Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Phật      Bouddha    Buddha    佛    Buddha
Gọi đủ là Phật đà: Người giác ngộ chân lư, là bậc Đại thánh đầy đủ sự tự giác ngộ, giúp người khác giác ngộ, và có phương pháp để đạt được sự giác ngộ một cách viên măn.
Phật là người thấy biết tính và tướng của hết thảy các pháp đúng như thật, thành tựu Đẳng chánh giác, là quả vị cao nhất của Phật giáo.

  Littéralement l’Éveillé. Trois significations relativement différentes :
- Le Bouddha historique, fondateur du bouddhisme, Shakyamuni.
- Des bouddhas du Mahayana tels que Amida, Vairocana, ou des bouddhas d’un passé antéhistorique comme par exemple Taho. Généralement ces bouddhas illustrent des qualités spécifiques de l’Eveil et sont, le plus souvent, à considérer d’un point de vue symbolique ou comme objets de méditation.
- bouddha, celui qui a réalisé l’Eveil bouddhique. En Inde, ce terme désignait à l'origine tout être qui avait acquis une sagesse ou des "pouvoirs" supérieurs à celui des simples mortels. Après Shakyamuni il en vint à signifier "celui qui s'est éveillé à la vérité ultime de la vie". Dans la doctrine theravada, il désigne celui qui a atteint le stade de nirvana où le corps aussi bien que l'esprit se sont éteints. Le Mahayana provisoire enseigne en général que l'on ne peut devenir bouddha qu'après avoir détruit les illusions au cours d'éternités de pratiques austères et méritoires, en acquérant progressivement les trente-deux caractéristiques d'un bouddha.
Le Sutra du Lotus met l'accent sur des qualités plus spirituelles, dont voici les principales :
1) Le bouddha perçoit le véritable aspect de tous les phénomènes et guide les hommes pour les faire parvenir au même Eveil et les délivrer ainsi de leurs souffrances.
2) Le bouddha possède les trois vertus de souverain, maître et parent (santoku).
3) Le corps du bouddha est doté de trois propriétés (sanjin)
4) Le bouddha s'est libéré des illusions et perçoit la vie au delà des dualités : vie/mort, sujet/objet, bien/mal, etc.
5) Le bouddha se situe en dehors des notions du temps et de l'espace.
6) Le bouddha est inhérent à la vie-même et latent en tout être.

Phật A Di Đà      Bouddha Amitabha    Amitabha Budha    阿彌陀佛    Amitābha Budha
Đức Phật A-di-đà là vị giáo chủ thế giới Cực Lạc nằm ở phương Tây của thế giới này, c̣n gọi là thế giới Tịnh độ. A-di-đà dịch ư có nghĩa là vô lượng quang (ánh sáng vô lượng, biểu trưng cho trí tuệ rộng lớn), vô lượng thọ (tuổi thọ không hạn lượng, biểu thị định lực thâm sâu), và vô lượng công đức (biểu thị giới đức giải thoát). Hiện nay, Ngài cùng với hai vị Bồ-tát là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đang giáo hóa chúng sinh ở Tịnh độ Cực Lạc. Quư Ngài có bi nguyện vĩ đại là tiếp độ tất cả những chúng sinh về thế giới Cực Lạc.

Theo kinh Vô lượng thọ, trước khi thành đạo, Phật A-di-đà vốn là một vị vua, nhờ được Đức Phật Thế Tự Tại khai thị mà phát tâm xuất gia cầu đạo vô thượng, có pháp danh là Pháp Tạng. Trong khi tu hành, Tỳ-kheo Pháp Tạng đă quan sát 210 ức cơi Tịnh độ của chư Phật và những hạnh thanh tịnh để thành tựu cơi nước vi diệu đó, rồi phát ra 48 đại nguyện, thệ nguyện kiến lập một thế giới trang nghiêm, cực lạc, để cứu độ tất cả chúng sinh niệm danh hiệu của Ngài. Trải qua vô số kiếp nỗ lực tu tập, một ḷng chuyên chí trang nghiêm Tịnh độ, cho nên, cách đây mười kiếp, Tỳ-kheo Pháp Tạng đă thành Phật, hiệu là A-di-đà, cơi Tịnh độ tên là Cực Lạc, nằm ở Phương tây, cách thế giới Ta-bà khoảng mười vạn ức cơi Phật. Bởi 48 lời thề nguyện sâu xa và rộng lớn, mà đặc biệt là điều nguyện thứ 18: "Nguyện khi Ta (Phật A-di-đà) thành Phật, tất cả chúng sinh trong mười phương nếu có ḷng tin và ưa muốn sinh về thế giới của Ta, th́ chỉ cần niệm từ một đến mười danh hiệu "Nam-mô A-di-đà Phật" ; nếu không được văng sinh th́ Ta thề không giữ ngôi Chánh giác", nên sau khi Ngài thành Phật (Ngài đă thành Phật cách đây mười kiếp), bất kỳ chúng sinh nào hội đủ ba yếu tố: tin tưởng, nguyện cầu và thực hành niệm Phật, niệm Phật đúng như pháp, th́ nhất định được Đức Phật A-di-đà và các Bồ-tát đến tiếp dẫn về thế giới Tịnh độ Cực Lạc.
Bi nguyện của Phật A-di-đà cực kỳ rộng lớn, từ tâm của Ngài cực kỳ sâu xa, mà pháp môn niệm Phật th́ rất dễ thực hành, cho nên rất nhiều người đă chọn pháp môn này để thực hành, nguyện cầu được sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Sinh về đó là nấc thang thoát ly sinh tử luân hồi để cho chúng ta bước lên địa vị cứu cánh giải thoát.

Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà được gọi là Cực Lạc, bởi v́ ở thế giới đó hoàn toàn không có sự khổ đau, không có cảnh sinh, già, bệnh, chết... chúng sinh ở cơi đó chỉ sống trong hạnh phúc và luôn được nuôi dưỡng bởi chính pháp cho đến ngày thành Phật.

  Le Bouddha Amitabha est le chef spirituel du monde Suprême situé à l’ouest de ce monde, appelé aussi la Terre Pure.

Amitabha signifie lumière infinie (représentant un esprit très large et profond), vie infinie (forte médiation), bienfaits infinis (immence délivrance). Actuellement le Bouddha Amitabha en compagnie des deux bodhisattvas Avalokiteshvara et Mahasthamaprapta sont en train de convertir les êtres dans la Terre Pure. Ils ont le pouvoir immense d’accueillir tous les êtres dans la Terre Pure.

Selon le sũtra du mahăyăna sur Vie-Infinie, avant d’atteindre l’éveil le Bouddha Amitabha était un roi qui avait suivi le chemin du culte sous l’égide du Bouddha à cette époque. Avec comme nom de baptême Phap Tang, pendant son apprentissage il a découvert 210 régions de Terre Pure et les pratiques de sérénité pour y parvenir ; il a émis 48 voeux aboutissant à la création d’un monde suprême et solennel afin de sauver tous les êtres qui implorent son nom. Après d’innombrables existences d’apprentissage et de détermination vers la Terre Pure, le moine Phap Tang est devenu Bouddha Amitabha, depuis 10 existences, dans la région Suprême de la Terre Pure située à l’ouest d’un monde éloigné du monde de Saha d’environ 10000 mondes bouddhiques. Grâce aux 48 voeux grands et profonds, en particulier le voeu 18 : " Quand je deviendrai Bouddha je ferai en sorte que les êtres de toute part qui croient et émettent le désir de renaître dans mon monde n’auront qu’à réciter de une à dix fois Nàmo Amita Bouddha; s’ils n’arrivent pas à renaître ainsi je n’atteindrai pas mon éveil". Après être devenu Bouddha (il y a 10 existences), en compagnie des bodhisattvas, il a accueilli au monde Suprême de la Terre Pure tous les êtres réunissant les trois critères : croyance, prière et pratique selon le Dharma.

Le vœu du Bouddha Amitabha est immense, sa compassion est très profonde et la pratique du Dharma est très facile, ce qui fait que beaucoup de gens ont choisi cette discipline pour espérer renaître dans le monde Suprême de la Terre Pure. L’accès à ce monde permet de se libérer totalement du cycle de la renaissance.

Phật Di Lặc      Maitreya    Maitreya    彌勒佛    Maitreya
Vị Phật tương lai của chúng ta có tên là Di-lặc. Kinh Tạp A-hàm, ghi: “Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi sẽ có Đức Phật hiệu là Di-lặc ra đời” (Tạp A-hàm, kinh số 66).
Di-lặc, tiếng Phạn là Maitreya, Trung Hoa dịch là Từ Thị (họ Từ). Tên Ngài là A-dật-đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng (không ǵ hơn). Có khi người ta cho A-dật-đa là họ, c̣n Di-lặc là tên của Ngài.
Ngài sanh tại niềm nam nước Thiên Trúc trong một gia đ́nh Bà-la-môn. Tương truyền, Ngài là vị Phật tương lai, tiếp sau đức Phật Thích Ca, hiện đang là vị Bồ-tát bổ xứ. Khi Quang Phật nhập diệt, Ngài sanh vào nội viện cung trời Đâu Suất. Ở đó đến 4 ngàn năm (tức là khoảng 56 ức 7000 vạn năm ở cơi người), th́ hạ sanh xuống nhân gian, dưới cây Long Hoa ở vườn Hoa Lâm, và thành Chánh giác. Trong quá khứ, Ngài đă từng tu tập thành công từ tâm tam-muội, do đó mà có tên là Từ Thị. Đến khi thành Phật cũng lấy tên này.
Chú Duy Ma Kinh, quyển 1, ghi: “Di-lặc là họ của một vị Bồ-tát, tên là A-dật-đa. Người nam Thiên Trúc, thuộc ḍng dơi Bà-la-môn”. Thiên Thai Tịnh Danh Sớ, ghi rằng: “Di-lặc nghĩa Từ Thị. Trong quá khứ, ngài từng làm vua tên là Đàm-ma-lưu-chi, dùng ḷng Từ Bi để cai trị thiên hạ, nên dân chúng tôn xưng ngài là Từ Thị. Từ đó trở đi, ngài luôn mang tên Từ Thị, họ là A-dật-đa, tức là không ǵ hơn”.
Câu Xá Quang Kư, quyển 18, ghi: “Maitreya dịch nghĩa là Từ Thị. Đó là vị Bồ-tát sinh ra từ ḷng từ bi, cho nên gọi tên như vậy”.

  Le Bienveillant qui serait le prochain Bouddha à venir lorsque le Dharma, l'enseignement du Bouddha Shakyamuni, aura disparu.


Phật giáo      Bouddhisme        佛教    Buddhaśāsana
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới.
Phật giáo được một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ-đàm (悉達多瞿曇, siddhārtha gautama) sáng lập khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên.
Phật-đà (buddha), có nghĩa là "người tỉnh thức", là danh hiệu Tất-đạt-đa Cồ-đàm có được sau khi tỉnh thức, giác ngộ được Pháp (法, dharma), nguyên lư của vạn vật.

  Le bouddhisme est une parmi des plus grandes religions.
Le bouddhisme est issu des enseignements de Siddhārtha Gautama (l'« éveillé »), considéré comme le Bouddha historique.

Phật nhăn      oeil de bouddha        佛眼    buddha-cakṣus
Con mắt của chư Phật, nh́n thấy thật tướng của các pháp và nh́n chúng sinh bằng tâm Từ Bi. Chư Phật có đầy năm con mắt: nhục nhăn, thiên nhăn, huệ nhăn, pháp nhăn và Phật nhăn, cho nên không có việc ǵ không thấy, không có việc ǵ không biết, không có việc ǵ không nghe; thấy và nghe hỗ tương nhau, không cần phải tư duy, nh́n thất tất cả mọi vấn đề. Kinh Vô lượng thọ nói: "Phật nhăn có đầy đủ năng lực nh́n thấy và hiểu rơ pháp tính". Pháp Hoa văn cú nói: "Phật nhăn nh́n thông suốt và hoàn hảo, bởi nó bao gồm cả bốn con mắt kia". Kinh Pháp Hoa nói: "Này Xá lợi phất! Ta dùng Phật nhăn để xem xét, thấy chúng sinh trong sáu đường đều bần cùng, thiếu phước, chẳng có trí tuệ".

 

Phật tử      enfants de bouddha    Son of Buddha    佛子    buddha-putra
1. Những người thọ giới pháp và thực hành theo lời Phật dạy, thừa kế gia nghiệp của Phật, tức là tu tập thành Phật để làm lợi ích cho chúng sinh, không để cho hạt giống Bồ đề dứt mất.
2. Phật thương tất cả chúng sinh như cha mẹ thương con, cho nên chúng sinh là con của Phật. Vả lại, chúng sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, v́ thế gọi chúng sinh là Phật tử.

  enfants de bouddha (busshi, 仏子). Disciples du Bouddha. Dans les sutras, ce terme s'applique particulièrement aux bodhisattvas. A partir du Sutra du Lotus il désigne tous les êtres, en ce qu' ils possèdent potentiellement la nature de bouddha.

Phật Thích Ca Mâu Ni      Bouddha Shākyamuni     Sākyamuni Buddha    釋迦牟尼    Sākyamuni Buddha
Đây là danh hiệu của Thái tử Tất Đạt Đa Cồ-đàm (sa. siddhārtha gautama, zh. 悉達多 瞿曇), người đă tự ḿnh t́m đường giải thoát và sáng lập Phật giáo.
Ḍng Thích-ca vốn là vương tộc, cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Độ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepal. Kinh đô thời đó là Ca-t́-la-vệ (sa. kapilavastu), là nơi Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha là Tịnh Phạn (sa. śuddhodana, pi. suddhodana), trị v́ tiểu vương quốc Thích-ca.

  Fondateur historique du bouddhisme, vécut au VIe siècle avant l'ère chrétienne.
Il est né à Kapilavastu (Sud du Népal), de la reine Māyādevī et du roi Śuddhodana, dans une famille de kṣatriya (caste des guerriers-aristocrates).

Phật tính      Bouddha nature     Buddha-nature    佛性    Buddha-dhātu
Cũng gọi Như lai tính, Giác tính, Chân pháp tính, Như lai tạng.
Phật có nghĩa là giác ngộ. Hết thảy chúng sinh đều có khả năng tính giác ngộ, gọi là Phật tính. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tức là đều có khả năng thành Phật. Tính này không thay đổi, dù cho chúng sinh có trôi lăn trong sinh tử luân hồi theo nhân quả, th́ Phật tính của chúng sinh vẫn không thay đổi, chỉ cần dứt hết phiền năo th́ tính Phật tự nhiên hiển bày.

  bouddha [nature de] (bussho, 仏性 buddhadhatu ou buddha-gotra ou buddhat). La cause interne ou la potentialité qui permet d'atteindre l'état de bouddha On l'appelle aussi la semence de l'état de bouddha ou la matrice de l'Ainsi-Venu (nyoraizo, tathagata garbha). Le Mahayana estime généralement que tous les hommes possèdent de manière inhérente la nature de bouddha, bien qu'elle puisse être obscurcie par les illusions et un mauvais karma. Tout au long de l'histoire du bouddhisme, la nature de bouddha a donné lieu à de multiples explications et débats, sur le fait de savoir si elle était ou non inhérente à tout être humain. L'école Tian tai affirme que chacun est doté des trois potentialités qui caractérisent la nature de bouddha et peut donc atteindre l'Eveil. L'école Hosso enseigne la théorie des cinq natures, qui veut que chacun naisse en étant par nature contraint d'appartenir à l'un des cinq groupes suivants : ceux qui sont destinés à devenir bodhisattva, ceux qui connaîtront l'Eveil personnel, ceux qui sont destinés à l'étude, un groupe indéterminé et ceux qui ne pourront devenir ni bodhisattva, ni auditeur-shravaka, ni pratyekabuddha. Seuls ceux qui sont destinés à devenir bodhisattva et le groupe indéterminé peuvent atteindre la boddhéité. Le bouddhisme de Nichiren enseigne que tous les êtres humains sans exception peuvent manifester leur nature inhérente de bouddha.

Phật trí          Buddha's wisdom    佛智    Buddha-jñāna
Trí tuệ của Phật, cũng gọi là trí tuệ chứng ngộ chân lư pháp giới. Trí tuệ này trùm khắp cả mười phương không gian, biến khắp cả thời gian ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai, là trí tuệ hoàn toàn viên măn, tối thắng nhất và không có trí tuệ nào cao hơn, c̣n gọi là Nhất thiết trí. Chư Phật y vào trí tuệ này mà phát khởi tâm từ bi không giới hạn, khai sáng nên sự nghiệp vĩ đại là nhiếp hoá pháp giới chúng sinh.
Phật trí là kết quả của sự tu tập, không thể nghĩ lường, trí tuệ của phàm phu không thể nào suy lường, đoán biết được. Bởi v́ trí tuệ của phàm phu có giới hạn, không hoàn hảo, mà Phật trí th́ hoàn toàn viên măn, rộng lớn vô biên. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ ghi rằng: Trí tuệ của Như lai bao la như biển cả, sâu rộng vô bờ bến, hàng Nhị thừa không thể suy lường, duy chỉ có Phật với Phật mới hiểu được nhau’. Kinh Pháp hoa nói: Trí tuệ của chư Phật thậm thâm vô lượng. Cửa trí tuệ này rất khó hiểu, rất khó vào.

 

Phỉ báng chính pháp      calomnier le Dharma bouddhique         誹謗正法     saddharma-pratikṣepa
C̣n gọi là Báng pháp, Phá pháp, Đoạn pháp.
Phá hoại, phỉ báng chính pháp do Phật nói, chủ yếu là chê bai kinh điển Đại thừa, cho rằng kinh điển Đại thừa không phải Phật nói. Chẳng hạn không tin những kinh Đại thừa như Bát nhă, Pháp hoa, Vô lượng thọ... lại c̣n đặt điều dèm pha, chỉ trích. Những người như thế sẽ tự ḿnh đoạn hết tất cả căn lành, chắc chắn đoạ vào địa ngục lớn.
Theo Kinh Vô lượng quyển thượng th́ Đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ những chúng sinh niệm Phật, nhưng không cứu độ được người phạm tội Ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp. Kinh Bồ tát thiện giới cho rằng phỉ báng chính pháp là 1 trong 8 tội nặng nhất của Bồ tát. Kinh Phạm vơng th́ cho rằng phỉ báng Tam bảo là 1 trong 10 tội nặng nhất của Bồ tát.
Nói chung, phỉ báng chính pháp có 2 loại:
1. Không tin Tam bảo, không tin kinh điển Phật dạy, đem lời Phật dạy ra phân tích theo ư ḿnh với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ chính pháp.
2. Không tin kinh điển Đại thừa là do chính Phật nói, lại đặt điều dèm chê; hoặc thấy người đọc tụng, biên chép, thực hành các kinh Đại thừa th́ sinh ḷng khinh dễ, ghen ghét...

  dénigrer ou calomnier le Dharma bouddhique ou le croyant du Sutra du Lotus (hobo, 謗法 ou hibo shoho, 誹謗正法). Dans l'enseignement de Shakyamuni, le Dharma correct est le Sutra du Lotus qui contient le Véhicule suprême, l'enseignement qui conduit à l'état de bouddha. Le chapitre III (Parabole) du Sutra du Lotus dit : "Celui qui refuse de croire en ce Sutra et au contraire le calomnie, détruit immédiatement les graines qui lui permettraient de devenir un bouddha en ce monde... Après sa mort, il tombera dans l'enfer avici. "Zhanlan définit 14 facteurs (jushi-hobo) qui conduisent au dénigrement du Dharma. Nichiren définit le Dharma correct ou le Véhicule suprême contenu dans le Sutra du Lotus comme Namu Myoho Renge Kyo et le concrétisa sous la forme du Gohonzon, objet de vénération permettant d'atteindre l'état de bouddha à l'époque des Derniers Jours du Dharma. De ce point de vue, calomnier le Dharma correct signifie calomnier le Gohonzon. Dans un sens plus large, cela inclut la croyance en des enseignements qui vont à l'encontre du Dharma correct du Sutra du Lotus ainsi qu'à tout ce qui détruit les Trois trésors.

Pháp      Dharma    Dharma    法    Dharma
1. Pháp bao hàm mọi sự vật cụ thể hay trừu tượng, cái ǵ có thể cho ta một khái niệm về nó đều gọi là pháp. Danh từ Pháp thường được định nghĩa: 'nhậm tŕ tự tính, quĩ sinh vật giải'. Có nghĩa là: Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng, có tự tính, bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nh́n vào là có thể nhận thức và lí giải được.
2. Chỉ cho đối tượng phân biệt của thức thứ 6, cũng gọi là Pháp xứ (Dharmāyatana), hoặc pháp giới (Dharma-dhātu).
3. Tiếng dùng trong Nhân minh luận. Hàm ư tính chất, thuộc tính.

  L'ordre du monde. Le terme sanskrit vient d'une racine qui signifie "porter", "tenir". Il existe deux sens principaux :
1) L'enseignement du Bouddha, souvent traduit par Loi ou Doctrine. Généralement écrit avec une majuscule ; dans ce sens, on dit souvent Dharma du Bouddha ou Dharma bouddhique. Dans les textes de Nichiren, le terme est précisé par un verbe : enseigner le Dharma, écouter le Dharma, etc. Sinon Nichiren l'utilise pour indiquer la Réalité ultime.
2) Les phénomènes tels qu'ils nous apparaissent, "ce qui maintient sa propre identité" ; multiples dharmas = tous les phénomènes.
Mais dharma peut également signifier
3) Les objets de l'esprit.
4) Les règles : l'ordre moral qui oblige chacun à suivre son chemin ; prise de vœux spirituels.
5) Les traditions religieuses (ordre social).

Pháp tướng          characteristics of phenomena    法相    
1. Tướng trạng của các pháp. Chủ trương đặc biệt của tông Duy thức là phân tích hoặc phân loại và thuyết minh tướng trạng của các pháp, v́ thế tông này cũng được gọi là tông Pháp tướng.
2. Chỉ cho phạm vi, sự khu biệt, cương yếu về mặt giáo nghĩa.
3. Chỉ cho Chân như, Thực tướng. Đồng nghĩa với với Pháp tính.

 

Pháp tính      nature de dharma     original essence of all being    法性    dharmatā
Cũng gọi Chân như pháp tính, Chân pháp tính, Chân tính, Pháp bản.
Chỉ cho thể tính chân thực của các pháp, cũng tức là bản tính bất biến của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Cũng là tên khác của Chân như.
Thể tính chân thực của các pháp là tính không, cho nên Pháp tính c̣n gọi là Không tính.

  nature de dharma (hossho, 法性, dharmata). Nature primordiale (atemporelle) de l'ensemble des dharma. La vérité éternelle et immuable, inhérente à chaque chose. La nature éveillée que toute vie possède de façon innée. Le contraire de l'obscurité (mumyo) ou des illusions. On distingue par ailleurs la nature de bouddha inhérante ou primordiale (shoin bussho), la sagesse pour concrétiser cette nature de bouddha (ryoin bussho) et les conditions ou les pratiques pour la manifester (en-in bussho).



Phát bồ đề tâm              發菩提心    Bodhi-citta
Tâm phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề, nghĩa là phát khởi cái tâm mong cầu giải thoát khổ nạn. Tâm bồ đề là cái tâm rộng lớn, trên th́ cầu thành Phật, dưới th́ nguyện cứu độ chúng sinh (thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sinh).
Tâm bồ đề là hạt giống của tất cả chư Phật, là thửa ruộng tốt nuôi lớn pháp thanh tịnh. Khi phát tâm này rồi phải siêng năng tiến tu để mau chóng chứng được quả vị giác ngộ.

 

Phân đoạn sinh tử          fragmentary samsāra    分段生死    
Chỉ cho sự sống chết của phàm phu phải chịu trong tam giới, c̣n gọi là Phần đoạn sinh tử, Hữu vi sinh tử.
Chúng phàm phu do kiến hoặctư hoặc mà bị sanh tử trong tam giới, lục đạo. Phàm phu luân hồi trong lục đạo là do cái nhân đă tạo nghiệp trong quá khứ, rồi theo cái nghiệp ấy mà có thọ mạng hạn định lâu hay mau, thân thể lớn hay nhỏ, sang hay hèn… cho nên gọi là Phân đoạn. Theo Thắng man bảo quật, quyển trung, ghi: “Nói Phân đoạn sinh tử có nghĩa là h́nh sắc sai khác, thọ mạng dài ngắn bất đồng vậy” (Đại chính 37, 48c). Đại thừa nghĩa chương, quyển 8, th́ cho rằng Phân đoạn sinh tử có hai loại, tức là phân đoạn ác đạo chịu quả báo trong tam đồ và phân đoạn thiện đạo thọ quả báo ở nhân thiên. Cũng sách này chia phân đoạn ác đạo ra làm ba loại, đó là: 1, Sanh tử của phàm phu phải chịu, do ác nghiệp làm nhân, tứ trụ làm duyên. 2, Sanh tử của hàng Bồ tát thập trụ phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, tứ trụ làm chính duyên, bi nguyện làm tuỳ trợ. 3, Sanh tử của hàng Chủng tánh lên đến sơ địa Bồ tát, lấy ác nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, trú trụ làm tùy trợ.
Lại chia phân đoạn thiện đạo ra làm ba loại, đó là: 1, Sanh tử của hàng phàm phu nhị thừa cho đến thập trụ Bồ tát phải chịu, là do lấy thiện nghiệp làm nhân, tứ trụ làm duyên. 2, Sanh tử của Bồ tát chủng tánh giải hạnh phải chịu, lấy thiệp nghiệp làm nhân, tứ trụ làm chính duyên, bi nguyện làm tuỳ trợ. 3, Sanh tử của Địa thượng Bồ tát trở lên phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, tứ trụ làm tuỳ trợ.


 

Phân biệt ngă chấp              分別我執    añjanā -ahaṃkāra-manaskāratā
Chấp ngă do phân biệt, cũng do năng lực của ngoại duyên hiện tại, không cùng tồn tại với thân, mà cần phải có ảnh hưởng của tà giáo và tà phân biệt mới có thể phát khởi, v́ vậy nói là phân biệt. Nó chỉ tồn tại trong thức thứ sáu là ư. Loại này cũng có hai thứ:
a. Duyên vào tướng của uẩn được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp là thực ngă.
b. Duyên vào tướng của ngă được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp đó là thực ngă.
Hai loại ngă chấp này dễ bị đoạn trừ, v́ thô. Khi ở sơ khởi của kiến đạo, quán chân như về sinh không và pháp không của hết thảy các pháp th́ có thể đoạn trừ.

 

Phiền năo      Facteurs de perturbation        煩惱    kleśa
C̣n gọi là Tuỳ miên.
Những phiền năo tiềm phục bên trong th́ gọi là Tuỳ miên. Những phiền năo biểu hiện ra bên ngoài th́ gọi là Triền.
Phiền năo là những tác dụng tâm lư làm cho thân, tâm năo loạn, buồn rầu, bức rức, khó chịu; khiến cho thân, tâm không được b́nh tĩnh.
Nhập A-t́-đàm luận, quyển thượng, ghi : ‘Cái ǵ làm cho thân tâm buồn rầu, bức rức, phiền muộn, bức năo liên tục th́ gọi là Phiền năo, cũng gọi là Tuỳ miên’.
Đại T́-bà-sa luận , quyển 60, Câu-xá luận, quyển 20, đều nói rằng, tất cả những Phiền năo đều do ba thứ sức mạnh sau đây mà khởi, đó là nhân lực, cảnh giới lực và gia hành lực. Những Tuỳ miên là những Phiền năo tiềm phục, ẩn sâu bên trong tâm thức chưa đoạn trừ hay ḿnh chưa nhận biết hết là nhân lực (sức mạnh của cái (nguyên) nhân). Cảnh giới trước mắt thuận theo ḷng tham muốn là cảnh giới lực (sức mạnh của ngoại cảnh). Duyên theo cảnh giới mà khởi lên phi lư tác ư là gia hành lực.
Phiền năo có rất nhiều loại, nhưng một cách tổng quát th́ có hai loại, gọi là Mê lư và Mê sự. Mê lư tức là Kiến hoặc, chỉ cho trạng thái u mê không thấy được lư Tứ đế, là loại phiền năo mà khi đạt được địa vị Kiến đạo th́ ḿnh sẽ đoạn trừ hết (kiến đạo sở đoạn). Mê sự tức là Tu hoặc, chỉ cho trạng thái u mê sự tướng vạn vật, bị cảnh giới bên ngoài làm cho bức rức, phiền năo, khi đến địa vị Tu đạo th́ đoạn trừ hết phiền năo này (tu sở đoạn).
Trong Kiến hoặc và Tu hoặc có 6 loại phiền năo căn bản, là tham, sân, si, mạn, nghi và kiến, gọi là Căn bản phiền năo, hoặc gọi là Lục tuỳ miên. Trong 6 phiền năo căn bản này, th́ phiền năo kiến gồm có 5 loại, là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, gọi là Ngũ lợi sử ; c̣n các phiền năo tham, sân, si, mạn, nghi gọi là Ngũ độn sử. Như vậy, tổng cộng có 10 sử, gọi là Thập căn bản phiền năo hay Thập tuỳ miên ; Ngũ lợi sử chỉ thuộc về Mê lư, c̣n Ngũ độn sử thuộc th́ mê cả Lư lẫn Sự.

  désirs terrestres ou détresses émotionnelles (bonno, 煩悩, klesha, kilesa). Terme générique désignant tous les phénomènes de la vie (y compris les désirs et les illusions en général) qui sont cause de souffrance spirituelle et physique, et font obstacle à la recherche de l'Eveil. La racine du sanskrit klis signifie "ce qui fait souffrir". Ce qui cause la souffrance c'est l'émergence des désirs qui entraînent l'incapacité d'une pensée lucide et cohérente. Ce qui déclenche l'enchaînement des douze liens causaux, est l'ignorance fondamentale, origine de toutes les passions. Notons qu'en français, "passion" dérive du latin patior, souffrir, l'étymologie est similaire à pâtir. Les textes bouddhiques français optent aussi souvent pour le terme générique de défilements de la pensée, mettant l'accent sur les représentations mentales qui accompagnent les désirs, les textes orientaux, et particulièrement l'école Tian tai, parle de détresse émotionnelle.
Le Sutra Vatthupama définit ainsi les klesha : "On appelle défilement de l'esprit la convoitise et avarice, la mauvaise volonté, l'hostilité, le dénigrement, la domination, l'autosatisfaction, la jalousie, l'hypocrisie, la fraude, l'entêtement, la présomption, la vanité, l'arrogance, la négligence". Mais ils sont classés de diverses façons selon les écrits et les écoles. Le Daichido Ron explique que les trois poisons que sont l'avidité, l'arrogance et l'ignorance engendrent tous les autres désirs. Le Joyuishiki Ron, compilé par Dharmapala, les divise en deux catégories, fondamentaux et dérivés. Les dix désirs fondamentaux comprennent les cinq passions trompeuses que sont l'avidité, la colère, l'ignorance, l'arrogance et le doute, et les cinq points de vue erronés. A cela s'ajoutent vingt dérivés qui naissent des désirs fondamentaux et les accompagnent comme, par exemple, l'irritabilité, la rancune et la méchanceté qui proviennent de la colère. Zhiyi les classe dans les trois catégories d'illusions :1) Les illusions de la pensée et du désir ; 2) Les illusions innombrables, aussi nombreuses que des grains de sable et de poussière ; 3) Les illusions sur la véritable nature de l'existence.
Dans le bouddhisme du Theravada, le but est d'arriver à l'extinction des passions par annihilation afin de parvenir à un Eveil pur, "sans résidu". La pensée du Mahayana ne se départit pas aussi simplement des passions. Elle remarque en elles la force primordiale des désirs qui sont l'aliment de l'action humaine et elle entend l'utiliser pour l'accomplissement de la voie bouddhique. Voir les désirs s'identifient à l'Eveil et Aizen et également l'article sur les détresses émotionnelles.

Phiền năo chướng      Désirs terrestres     Afflictive hindrances    煩惱障    Kleśāvaraṇa
Cũng gọi Hoặc chướng.
Chỉ cho phiền năo ngăn ngại đạo giác ngộ, làm cho chúng sinh không chứng được Niết bàn.
1. Theo luận Câu xá, phiền năo thường hiện hành làm trở ngại việc phát sinh của trí tuệ vô lậu, đồng thời, làm cho không chứng được trí tuệ giải thoát, gọi là Phiền năo chướng.
2. Theo luận Thành duy thức, tất cả phiền năo làm cho thân tâm chúng sinh bị nhiễu loạn, ngăn trở con đường đến Niết ban, gọi là Phiền năo chướng.

 

Phiền năo tức bồ đề      les détresses impliquent l'éveil        煩惱即菩提    
Phiền năo và Bồ đề không phải là hai mà cái này tức cái kia.
Thông thường, phiền năo là chỉ cho tất cả tác dụng tinh thần làm trở ngại sự giác ngộ; c̣n Bồ đề là trí tuệ dứt hết phiền năo thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tuy nhiên, phiền năo và bồ để không phải là hai cái có tự thể riêng biệt, mà cùng nằm trong một thực thể duy nhất đó là tâm của chúng sinh. Tâm chúng sinh khi sống trong vô minh, thất niệm th́ là phiền năo; mà khi sống trong tỉnh giác, chánh niệm th́ là bồ đề. Phiền năo không phải nằm ngoài bồ đề, mà bồ đề cũng không nằm ngoài phiền năo, nó là một, nên nói phiền năo tức bồ đề.

  désirs [les] impliquent l’éveil ou les détresses impliquent l'éveil. (bonno soku bodai, 煩悩即菩提, 煩惱即菩提, fengnao ji puti). Principe fondamental de certains courants du bouddhisme du Mahayana et notamment des écoles qui se rattachent au Lotus. Selon ce principe, l'homme peut atteindre l'état de bouddha en transformant les illusions et les désirs terrestres en sagesse plutôt qu'en les supprimant. Selon la doctrine theravada, puisque ces désirs contribuent généralement à obscurcir la nature de bouddha et à faire obstacle à la pratique bouddhique, il faut les éliminer pour atteindre l'état de bouddha. Alors que selon le Sutra du Lotus, les désirs terrestres et l'Eveil ne sont pas différents dans leur essence. Il s'ensuit que l'Eveil n'est pas la suppression du désir, mais un état dont on peut faire l'expérience en transformant les désirs inhérents à la nature humaine. Le Sutra Fugen, (qui sert de conclusion au Sutra du Lotus) explique que "même sans éliminer leurs désirs terrestres ou nier les cinq désirs, les hommes peuvent purifier tous leurs sens et supprimer toutes leurs mauvaises actions." Le chapitre Juryo* (XVI) du Sutra du Lotus révèle que l'état de bouddha contient les neuf autres états (bukkai soku kukai). Même après avoir atteint l'Eveil, le Bouddha conserve encore les neuf états propres au commun des mortels. En se fondant sur l'état de bouddha, les hommes créent la joie plutôt que la souffrance sans transformer leur nature essentielle.
"Les désirs s'identifient à l'Eveil " indique donc une caractéristique du processus de l'Eveil, c'est à dire l'instant où l'immense énergie contenue dans les désirs devient boddhéité. Le Sutra Vimalakirti, cité par Nichiren notamment, dit : "l'Eveil du Bouddha se trouve dans la vie humaine, montrant que de simples mortels peuvent devenir bouddha et que les souffrances de la naissance et de la mort peuvent se changer en nirvana". Le terme "s'identifier" (soku, ji) indique non seulement la non-dualité des passions et de l'Eveil mais leur identité atemporelle. Dans la réalité quotidienne il ne s’agit pas toutefois de confondre désir et Eveil, pas plus qu’il ne convient de confondre vie et mort.

Phiền phược              纏縛    
Sự trói buộc, tức chỉ cho phiền năo cột chặt chúng sanh vào ṿng sanh tử trong ba cơi.

 


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27