Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27 

Tam đức lục vị              三德六味    
Căn cứ Kinh Đại bát niết bàn, khi Phật sắp nhập diệt, các Phật tử đă chuẩn bị rất nhiều phẩm vật để dâng lên cúng dường đức Phật và chư Tăng một lần sau cuối. Những thực phẩm rất phong phú, đặc biệt có đầy đủ ba đức tính và sáu hương vị. Từ sự kiện lịch sử này, đời sau, các chùa thường thiết lễ Cúng Ngọ và đọc câu 'ba đức, sáu vị; cúng Phật cùng tăng..."
- Ba đức: mềm, tinh khiết, đúng như pháp, tượng trưng cho ba thân của Phật (Pháp thân, Báo thân, Ứng hoá thân) hoặc ba đức tướng của quả vị Phật (Trí đức, Đoạn đức, Ân đức).
- Sáu vị: ngọt, đắng, chua, cay, mặn, nhạt, trong đó, vị chua là Khổ, mặn là Vô thường, đắng là Vô ngă, vị ngọt như Lạc, vị cay như Ngă, vị nhạt là Thường.

 

Tam ác đạo      trois mauvaises voies    the three evil paths, three bad migrations    三惡道    sannaku, san-akushu
Ba đường ác. Cũng gọi là Tam ác thú, Tam đồ, Tam ác.
1. Địa ngục: Ở dưới đất, giữa núi Thiết vi có 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng; những người tạo 10 nghiệp ác cực nặng sẽ bị đoạ vào đường này.
2. Ngă quỉ: Những người tạo 10 nghiệp ác bậc trung sẽ bị đoạ vào đường này. Trong đó, lại chia làm ba thành phần. Đối với người tội năng th́ nhiều kiếp không nghe thấy tên nước uống; người tội vừa th́ chỉ t́m kiếm được máu mủ, phẩn dơ của người thế gian; người tội nhẹ hơn nữa th́ thỉnh thoảng mới được một bữa ăn no do người đời cúng thí.
3. Súc sinh: Những người tạo 10 nghiệp ác bậc nhẹ th́ rơi vào đường này. Gồm những loài có lông vũ, loài có sừng, loài có vảy, loài 2 chân, 4 chân, nhiều chân, loài không chân, loài bơi dưới nước, loài bay trên không, loại đi trên đất...

  Les trois premiers des dix mondes-états : enfer, esprits faméliques, animalité. En leur ajoutant le monde-état d'asura ils forment les quatre mauvaises voies (shiakudo). Ils sont mis en opposition avec les bonnes voies : hommes, ciel qui, sans être encore très élevés, permettent au moins de sortir de la passivité des trois ou quatre premières.

Tam bảo      trois trésors    three treasures    三寶    triratna
Ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, được tín đồ Phật giáo tôn kính, cúng dường.
Phật (Buddha) là bậc đă giác ngộ, có năng lực giáo hoá, dẫn dắt chúng sinh; Pháp (Dharma) là giáo pháp của Phật; Tăng (Saṃgha) là tăng đoàn đệ tử của Phật tu học theo giáo pháp. Ba ngôi trên có uy đức cao tột, có năng lực mang lại giải thoát, yên vui cho hết thảy chúng sinh, mà không một thứ của báu nào giữa thế gian có thể sánh được, nên gọi là Tam bảo.

  Ce par quoi le courant bouddhiste existe, à savoir : le Bouddha, le Dharma (doctrine bouddhique), la communauté des moines (sangha). La différence entre les écoles nichireniennes provient, entre autres, de l'interprétation de ces trois trésors. Pour la majorité de courants le Bouddha est Shakyamuni, le Dharma est le Sutra du Lotus (Myoho Renge Kyo) et la communauté est constituée par Nichiren et ses disciples. Les écoles Nichiren Shoshu, Nichiren Shoshinkai et le mouvement laïc de la Soka Gakkai issu de la Shoshu interprètent le Bouddha comme étant Nichiren, le Dharma comme l'enseignement de Nichiren et le Sangha, la hiérarchie de leur école uniquement.

Tam chướng      Trois obstacles    Three hindrances    三障    Trīṇy āvaranāni
Ba thứ gây trở ngại sự tu tập.
Ba thứ chướng ngại lớn nhất:
1. Phiền năo chướng, kleśāvaraṇa: Con người vốn có đầy đủ 3 phiền năo tham, sân, si, rất khó trừ bỏ, khó dạy bảo, khó mở tỏ, khó chán ĺa, khó được giải thoát.
2. Nghiệp chướng, karmāvaraṇa: Chỉ cho 5 nghiệp vô gián (phạm 5 tội cực nặng: giết cha, giết mẹ, giết a la hán, làm thân phật chảy máu, phá hoà hợp tăng), là những nghiệp ác do thân, miệng, ư gây ra, khiến đoạ lạc trong địa ngục không có cơ hội tu tập.
3. Dị thục chướng, vipākāvaraṇa: C̣n gọi là Báo chướng, Quả báo chướng. Những quả báo 3 đường ác do nhân phiền năo và nghiệp đưa đến.

  Les trois obstacles sont :
1) L'obstacle des désirs terrestres (bonno-sho), ou obstacles naissant des trois poisons que sont l'avidité, la colère et l'ignorance
2) L'obstacle du karma (go-sho) ou obstacles dus au mauvais karma créé en commettant un cinq forfaits ou des dix mauvaises actions. On fait également entrer dans cette catégorie l'opposition du conjoint et des enfants d'un pratiquant.
3) L'obstacle de rétribution (ho-sho) ou obstacles créés par la rétribution négative d'actions commises dans les trois voies mauvaises. Entrent encore dans cette catégorie les obstacles dus à l'opposition du souverain, de ses parents ou de toute personne investie d'une quelconque autorité sociale.

Tam chủng tập khí              三種習氣    
C̣n gọi là tam chủng huân tập, tam huân tập.
Ba loại tập khí
Ba loại huân tập
Do phần khí hiện hành (thói quen hiện tại) huân tập mà thành.
1. Danh ngôn tập khí: Y vào ngôn ngữ, chủng tử được huân tập để làm nhân duyên trực tiếp cho từng pháp hữu vi cá biệt. Có hai loại danh ngôn:
- Biểu nghĩa danh ngôn: Sự sai biệt của âm thanh có khả năng giải thích rơ ràng nghĩa lư.
- Hiển cảnh danh ngôn: Khả năng nhận thức, phân biệt cảnh giới rơ ràng của tâm và tâm sở.
2. Ngă chấp tập khí: Do chấp ngă huân tập mà thành chủng tử khiến cho chúng sanh hữu t́nh phân biệt sai khác giữa ta và người. Có hai loại:
- Câu sanh ngă chấp: Có mặt trong cả thức thứ sáu và thứ bảy. Trừ bậc Vô học, Bồ-tát từ bát địa trở lên và Như lai, c̣n lại tất cả chúng sanh đều có tập khí này từ khi mới sanh ra.
- Phân biệt ngă chấp: Chỉ cho thức thứ sáu, do ư thức phân biệt mà huân tập thành.
3. Hữu chi tập khí: Chủng tử của nghiệp chiêu cảm quả báo dị thục trong ba cơi. ‘Hữu’ là chỉ cho tam hữu, tức ba cơi dục, sắc và vô sắc; ‘chi’ là cái ‘nhân’; ‘tập khí’ là do phần khí, ‘cái hơi’ của hiện hành nó xông ướp, huân tập mà thành, tức là chủng tử. Hữu chi tập khí, nghiệp chủng tử, dị thục tập khí và hữu chi huân tập, bốn từ này cùng một ư nghĩa.
Luận Thành duy thức, quyển 8, ghi: ‘Hữu chi tập khí, đó là chủng tử của nghiệp chiêu cảm quả báo dị thục trong ba cơi. Hữu chi có hai, một là thiện hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái; hai là bất thiện, tức nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hai loại hữu chi này mà có sự sai biệt của các cơi do bởi nghiệp di thục.'

 

Tam giải thoát môn      trois méditations pour la délivrance    three gates of liberation    三解脫門    trīṇi vimokṣa-mukhāni
Gọi tắt là Tam môn. 3 cánh cửa giải thoát, 3 pháp môn tu học giúp đạt được giải thoát, chứng đạt niết bàn.
1. Không môn, śūnyatā: Quán xét tất cả các pháp đều không có tự tính, do nhân duyên hoà hợp mà sinh, không có ta, không có của ta, tất cả các pháp đều không thật, vô thường... Thấy được sự thật này th́ sẽ được tự tại, giải thoát.
2. Vô tướng môn, animitta: C̣n gọi Vô tưởng môn. Đă biết tất cả các pháp đều là Không, nên không chấp trước, không vướng mắc vào h́nh tướng, đạt được trí vô phân biệt, tự tại vô ngại.
3. Vô nguyện môn, apraṇihita: C̣n gọi Vô tác môn, Vô dục môn. Nếu biết tất cả các pháp là vô tướng th́ trong 3 cơi không mong cầu điều ǵ nữa, không tham muốn điều ǵ nữa, nếu không mong cầu th́ không tạo tác nghiệp sinh tử, nếu không tạo nghiệp sinh tử th́ không phải chịu khổ đau, do đó được tự tại.

  trois méditations pour la délivrance (san-gedatsu-mon, 三解脱門). Trois méditations pour se libérer des souffrances provoquées par les illusions et atteindre l'Eveil. Ce sont :
1) La méditation sur la non-substantialité (ku) en contemplant le fait que les choses sont sans nature propre absolue, rien n'existe en soi, tout s'inscrit dans une relation elle-même tributaire de la temporalité ;
2) La méditation sur la non-discrimination, en contemplant le fait que, parce que toutes choses sont sans substance, il n'existe aucune différence essentielle entre elles ;
3) La méditation sur le non-désir, en contemplant le fait que, comme il n'existe aucune différence essentielle entre les choses, il n'y a rien à désirer ou vers quoi tendre. A distinguer de san joryo, trois sortes de méditations-samadhi

Tam giới      trois plans     three categories of self-restraint    三界    trayo dhātavaḥ
Ba cơi chúng sinh qua lại cư trú trong quá tŕnh sinh tử luân hồi.
1. Dục giới (Kama-dhātu): Thế giới của các loài chúng sinh có tính dâm dục, t́nh dục, sắc dục và thực dục cư trú. Trên có 6 tầng trời, giữa có bốn đại châu cơi người, dưới có ba đường ác.
2. Sắc giới (Rūpa-dhātu): Thế giới cư trú của loài chúng sinh đă xa ĺa dâm dục và thực dục ở cơi Dục, nhưng vẫn c̣n có sắc chất thanh tịnh. Cơi này ở phía trên cơi Dục, không có các thứ dục nhiễm, cũng không có thân nữ, chúng sinh ở cơi này đều do hoá sinh. Cơi này tuỳ theo thiền định sâu cạn mà được chia làm bốn bậc, từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tổng cộng có 18 tầng trời.
3. Vô sắc giới (Ārūpya-dhātu): Thế giới cư trú của loài chúng sinh chỉ có thụ, tưởng, hành, thức chứ không có vật chất, cũng không có thân thể, cung điện, quốc độ, chỉ có tâm thức trụ trong thiền định sâu xa mầu nhiệm. Thế giới này trên cơi Sắc, có tất cả 4 tầng trời.

  trois plans ou trois mondes ou triple monde ou mondes des 3 plans (san-gai, 三界, trailokya). Système de classification issu de la cosmologie indienne et constitué du plan du désir, du plan de la forme pure et du plan du sans-forme ou informel (arupya-dhatu). Cette triade recoupe les six premiers mondes de la théorie des dix mondes.
- le plan du désir sensuel (yokkai, 欲界, kama dhatu). Le premier niveau du monde des trois plans, appelé ainsi parce que ses habitants sont soumis à divers désirs tels que le désir de nourriture et le désir sexuel. Ce monde est composé des quatre voies mauvaises (mondes de l'enfer, des esprits affamés, des animaux, des asura et des hommes), des quatre continents entourant le Mont Sumeru et des six premiers niveaux du Ciel (les six ciels du monde du désir). Dans le sixième ou plus élevé de ces six ciels vit le Roi-Démon du Sixième Ciel dont on dit qu'il a un grand désir de soumettre les autres à sa volonté et qui maintient les êtres dans 1'asservissement du désir et dans 1'espoir de la réalisation des espérances
- le plan de la forme (shikikai, 色界, rupadhatu). C'est le plan de la matière subtile. Les êtres qui s'y trouvent ont des corps physiques et sont sujets à certaines limitations matérielles, mais ils se sont éveillés à la structure réelle des choses et n'ont aucun désir, se nourrissant de lumière. Ce monde comprend les quatre ciels de la méditation et se subdivise en dix-huit ciels (seize ou dix-sept selon d'autres explications). Le plus élevé est le Ciel Akanishtha (Akanitaten ou Shikikukyoten).
- le plan du sans-forme (mushikikai, 無色界, arupadhatu). Parfois traduit par "monde de l'esprit". C'est le troisième niveau du monde des trois plans. Etant un royaume purement spirituel, il ne peut être situé au-dessus du plan de la forme, bien qu'il soit souvent représenté graphiquement ainsi, pour les besoins de la logique. On dit qu'on peut atteindre le plan du sans-forme par la méditation. Il comprend quatre domaines que l'on conçoit à l'aide de méditations de plus en plus profondes. Il s'agit du domaine où tout est non substantiel (kumuhenjo), du domaine où il n'y a que la conscience (shikimuhenjo), du royaume où rien n'existe (mushousho) et du royaume où il n'y a ni pensée ni absence de pensée (hisohihisosho). Voir le schéma des différents ciels. Et également l'article sur le triple monde.

Tam học      trois disciplines     three practices    三學    tisraḥ śikṣāḥ
I. Ba môn học đưa đến giải thoát:
1. Tăng thượng giới học, adhiśīla-śikṣā, c̣n gọi là Tăng giới học, Giới học: Đ́nh chỉ mọi việc làm ác, thực hành mọi việc thiện, giữ ǵn ba nghiệp thân, khẩu, ư thanh tịnh.
2. Tăng thượng tâm học, adhicitta-śikṣā, c̣n gọi Tăng thượng ư học, Tăng tâm học, Định học: Khắc phục tinh thần tán loạn, diệt trừ hôn trầm, giữ tâm yên tĩnh, lắng đọng, an trú một chỗ, một niệm chuyên nhất.
3. Tăng thượng tuệ học, adhiprajñā-śikṣā, c̣n gọi Tăng tuệ học, Tuệ học: Trí tuệ hiểu rơ tướng chân thật của các pháp.
Ba môn học này có tính chất nhân quả với nhau. Nhờ giữ giới mà tâm được định, nhờ tâm an định mà trí tuệ phát sinh, nhờ có trí tuệ mà đạt được giải thoát. Cho nên, trong giới có định, trong định có tuệ, giới định tuệ là một. Đây là ba môn học nền tảng của Phật giáo.
II. Chỉ cho Hữu học, Vô học, Phi học phi vô học:
1. Hữu học, śaikṣa: Chỉ cho những người tu tập đă chứng được Tứ hướng tam quả (tức là bốn quả vị hướng đến bốn quả Thánh là Tu đà hoàn hướng, Tư đà hàm hướng, A na hàm hướng, A la hán hướng; và ba quả Thánh Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm). V́ các bậc này c̣n phải tu học để đạt đến quả vị giải thoát hoàn toàn, nên gọi là bậc Hữu học.
2. Vô học, aśaikṣa: Chỉ cho bậc đă chứng quả A la hán. A la hán đă đoạn sạch phiền năo, chứng quả Vô sinh, những việc cần làm đă làm xong, không c̣n ǵ để học, nên gọi là bậc Vô học.
3. Phi học phi vô học, naivaśaikṣa-nāśaikṣa: Chỉ cho hàng phàm phu không chứng được quả vị ǵ cả.

  trois disciplines ou trois sortes d'étude ou trois entrainements (san-gaku, 三學, trisiksha). Les trois éléments de la pratique qu'un bouddhiste doit maîtriser. Ce sont les préceptes, la méditation et la sagesse. Cela comprend tous les aspects de la doctrine et de la pratique bouddhiques.
1) L'entraînemnt à la discipline éthique : les préceptes, (kai, 戒, kai-kakan, sila, adhisilasikasha). La fonction des préceptes (sila) est de repousser l'injustice et d'arrêter le mal, en pensées, paroles et actions.
2) L'entraînement à la méditation (jo, 定, jo-kakan, samadhisiksha, dhyana) travail sur le calme mental menant à l'examen du coeur-esprit. La méditation a pour but de permettre à l'esprit de se concentrer et de s'apaiser.
3) L'entraînement à la sagesse (e, 慧, hannya-kakan, prajnasikasha). Acquisition de la vue et de la pensée justes, par l'écoute, la réflexion et la méditation. La fonction de la prajna est de libérer une personne de ses illusions et de lui permettre d'accéder à la vérité.
Nichiren assimile les trois disciplines, à l'époque des Derniers jours du Dharma, aux Trois grands Dharmas cachés en identifiant les préceptes au kaidan, la méditation au gohonzon et la sagesse au daimoku.

Tam hoặc      Trois illusions     Three delusions    三惑     
Cũng gọi Tam chướng.
1. Kiến tư hoặc: Kiến hoặc và Tư hoặc. Kiến hoặc là do các tà kiến sinh khởi khi ư căn tiếp xúc với pháp trần. Tức là phiền năo mê lầm đối với đạo lư trong 3 đời. Tư hoặc là tư tưởng chấp trước dấy lên khi 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tham đắm nơi 5 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tcs là phiền năo mê lầm đối với sự lư ở hiện tại. Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều phải đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc th́ mới chứng được Thánh quả, nên gọi nó là Thông hoặc. V́ nó chiêu cảm sinh tử trong 3 cơi nên thuộc về hoặc nội giới (phiền năo tiềm tàng bên trong tâm), phải dùng quán chiếu tính Không mới trị được nó.
2. Trần sa hoặc: Các hoặc chướng sinh khởi v́ mê lầm đối với các pháp thuộc giới nội, giới ngoại nhiều như số cát sông Hằng, gọi là Trần sa hoặc. Bồ tát sau khi đoạn trừ Kiến tư hoặc, dễ bị dính mắc vào Không quán, gây chướng ngại cho việc tự tại giáo háo độ sinh của Bồ tát, nên Trần sa hoặc c̣n được gọi là Trước không hoặc, Hoá đạo chướng hoặc. V́ hoặc này chỉ có Bồ tát đoạn trừ nên cũng gọi là Biệt hoặc, thuộc cả giới nội và giới ngoại, phải dùng Giả quán để đối trị.
3. Vô minh hoặc: Đối với tất cả pháp không rơ biết nên gọi là Vô minh. Tức là phiền năo mê lầm về Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Vô minh hoặc là chủng tử của nghiệp tức, cội rễ của phiền năo, thuộc về giới ngoại, chỉ có Bồ tát Đại thừa, tu cả định lẫn tuệ, đầy đủ muôn hạnh mới đoạn trừ được hoặc này, cho nên cũng gọi là Biệt hoặc và dùng Trung quán để đối trị.
Thật ra, Tam hoặc vốn từ 1 hoặc mà chia ra theo tính chất thô và tế, chứ thể của hoặc th́ không khác, tính thô gọi Kiến tư, tính tế gọi là Vô minh, ở khoảng giữa th́ gọi là Trần sa, cho nên việc đoạn trừ lẽ ra không có thời gian trước sau khác nhau.

  trois illusions ou trois catégories d'illusions (san-waku, 三惑). Classification établie par Zhiyi. 1) Les illusions de la pensée et du désir (kenji waku, 見思惑) : visions déformées de la vie qui naissent du contact des cinq sens avec leurs objets respectifs et qui sont la cause des souffrances humaines dans les six mauvaises voies. Pour les êtres des deux véhicules, dissiper ces illusions garantit l'entrée au nirvana et la libération des renaissances dans le monde des trois plans. Les bodhisattvas poursuivent leur pratique pour éliminer les deux catégories d'illusions suivantes ; 2) Les illusions du bodhisattva pour maîtriser d'innombrables enseignements en dehors de celui qui permettrait de véritablement sauver tous les êtres humains. (égarements des poussières jinja waku) ;
3) Les illusions sur la véritable nature de la vie. Ce sont elles qui empêchent les bodhisattvas de parvenir à l'Eveil, c'est-à-dire de s'éveiller à la vérité de la voie du milieu ; (égarements de l’obscurité, mumyo waku).

Tam khổ      Trois souffrances    Three kinds of suffering    三苦    Tisro-duḥkhatāḥ
Ba thứ khổ
1. Khổ khổ: Những khổ đau do đói, khát, lạnh, nóng...
2. Hoại khổ: Những hạnh phúc, niềm vui khi đă qua đi, tan vở... th́ sinh ra đau khổ.
3. Hành khổ: Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, biến đổi nên khổ.

  trois souffrances (san-ku, 三苦). La première catégorie de souffrances résulte de causes et de conditions indésirables, la deuxième résulte de l'absence de quelque chose de désirable et la troisième résulte de l'impermanence de tous les phénomènes.

Tam lậu              三漏    traya āsravāḥ
Ba loại phiền năo: Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu.
Lậu là tên gọi khác của phiền năo.
Phiền năo trong tâm theo ngơ sáu căn ṛ rỉ ra bên ngoài khiến cho chúng sanh hữu t́nh buồn khổ, khiến chúng sanh hữu t́nh trôi lăn trong sanh tử luân hồi không gián đoạn, cho nên gọi phiền năo là lậu.
Dục lậu là phiền năo ở Dục giới. Hữu lậu là phiền năo ở Sắc giới và Vô sắc giới. Vô minh lậu là phiễn năo si mê tồn tại ở cả ba cơi.
Kinh Đại bát-niết-bàn, quyển 22, ghi: "Tất cả phiền năo ở Dục giới, trừ vô minh, gọi là Dục lậu; tất cả phiền năo ở Sắc giới và Vô sắc giới, trừ Vô minh, gọi là Hữu lậu; vô minh tồn tại ở cả ba cơi gọi là Vô minh lậu".
Tam lậu tổng cộng có 108 phiền năo. Trong đó, Dục lậu có 41 loại, Hữu lậu có 52 loại, Vô minh lậu có 15 loại.
Đại tỳ-bà-sa luận, quyển 47, ghi: ‘Chúng sanh hữu t́nh sở dĩ ở Dục giới là do tâm của chúng có tham dục, vui thích ở nơi dục, ham muốn nơi dục, hy vọng nơi dục, mong cầu nơi dục, t́m kiếm nơi dục, đắm nhiễm nơi dục, cho nên phát sanh các phiền năo ở trong Dục giới, trừ vô minh ra, gọi là Dục lậu. Chúng sanh hữu t́nh sở dĩ ở Sắc giới và Vô sắc giới là do tâm tư của chúng bám víu vào hữu, vui thích với hữu, ham muốn với hữu, hy vọng với hữu, mong cầu với hữu, t́m kiếm hữu, đắm nhiễm hữu, cho nên phát sanh các phiền năo ở trong Sắc và Vô sắc giới, trừ vô minh, gọi là Hữu lậu. Chúng sanh hữu t́nh sống trong ba cơi đều do tâm của chúng có dục có hữu, cho đến đắm nhiễm nơi dục, nơi hữu, mà chính yếu là do sức mạnh của ngu si, cho nên sự ngu si trong ba cơi đáng lập riêng ra một lậu, gọi là Vô minh lậu.
Lại nữa, chúng sanh hữu t́nh Dục giới tuy cũng có mong cầu đối với hữu, nhưng phần lớn là mong cầu đối với dục, cho nên phiền năo ở Dục giới, trừ vô minh ra, gọi là Dục lậu; Sắc và Vô sắc giới hữu t́nh chúng sanh hoàn toàn không mong cầu nơi dục, chỉ mong cầu hữu, cho nên gọi là Hữu lậu.'

 

Tam luân              三輪    
Chỉ cho người bố thí, người nhận sự bố thí và phẩm vật bố thí. Lúc thực hành bố thí nếu có thể an trú trong Không quán, tức là không bị vướng mắc và chấp trước việc ḿnh bố thí (năng thí), người nhận sự bố thí (sở thí) và vật bố thí th́ gọi là tam luân thể không, tam luân thanh tịnh, tam sự giai không. Đây là một trong những tư tưởng chủ đạo của kinh Bát nhă.

 

Tam mật      triple mystère ou trois secrets        三密    trīṇi guhyāni
Là ba nghiệp bí mật, tức Thân mật (kāya-guhya), Khẩu mật (vāg-guhya), và Ư mật (mano-guhya). Khẩu mật c̣n gọi là Ngữ mật và Ư mật cũng gọi là Tâm mật. Thuật ngữ này do Mật giáo Tây tạng sử dụng là chủ yếu.
1. Theo sự giải thích của Hiển giáo, không thể dùng sự suy tư của phàm phu mà lường biết được ba nghiệp của Phật, nên gọi là Tam mật.
Thân mật: Đức Như lai ở giữa đại hội, đại chúng thấy sắc thân của Phật cao, thấp khác nhau, cho đến đại thần biến đều không thể nghĩ bàn.
Ngữ mật: Khi đức Phật nói pháp, người ở cách xa hoặc một dặm, hoặc mười dặm hoặc trăm ngàn dặm đều nghe được âm thanh của Phật. Hơn nữa, trong cùng một hội, người nghe bố thí, người nghe tŕ giới... mỗi người tuỳ theo chỗ ḿnh nghe đều không thể nghĩ bàn.
Ư mật: Phật thường ở trong thiền định vắng lặng, những chỗ ngài tư duy, quán xét đều không thể nghĩ bàn.
2. Theo sự giải thích của Mật giáo th́ ba nghiệp của Phật thuộc về Dụng đại (tác dụng của Chân như) trong 3 đại Thể, Tướng, Dụng. Tác dụng ấy rất sâu xa nhỏ nhiệm, sự nghĩ lường của phàm phu không thể nào biết được, hàng Bồ tát Thập địa, Đẳng giác cũng không thể thấy nghe, cho nên gọi là Tam mật. Tam mật của Phật nếu ứng hợp với Tam mật của chúng sinh th́ thành tựu nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Tam nghiệp của chúng sinh chẳng những khế hợp với Tam mật của Phật mà c̣n hàm nhiếp trong đó. Lại nữa, bản tính ẩn kín trong tâm chúng sinh cũng giống với Tam mật của Phật, tức thực tướng tam nghiệp của chúng sinh đều là tác dụng của pháp tính Lục đại và tương đồng với Tam mật của Phật, v́ thế ba nghiệp thân, khẩu, ư của chúng sinh cũng gọi là Tam mật. Trong Tam mật của chúng sinh, hành giả dùng tay kết ấn của Bản tôn, cho đến tất cả việc đi, đứng, ngồi, nằm của hành giả đều gọi là Thân mật. Miệng hành giả tụng chân ngôn, cho đến tất cả lời nói thuộc về khẩu nghiệp, đều gọi là Ngữ mật. Tâm của hành giả quán tưởng Bản tôn, cho đến khởi lên ư niệm về tất cả sự nghiệp... đều gọi là Ư mật. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật gọi là Tam mật dụng đại, cùng với Lục đại thể đại và Tứ mạn tướng đại gọi chung là Tam đại.

  triple mystère ou trois secrets (san-mitsu, 三密). Selon l'enseignement Shingon, puisque le bouddha Dainichi-Vairocana est omniprésent, tous les êtres sont le corps mystique du bouddha, tous les sons constituent sa bouche (c'est-à-dire sa voix) mystique et toutes les pensées représentent son esprit mystique. Toutefois, le corps, la bouche et l'esprit du Bouddha sont inimaginablement profonds et au-delà de la compréhension des simples mortels. Ils sont donc appelés "mystères". Mais le corps, la bouche et l'esprit des simples mortels ne sont pas essentiellement différents de ceux du Bouddha bien que leur nature de bouddha soit obscurcie par l'illusion. En ce sens, dans leur aspect essentiel, le corps, la bouche et l'esprit des simples mortels sont aussi appelés les trois mystères. Du point de vue de la pratique, l'enseignement ésotérique assigne au corps de fabriquer les mudra en utilisant les mains, à la bouche de réciter les mantra (paroles mystiques) et à l'esprit de méditer sur l'objet de vénération. On dit que par ces trois pratiques le corps, la bouche et l'esprit des simples mortels s'associent à ceux du Bouddha.



Tam minh      trois connaissances mystiques     three awarenesses    三明    tisro-vidyāḥ
Cũng gọi Tam đạt, Tam chứng pháp.
Ba loại trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được quả vị Vô học.
1. Túc mệnh trí chứng minh, pūrva-nivāsānusmṛti- jñāna-sakṣāt-kriya-vidyā, cũng gọi là Túc mệnh minh, Túc mệnh trí: Trí tuệ biết rơ tướng trạng của ḿnh từ một đời cho đến trăm ngh́n vạn ức đời, biết rơ trong những đời trước ḿnh sinh ra ở đâu, con của ai, tên ǵ, làm ǵ...
2. Sinh tử trí chứng minh, cyuty-upapāda-jñaṇa-sāk-ṣāt-kriya-vidyā, c̣n gọi là Thiên nhăn minh, Thiên nhăn trí: Trí tuệ biết rơ tướng trạng sống chết của chúng sinh, thấy rơ chúng sinh ấy do nhân ǵ, duyên ǵ mà được sinh ra, sau khi chết sẽ sinh đến chỗ nào...
3. Lậu tận trí chứng minh, āsrava-kṣaya-jñāna-sāk-ṣāt-kriya-vidyā, cũng gọi là Lậu tận trí, Lậu tận minh: Trí tuệ biết rơ như thật đă chứng được lư Tứ đế, biết ḿnh đă diệt trừ hết phiền năo, đă giải thoát hoàn toàn...

  Trois pouvoirs attribués aux bouddhas et bodhisattvas : 1) la capacité de connaître les vies passées, 2) la capacité de connaître les vies futures, 3) la capacité de connaître la véritable nature de la souffrance dans la vie présente et d'éradiquer les causes de ces souffrances. Ces trois connaissances sont généralement associées aux six pouvoirs mystiques.


Tam nghiệp      trois catégories d'actions ou trois sortes de karma    three conditions    三業    Trīṇi karmāṇi
I. Ba nghiệp thân, miệng, ư:
1. Thân nghiệp: Chỉ cho những việc do thân làm. Nếu thân làm việc ác như giết hại, trộm cướp, tà dâm... th́ tạo nên nghiệp xấu, gọi là Thân ác nghiệp. Nếu thân làm việc tốt, việc thiện, như không giết hại, không trộm cắp... th́ tạo nên nghiệp thiện, gọi là Thân thiện nghiệp.
2. Khẩu nghiệp: Chỉ cho những lời nói. Nếu nói những lời gian dối, nói lời ly gián, nói ác, nói thêm bớt, nói không đúng sự thật, nói những lời gây đau khổ cho người khác... th́ tạo nên nghiệp xấu từ miệng, gọi là Khẩu ác nghiệp. Nếu không nói dối, không nói sai sự thật, ngược lại chỉ nói những lời ái ngữ, những lời nói vun đắp t́nh thương... th́ tạo nên nghiệp thiện, gọi là Khẩu thiện nghiệp.
3. Ư nghiệp: Chỉ cho nghiệp do ư thức tạo nên. Nếu ư tham muốn, sân hận, tà kiến th́ gọi là Ư ác nghiệp. Nếu không tham, sân, si th́ gọi là Ư thiện nghiệp.
II. Ba nghiệp được chia theo tính chất thiện, ác và vô kí:
1. Thiện nghiệp (Kuśala-karma): Những việc làm của thân, miệng, ư được thúc đẩy bởi tâm không tham, không sân, không si.
2. Ác nghiệp ( akuśala-karma): Những việc làm của thân, miệng, ư được thúc đẩy bởi tâm tham, sân, si.
3. Vô kí nghiệp (avyākṛta-karma): Những hành vi tự nhiên, không thúc đẩy bởi tâm niệm xấu hay tốt.

  Actions mentales, verbales et physiques, c'est-à-dire les pensées, les paroles et les actes concrets.

Tam niệm trụ              三念住    trīṇi smṛty-upasthānāni
C̣n gọi là Tam niệm xứ, Tam ư chỉ. trīṇi smṛty-upasthānāni
Là một trong 18 pháp bất cộng của Phật.
Phật lấy tâm đại bi để nhiếp hóa chúng sinh, thường an trú trong ba niệm này, không có các ư niệm vui, buồn, lo lắng, ưa thích…
1. Chúng sinh tin Phật, tiếp nhận lời Phật dạy để tu hành, Phật không v́ vậy mà sinh tâm hoan hỷ, v́ Phật thường an trụ trong chánh niệm, chánh trí.
2. Chúng sinh không tin Phật, không tiếp nhận lời Phật dạy để tu hành, Phật không v́ vậy mà sinh tâm buồn phiền, v́ Phật thường an trụ trong chánh niệm, chánh trí.
3. Chúng sinh có kẻ vừa tin Phật vừa không tin Phật, cái kiểu khi tin khi không tin, Phật biết hết, nhưng cũng không sinh tâm hoan hỷ hay buồn phiền, v́ Phật thường an trụ trong chính niệm, chính trí.
Ba niệm trên đây đều lấy niệm, tuệ làm thể, và duy chỉ có Phật mới thành tựu đầy đủ công đức này, hàng Nhị thừa không thể đạt được.

 

Tam phước          three kinds of blessings    三福    
Tam phước hay tịnh nghiệp tam phước là ba yếu tố tu tập căn bản của hành giả pháp môn Tịnh độ. Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, th́ đây cũng chính là ba yếu tố tu tập quan trọng mà ba đời chư Phật, quá khứ, hiện tại và vị lai đều thực hành. Ba yếu tố đó là: Thế phước, Giới phước và Hạnh phước.

Xem bài Tam phước



 

Tam pháp ấn      trois sceaux du Dharma         三法印    dharma-mudrā
Pháp ấn, tiếng Phạn dharma-mudrā hoặc dharma-uddāna, có nghĩa là dấu ấn của Chánh pháp, là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết Phật pháp. Kinh điển nào có nội dung tư tưởng phù hợp với Pháp ấn th́ được coi là kinh điển do Phật thuyết, ngược lại, kinh điển nào có nội dung tư tưởng trái ngược với Pháp ấn th́ được coi là kinh điển không do Phật thuyết.
Pháp là lư tính tự nhiên và phổ biến cùng khắp. Ấn là dấu ấn, là khuôn dấu, dùng nó để chứng thật là cứu cánh, chính xác. Nhờ khuôn dấu này để xác nhận Phật pháp cho nên gọi là Pháp ấn.
Ba Pháp ấn là giáo nghĩa trọng yếu của Phật pháp, nó giúp ta phán đoán cái được gọi là Phật pháp cuối cùng có đúng là Phật pháp hay không. Khi đem ba Pháp ấn này ra đối chiếu, so sánh, nếu thấy giáo lư nào trái ngược với ba Pháp ấn th́ cho dù giáo lư đó được cho là đích thân do Phật thuyết th́ nó cũng không phải Phật pháp; ngược lại, nếu thấy giáo lư nào khế hợp, tương ưng với ba Pháp ấn, tức là cùng tương ưng với Phật pháp, th́ cho dù có ai đó nói rằng đây không phải do Phật thuyết, th́ nó cũng đúng với Phật pháp như thường.
Ba Pháp ấn là Chư hành vô thường, Chư pháp vô ngă và Niết-bàn tịch tĩnh. Cũng có thể thêm vào sau Chư hành vô thường một dấu ấn nữa là Chư thọ giai khổ để trở thành Bốn Pháp ấn. Tuy nhiên, Khổ là sự phán đoán của bậc giác ngộ đối với chúng sanh hữu t́nh ở thế gian và nó đă bao hàm trong ư nghĩa Chư hành vô thường, cho nên, theo chân tướng của sự lư mà nói th́ Ba Pháp ấn là đă đầy đủ tất cả.
1. Các hành vô thường, Phạm anityāḥ sarva-saṃskārāḥ, cũng gọi là Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn, gọi tắt là Vô thường ấn: Tất cả các pháp hữu vi ở thế gian đều là vô thường, v́ chúng sinh không rơ biết, cho nên đối với vô thường lại chấp thường, bởi vậy Phật nói vô thường để phá cái chấp thường của chúng sinh.
2. Các pháp vô ngă, Phạm nirātmānaḥ sarva-dharmāḥ, cũng gọi là Nhất thiết pháp vô ngă ấn, gọi tắt là Vô ngă ấn: Tất cả các pháp hữu vi trong thế gian đều là vô ngă, vi chúng sinh không rơ biết, cho nên đối với hết thảy pháp đều cho là có chủ tể, bởi vậy Phật nói vô ngă để phá cái chấp ngă của chúng sinh.
3. Niết bàn tịch tĩnh, Phạm śantaṃ nirvāṇam, cũng gọi là Niết bàn tịch diệt ấn, Tịch diệt niết bàn ấn, gọi tắt là Niết bàn ấn: Hết thảy chúng sinh không biết cái khổ sinh tử, nên khởi hoặc tạo nghiệp, trôi lăn trong ba cơi, bởi thế Phật nói pháp Niết bàn đẻ ra khỏi khổ sinh tử, được Niết bàn tịch diệt, an vui.

  trois sceaux du Dharma (samboin, 三法印). Trois principes d'identification du bouddhisme : impermanence, non-substantialité, nirvana. En y ajoutant la souffrance, on a les quatre sceaux du Dharma qui permettent de distinguer les enseignements bouddhiques des autres doctrines.



Tam phân biệt              三分別    tri-vikalpa
Ba loại tác dụng suy tư, phân biệt, gồm:
1. Tự tính phân biệt (svabhāva-vikalpa), cũng gọi là Nhậm vận phân biệt, Tự tính tư duy. Đây là tác dụng nhận biết của tâm thức; đối trước cảnh sở duyên hiện tại (cảnh sở duyên là đối tượng của nhận thức), tâm thức nhận biết một cách tự nhiên, ít phải suy tư, khảo xét. Đây là loại nhận thức đơn thuần.
2. Tuỳ niệm phân biệt (anusmaraṇa-vikalpa), cũng gọi là Tuỳ ức tư duy. Là một loại tác dụng tâm thức tương ứng với ư thức; đối với việc quá khứ, tâm thức này nhớ nghĩ không quên, nhớ tưởng tuỳ theo việc hoặc truy niệm tuỳ theo cảnh.
3. Kế độ phân biệt (abhinirūpaṇā-vikalpa), cũng gọi là Kế độ phân biệt, Suy đạc phân biệt, Phân biệt tư duy. Là tác dụng tính toán suy lường đối với các sự tướng không hiện tiền.
Theo thuyết của Luận Bà-sa th́ Nhị thiền trở lên là các cơi không có Tầm và Tứ nên không có Tự tính phân biệt; từ Sơ thiền trở lên là cơi định nên không có Kế độ phân biệt, chỉ có Tuỳ niệm phân biệt là cả ba cơi đều có.

 

Tam thế       trois phases de l'existence     three times    三世    trayo dhvānaḥ
Ba khoảng thời gian: Quá khứ, hiện tại và tương lai. C̣n gọi là tiền thế, hiện thế, lai thế, hoặc tiền tế, trung tế, hậu tế.
Chữ 'Thế' có nghĩa là cách biệt, là thay đổi, là biến hoá. Thời gian chuyển biến, thay đổi nên tạo ra khoảng cách quá khứ, hiện tại, tương lai, gọi là 'Thế'. Tuy nhiên, các tông phái Phật giáo thường nói: 'Thời gian không có tự thể riêng biệt, chỉ căn cứ vào các pháp mà đặt ra (thời vô biệt thể, y pháp nhi lập 時無別體,依法而立). Điều này cho thấy Phật giáo không thừa nhận thời gian có tự thể riêng biệt, mà nói rằng thời gian là căn cứ vào trạng trái của các pháp mà phân ra. Nghĩa là, khi các pháp sinh mà có tác dụng th́ gọi là hiện tại, các pháp đă tiêu diệt hết hoặc tác dụng của nó bị dừng lại th́ gọi là quá khứ, các pháp chưa sinh cũng chưa có tác dụng th́ gọi là vị lai.

  trois phases de l'existence (san-ze, 三世). Perception relativiste du temps : passé, présent, futur. Cette approche ne contredit pas la notion d'atemporalité exprimée par le terme gohyaku jintengo car elle se situe sur un autre plan, celui de la perception par le simple mortel. Ainsi l'expression "Dans les trois phases de l'existence" désigne l'éternité où les trois phases sont inséparablement liées par la loi de cause à effet.




Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27