    citta-carya
1. Chỉ cho tác dụng, hoạt động, trạng thái, biến hoá của nội tâm, như vui, buồn, mừng, lo, sợ hăi... những hoạt động tâm lư của con người không ai giống ai.
2. Chỉ cho đối tượng của tâm, tức phạm vi tác dụng của tâm.
3. Chỉ cho chí hướng, tâm nguyện, quyết tâm...
4. Chỉ cho ư thức phân biệt, vọng tưởng, sự tính toán so đo từ tâm dấy động lên.
5. Tâm và Hành gộp chung lại. Trong Tịnh độ tông, an tâm và khởi hành, gọi là Tâm hành tha lực; c̣n bồ đề tâm và các loại thiện hạnh (phát tâm tu hành) th́ gọi là Tự lực tâm hành.

  actes mentaux ou actes psychiques (shingyo, 心行). L'activité de l'esprit, le fait que diverses pensées se succèdent et occupent l'esprit. Le bouddhisme les compare à un singe qui saute de branche en branche. Le but de la méditation est de prendre conscience de cette activité puis de la contôler.

Tâm sở          mental factors    心所    caitta, caitasika
C̣n được gọi là Tâm sở hữu pháp (sa. caittadharma), là những yếu tố phụ thuộc vào Tâm, gắn liền với một nhận thức (sa. vijñāna) – nhận thức đây cũng được gọi là Tâm vương (sa. cittarāja), là hoạt động tâm thức chủ yếu – đang sinh khởi và khởi lên đồng thời với nhận thức đó. Các Tâm sở miêu tả tất cả những khía cạnh tâm trạng mà ai cũng có thể tự khám phá, t́m được nơi chính ḿnh – có thể gọi là bản đồ tâm lí của con người.
Duy thức tông liệt kê 51 loại tâm sở.

 

Tâm vương          mind-king    心王    caitta, caitasika
Vua tâm, tức chỉ cho chủ thể của 6 thức hoặc 8 thức.
Thuyết nhất thiết hữu bộ cho thể tính của 6 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư là một, cho nên chủ trương Tâm vương chỉ một (chỉ có một Tâm mà thôi).
Tông Pháp tướng (Duy thức tông) th́ cho rằng 8 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, mạt na (thức thứ 7), a lại da thức (thức thứ 8) đều có thể tính riêng, cho nên chủ trương có 8 loại Tâm vương.

 

Thất bảo       Sept bijoux, trésors    Seven jewels, tresors    七寶    Sapta ratnāni
Bảy thứ ngọc báu quư giá ở thế gian. Các kinh nói về bảy thứ báu khác nhau. Theo Kinh A-di-đà và luận Đại trí độ, bảy thứ báu là vàng, bạc, lưu li, pha-lê, xa cừ, xích châu và mă năo. Theo kinh Pháp hoa quyển 4, bảy thứ báu là vàng, bạc, lưu li, xa cừ, măn năo, chân châu, mai khôi.

  Les sept trésors, bijoux précieux :
- Or (suvaṇṇa/ suvarṇa),
- Argent (rūpīya/ rūpya),
- Béril (veluriya/ vaiḍurya),
- Perle (phalika / sphaṭika),
- Émeraude (masāragalla/ musāragalva),
- Rubis (lohitanka/ lohitamukæika),
- Agate (asama/ aśmagarbha).

Thất giác chi      sept bodhyanga        七覺支    saptabodhyaṇgāni
Thất giác chi, tiếng Phạm saptabodhyaṇgāni: Bảy pháp tu hành hướng đến quả vị giác ngộ. Trong 7 khoa phần của 37 phẩm đạo, 7 pháp này thuộc khoa phần thứ 6. Tên gọi đầy đủ là Thất đẳng giác phần, hoặc Thất biến giác chi, c̣n gọi là Thất bồ đề phần, Thất giác phần, Thất giác ư, Thất giác…
1. Trạch pháp giác chi, Phạm dharma-pravicaya-sambodh-yaṅga: Trạch có nghĩa là lựa chọn, dùng trí tuệ quán sát các pháp để phân biệt pháp nào chân thật, pháp nào giả dối, để không bị lầm lẫn nắm giữ những pháp hư nguỵ để tu tập.
2. Tinh tiến giác chi, Phạm virya-sambodh-yaṅga: Tinh là không tạp nhiễm, là thanh tịnh; tiến là không gián đoạn. Đối với sự tu tập, luôn luôn nỗ lực tinh tiến, không bao giờ lười biếng hay có ư niệm bỏ cuộc. Nhưng sự nỗ lực tinh tiến này hoàn toàn có trí tuệ, không nỗ lực làm những việc vô ích, như khổ hạnh ép xác, mà nỗ lực tinh tiến trong chánh pháp, chuyên tâm nhất ư, không dừng nghỉ.
3. Hỷ giác chi, Phạm prīti-sambodh-yaṅga: Hỷ là vui vẻ, hoan hỷ. Tâm khế ngộ với pháp chân thật cho nên đạt được niềm an vui, hạnh phúc; biết rơ pháp này không phải là pháp điên đảo, do đó càng vui thích hơn khi được an trú trong chính pháp.
4. Khinh an giác chi, Phạm praśrabahi-sambodh-yaṅga: C̣n gọi là Trừ giác chi. Trừ có nghĩa là đoạn trừ, cắt đứt. Tức là đoạn trừ tất cả mọi nhận thức sai lầm, phiền năo và ḿnh biết rơ ḿnh đă đoạn trừ được tất cả các pháp hư nguỵ, thiện căn càng tăng trưởng trong chính pháp.
5. Xả giác chi, Phạm upekṣā-sambodh-yaṅga: Xả là từ bỏ, tức là từ bỏ tất cả những nhận thức, những vướng mắc, tham muốn ngoại cảnh, nhận biết rơ ràng ḿnh không c̣n theo đuổi hay nhớ nghĩ đến các pháp hư nguỵ, không thật.
6. Định giác chi, Phạm samādhi-sambodh-yaṅga: Định là thiền định, tức là khi hành giả tu tập đạt được thiền định th́ phát sinh khả năng nhận biết ở trong các thiền không có phiền năo, vọng tưởng.
7. Niệm giác chi, Phạm smṛiti-sambodh-yaṅga: Niệm là ghi nhớ, tức là hành giả tu tập các pháp, phát sinh khả năng nhận biết, ghi nhớ các pháp khiến cho định và tuệ bằng nhau, không hôn trầm, không trạo cử.

  sept bodhyanga (shichi-kakushi ou shichi-bodaibun, 七覚支・七菩提分). Sept facteurs d'aide à la pratique pour atteindre l'éveil ; sept capacités que le pratiquant est appelé à développer. Ce sont :
1) mémoire : capacité de garder présent à l'esprit ses décisions par rapport à la pratique ; souvenir lucide de son passé ; 2) discrimination : capacité de distinguer le vrai du faux ; capacité de faire le tri de ses propres illusions ; 3) effort : autodiscipline qui permet de surmonter le découragement et la paresse ; 4) joie : capacité de se réjouir des bienfaits de la pratique ;
5) légèreté : capacité de ne pas considérer les épreuves de la vie comme un fardeau insurmontable, facilité avec laquelle on retrouve la paix intérieure ; 6) méditation : capacité de garder un esprit concentré et imperturbable ;
7) équanimité : capacité d'abandonner ses attachements.



Thất lậu              七漏    
7 thứ phiền năo.
1. Kiến lậu: Những phiền năo do nhận thức sai lầm, do hiểu biết lầm lạc (là năm thứ nhận thức sai lầm: ngă kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến (xem mục Ngũ kiến). Những phiền năo này sẽ được đoạn trừ khi thấy chân lư, thấy rơ bốn sự thật (kiến đạo).
2. Tu lậu: Các phiền năo tham, sân, si (hay những phiền năo mà chỉ có sự tu tập mới đoạn trừ được (tu đạo).
3. Căn lậu: Các phiền năo nương vào các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... mà sinh ra.
4. Ác lậu: Các phiền năo nương vào tất cả những việc ác, pháp ác... mà sinh ra.
5. Thân cận lậu: Các phiền năo nương vào 4 thứ gần gũi là quần áo, thức ăn uống, thuốc thang và pḥng xá mà sinh ra.
6. Thụ lậu: Thụ gồm khổ thụ, lạc thụ, xả thụ có công năng sinh ra tham, sân, và si.
7. Niệm lậu: Những ư niệm tà vạy.

 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27