Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Searh text

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Search by letter
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Search by category:
BouddhasSutraName-LocationTerms

Bilingual
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14 

Calm, silent place        Lieu calme    A lan nhă    阿蘭若    Àranya
  Là núi rừng, đồng hoang, những nơi yên tĩnh vắng vẻ, thích hợp với những người xuất gia tu hành. C̣n có nghĩa là nơi xa ĺa, nơi vắng lặng, nơi rất thong thả, nơi không tranh giành.

cause and effect        causalité     Nhân quả    因果    hetu-phala
Cause and effect; every cause has its effect, as every effect arises from a cause.


  Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả.
Phật giáo cho rằng, tất cả các pháp đều y cứ vào nguyên lư nhân quả để sinh thành và hoại diệt.
Nhân là cái có năng lực phát sinh. Quả là cái kết quả được phát sinh. Như vậy, có nhân chắc chắn phải có quả, có quả chắc chắn phải có nhân. Do nhân mà sinh ra quả, nhân quả rơ ràng.
Thập pháp giới gồm cả mê và ngộ cũng không nằm ngoài mối quan hệ nhân quả. Chẳng hạn, ngoại giới khách trần và chủ thể nội tâm của chúng sanh cũng hỗ tương làm nhân duyên cho nhau ; do chúng sanh vô minh mà khởi lên ngă kiến, ngă kiến lại duyên với khách thể của ngoại giới, khách thể hấp dẫn khiến cho chúng sanh khởi lên tham dục, do tham dục dẫn đến hành động xấu ác, do hành động xấu ác dẫn đến tái sinh và hứng chịu những thống khổ, do thống khổ lại chất chồng thêm vô minh. Cái này cái kia làm nhân duyên, quả báo cho nhau, nhân quả hỗ tương qua lại.
Nhân quả có thể phân ra như sau : Nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian, nhân quả mê giới, nhân quả ngộ giới.
Căn cứ Tứ diệu đế mà nói th́, Khổ đế và Tập đế là cặp nhân quả của mê giới, nhân quả thế gian ; Diệt đế và Đạo đế là cặp nhân quả của ngộ giới, nhân quả xuất thế gian.
Đứng về mặt thời gian mà nói th́, nhân quả chi phối cả ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai. Đứng về mặt không gian mà nói th́, ngoại trừ Pháp vô vi, tất cả vạn sự vạn vật đều bị chi phối bởi luật nhân quả. Phật và Bồ-tát cũng như vậy.
Đứng trên lập trường cơ bản và thực tiễn của tôn giáo mà nói th́, Đại thừa hay Tiểu thừa đều có những cơ sở lư luận và phân loại cụ thể về giáo lư nhân quả. Tựu trung, Tiểu thừa đem mối quan hệ nhân quả phân ra làm Sáu nhân, Bốn duyên, Năm quả, đặc biệt coi trọng hành vi và nhận thức của con người, nhằm giải quyết các vấn đề như phiền năo, nghiệp do đâu mà sinh, làm thế nào để đoạn trừ… Đại thừa th́ coi Duyên khởi chính là trạng thái hỗ tương của các mối quan hệ nhân quả, lấy Bốn duyên, Mười Nhân, Năm quả làm nội dung chủ yếu cho mối quan hệ nhân quả đó, đồng thời thuyết minh A-lại-da là trung tâm hành vi và nhận thức của con người.
Ngoài ra, các tông phái Phật giáo đều nói rơ thiện nhân thiện quả, ác nhân ác quả và giải thích, hễ nghiệp nhân thiện th́ chắc chắn đưa tới quả báo thiện, nghiệp nhân ác th́ chắc chắn có quả báo ác. Tuy nhiên, do hai nghiệp thiện và ác chiêu cảm quả báo hạnh phúc và khổ đau hệ thuộc pháp vô kư, có tính chất phi thiện phi ác, cho nên thiện nhân đưa tới thiện quả, ác nhân đưa tới ác quả cũng gọi là thiện nhân lạc quả, ác nhân khổ quả. Như vậy, hễ có nghiệp nhân thiện, ác th́ chắc chắn có cái quả báo khổ hoặc vui, lư nhân quả nghiễm nhiên, không hề sai khác, gọi là nhân quả báo ứng.

cause and effect        causalité     Nhân quả ứng báo    因果應報    hetu-phala
Cause and effect in the moral realm have their corresponding relations, the denial of which destroys all moral responsibility.


  Cũng gọi là Nhân quả ứng báo, Nhân quả nghiệp báo, Nhân ác nghiệp báo.
Gieo nhân th́ được quả, lú ấy rất rơ ràng, không sai lầm. Nghĩa là tất cả mọi sự vật đều bị pháp tắc nhân quả chi phối; hễ nhân lành th́ ắt sinh quả lành, gọi là Thiện nhân thiện quả; c̣n nhân ác th́ chắc chắn mang lại quả ác, gọi là Ác nhân ác quả, không hề sai trật.

characteristics of phenomena            Pháp tướng    法相    
The aspects of characteristics of things-all things are of monad nature but differ in form. A name of the 法相宗 Faxiang or Dharmalakṣaṇa sect (Jap. Hossō), called also 慈恩宗 Cien sect from the Tang temple, in which lived 窺基 Kuiji, known also as 慈恩. It "aims at discovering the ultimate entity of cosmic existence n contemplation, through investigation into the specific characteristics (the marks or criteria) of all existence, and through the realization of the fundamental nature of the soul in mystic illumination". "An inexhaustible number" of "seeds" are "stored up in the Ālaya-soul; they manifest themselves in innumerable varieties of existence, both physical and mental". "Though there are infinite varieties. . . they all participate in the prime nature of the ālaya." Anesaki. The Faxiang School is one of the "eight schools", and was established in China on the return of Xuanzang, consequent on his translation of the Yogācārya works. Its aim is to understand the principle underlying the 萬法性相 or nature and characteristics of all things. Its foundation works are the 解深密經, the 唯識論, and the 瑜伽論. It is one of the Mahāyāna realistic schools, opposed by the idealistic schools, e.g. the 三論 school; yet it was a "combination of realism and idealism, and its religion a profoundly mystic one". Anesaki.


  1. Tướng trạng của các pháp. Chủ trương đặc biệt của tông Duy thức là phân tích hoặc phân loại và thuyết minh tướng trạng của các pháp, v́ thế tông này cũng được gọi là tông Pháp tướng.
2. Chỉ cho phạm vi, sự khu biệt, cương yếu về mặt giáo nghĩa.
3. Chỉ cho Chân như, Thực tướng. Đồng nghĩa với với Pháp tính.

compassion            Từ Bi    慈悲    maitrya
  Quan tâm, lo lắng, thương yêu tất cả chúng sanh.
Từ bi là tâm niệm của chư Phật, là cánh cửa mở ra Phật đạo.
Kinh Niết-bàn Nam bản nói : “Tất cả các bậc Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, chư Phật Như lai đều lấy tâm từ bi làm gốc rễ cho mọi thiện căn”.
Kinh Quán vô lượng thọ nói: “Tâm của Phật chính là tâm đại từ bi, thương yêu tất cả mọi loài chúng sanh mà không cần một điều kiện nào”.
Luận Đại trí độ nói: “Từ bi là nền tảng căn bản của con đường thành Phật, v́ tâm từ bi là một thứ sức mạnh, cho dù trải qua vô lượng a-tăng-kỳ kiếp sinh tử, tâm này vẫn không mất”.
Luận Thập trụ tỳ-bà-sa nói: “Tất cả chư Phật Như Lai đều sinh ra từ tâm đại bi. Cho nên, bước đầu tiên của quá tŕnh tu hành Phật đạo là lấy Ngũ đ́nh tâm quán để đối trị những tâm ư loạn động, quán từ bi để đối trị tâm sân hận… từ từ tu hành phát triển lên. Hoặc tu tập bốn tâm vô lượng, hoặc tu thập hạnh, hay tu tập bất cứ pháp môn ǵ th́ cũng không thể thiếu tâm từ bi, thương yêu tất cả muôn loài. Từ bi và trí tuệ là biểu hiện đạo đức và giác ngộ của Phật pháp. Trong khi đó, Bồ-tát Quán thế âm tượng trưng cho tâm từ bi của Phật A-di-đà, Bồ-tát Phổ hiền tượng trưng cho tâm từ bi của Phật Thích-ca”.
Từ bi trong đạo Phật bao gồm những ư nghĩa sau đây:
1. Trừ khổ - ban vui: Tâm từ là bạt trừ nỗi khổ cho chúng; tâm bi là đem đến niềm vui hạnh phúc cho chúng sanh, hoặc ngược lại từ là ban vui, bi là cứu khổ.
Kinh Niết-bàn nói: “Làm cho chúng sanh nhổ trừ mọi việc không đưa tới lợi ích, gọi là đại từ; mong muốn đem đến cho chúng sanh vô lượng lợi ích an lạc, gọi là đại bi”.
Luận Đại trí độ cũng nói: “Đại từ là cho chúng sanh niềm vui; đại bi là giúp chúng sanh hết khổ”.
2. Ba duyên từ bi (ba cấp bậc của tâm từ bi):
- Một là, chúng sanh duyên từ: Chúng sanh là đối tượng của tâm từ bi. Bồ-tát quán chúng v́ muốn làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên tâm từ lấy chúng sanh là đối tượng, từ chúng sanh mà hiện khởi, y trên chúng sanh mà diệu dụng, gọi là chúng sanh duyên từ, tức từ bi tâm lấy chúng sanh làm đối tượng.
- Hai là, pháp duyên từ, đó: Quán chiếu pháp, thấy rơ bản chất hư huyễn, bất thực của chúng, nhân đó Bồ-tát khởi tâm từ bi, gọi là pháp duyên từ. Các bậc Thánh hiền đă phá trừ được cái tướng chấp ngă, không c̣n thấy tướng dị diệt giữa ta và người, quán thấy tất cả chúng sanh chỉ là cái thân vay mượn năm uẩn hoà hợp mà thành, từ đó khởi ḷng từ bi. Nói một cách khác, tất cả chúng sanh ở đây v́ không biết các pháp là Không, cho nên khởi lên vọng tưởng tham muốn; các bậc Thánh hiền thấy chúng sanh như vậy rất lấy làm thương xót, liền khởi ḷng từ bi mong muốn làm cho chúng sanh được vui giải thoát.
- Ba là, vô duyên từ: Cứu cánh là tâm từ bi tuyệt đối, khởi lên không do bởi điều kiện, gọi là vô duyên từ. Tâm của chư Phật không trụ nơi pháp có tính hữu vi hay vô vi, không trụ nơi quá khứ, hiện tại, tương lai, biết rơ các pháp vốn không thật, chỉ là cái tướng điên đảo hư nguỵ giả dối mà thôi, cho nên tâm của chư Phật không duyên vào đâu cả, không duyên vào đâu hết mà khởi tâm từ bi. Cái tâm từ bi không điều kiện ấy gọi là tâm Phật. Phật thương chúng sanh không thấy, không biết thật tướng của các pháp, tương lai sẽ đoạ lạc năm đường; thương chúng sanh cứ măi chấp trước, bám víu vào các pháp, phân biệt thủ xả; v́ vậy, Phật khai thị, giáo hoá cho chúng sanh có được trí tuệ để thấy được tướng thật của các pháp.


Concentration of cessation            Diệt tận định    滅盡定     Nirodhasamāpatti
  Cũng gọi Diệt thụ tưởng định, Diệt tận tam muội.
Định Diệt tận (diệt hết).
Cảnh giới Thiền định trong đó mọi hoạt động tâm lư đều bị diệt hết và hành giả hoàn toàn ở trong trạng thái vô tâm. Diệt tận định và Vô tưởng định gọi chung là hai định Vô tâm. Nhưng Vô tưởng định là định của phàm phu chứng được, c̣n Diệt tận định th́ Phật và các bậc A la hán giải thoát hoàn toàn do xa ĺa chướng ngại của định mà chứng được, tức là chư Phật, A la hán dùng sức thắng giải của hiện pháp Niết bàn mà tu định này.

contaminated            Hữu lậu    有漏    Sāsrava
  Lậu, Āsrava, nghĩa là thấm ra, ṛ rỉ, tên khác của phiền năo.
Phiền năo sinh ra tội lỗi làm cho con người trôi lăn trong thế giới mê vọng không ngừng, khó có thể ra khỏi biển khổ sinh tử.
Hữu lậu là c̣n sinh tử luân hồi, c̣n rơi rớt trong ba cơi. Pháp hữu lậu là pháp khiến chúng sinh bị trôi lăn trong ba cơi.

contaminated            Dục lậu    欲漏    kāmāsrava
  Một trong ba lậu.
C̣n gọi là Dục hữu lậu.
Dục là chỉ cho năm đối tượng (tài, sắc, danh, thực, thùy) mà chúng sanh tham muốn ở cơi Dục giới.
Lậu là tên gọi khác của phiền năo.
Do tham dục mà phát sanh phiền năo, cho nên gọi là Dục lậu.

Content with few desires        désirer peu, se rejouir d'un rien    Thiểu dục tri túc    少欲知足    alpeccha saṃtuṣṭa
Content with few desires

  Thiểu dục là ít tham muốn. Tri túc là biết đủ.
Kinh Vô lượng thọ, quyển thượng, nói: "Thành tựu năng lực nhẫn nhục, không tính toán hơn thua, ít tham muốn, biết đủ, thù không bị ô nhiễm bởi sân si".


correct effort            Chánh tinh tiến    正精進    samyak-prahāṇāni
  C̣n gọi là Chánh phương tiện. Phát nguyện nổ lực đoạn trừ tất cả các pháp bất thiện đă sanh; ngăn chặn những pháp bất thiện chưa sanh, không cho pháp bất thiện h́nh thành; những pháp thiện chưa sanh th́ t́m cách cho nó phát sanh; những pháp thiện đă sanh rồi th́ nuôi dưỡng, khiến cho ngày thêm lớn mạnh.
Tinh tiến là siêng năng. Chánh tinh tiến là siêng năng làm việc tốt, những việc lợi ḿnh, lợi người và cùng đi đến an lạc, hạnh phúc chân chánh.

correct mindfulness            Chánh niệm    正念    samyak-smṛti
Recollection, memory; to think on, reflect; repeat, intone; a thought; a moment.

  - Niệm, smrti, là trạng thái chú tâm, sự hiện hữu của tâm trên đối tượng, là phát khởi và duy tŕ ư thức về một đối tượng. Niệm đơn giản là để tâm tới đối tượng và chỉ để tâm tới thôi, không cần phải suy tư, tưởng tượng và phân tích ǵ hết, ngoài đối tượng hoàn toàn không hay biết ǵ khác xảy ra bên trong hay bên ngoài ta.
- Chánh niệm, samyak smrti, là sự ư thức và tập trung chân chánh, rơ ràng, an tĩnh, sự ư thức về đối tượng bên trong và bên ngoài (của thân, thọ, tâm, pháp) một cách không chấp trước và vướng mắc, tức là sự ư thức đơn thuần để tiếp xúc thực tại như thật của nó (hiện lượng) mà không liên hệ đến các hoạt động lư luận, đánh giá và phân biệt.
Chánh niệm là ư thức được cái ǵ đang xảy ra trong giây phút hiện tại, sống với giờ phút hiện tại, trong cái xảy ra đang là. Do đó, nó loại bỏ mọi khuynh hướng của chủ nghĩa quá khứ và tương lai.

correct speech            Chánh ngữ    正語    samyag-vāc
  Chánh ngữ là lời nói chân chánh, lời nói thật thà, lương thiện, công bằng ngay thẳng, công minh chánh trực, có lợi ích chánh đáng, không gây tổn thương cho ḿnh và cho người. Chánh ngữ là lời nói chân thật, không bị chi phối bởi thế lực, tiền tài hay dục vọng. Chánh ngữ là lời nói hợp với Chánh pháp, đem lại hoà b́nh, yên vui cho mọi người mọi nơi. Chánh ngữ là lời nói không thiên vị, không xuyên tạc, không vu oan giá họa, không khủng bố đe dọa.
Hầu hết các kinh điển khi nói đến Chánh ngữ đều định nghĩa như Kinh Tạp A hàm: “Là xa ĺa nói dối, xa ĺa nói hai lưỡi, xa ĺa nói ác khẩu, xa ĺa nói thêu dệt”.
Xem bài nói về Chánh ngữ


correct thought            Chánh tư duy    正思惟     samyak-saṃkalpa
  Chánh tư duy là suy nghĩ chân chính, là quán chiếu, nghiệm xét một cách đúng đắn, hợp với chân lư, không trái với lẽ phải, có lợi cho ḿnh và cho người, không gây khổ đau cho ḿnh và cho mọi loài; những suy nghĩ không bị dính mắc bởi tham dục, sân hận, hại người hại vật...
Chánh tư duy là suy nghĩ dựa trên sự thật, không phải tư duy trên mây, không dính líu ǵ đến thực tế. Tư duy trên sự thật là tư duy về Tứ diệu đế, về Vô thường, Vô ngă và Duyên sinh. Trong đời sống tu tập hằng ngày, nếu như những suy nghĩ của chúng ta mà không dính líu ǵ đến những sự thật đó, th́ có nghĩa là con Ma đă và đang dẫn chúng ta đi. Con Ma đó là Tà tư duy. Một ư nghĩ không đúng đắn, tức Tà tư duy, sẽ dẫn đến một hành động không đúng đắn, một lời nói không ái ngữ.

Crimes which requires expiation        Fautes qui exigent l'expiation    Ba dật đề    波逸提    Pāyattika
The monks and the buddhist nones have to respect precepts. Those who make errors, have to repair them by expressing their regret.

  Là một trong những giới luật mà các tỳ kheo và tỳ kheo ni phải giữ. Nếu không giữ giới này th́ sẽ phạm tội nhẹ, có nghĩa là khi phạm các điều tội lỗi, nếu chịu sám hối th́ có thể diệt được tội, nếu không sám hối th́ sẽ rơi vào ngả ác.

deed as cause            Nghiệp nhân    業因    karma-hetu
The deed as cause; the cause of good or bad karma.


  Nhân của nghiệp, có 2 nghĩa:
1. Nghiệp tức nhân (cũng gọi Nhân nghiệp): Nghiệp làm nhân sinh ra quả báo ở đời sau.
2. Nhân của nghiệp: Nhân làm chop nghiệp sinh trưởng.
Kinh Đại niết bản nói: "Nghiệp nhân tức là Vô minh, Xúc. V́ Vô minh, Xúc nên chúng sinh mong cầu Hữu. Nhân duyên mong cầu Hữu tức là Ái vậy. Do nhân duyên Ái mà tạo tác các nghiệp thiên, khẩu, ư".


delusion regarding the self            Ngă si    我癡    ātmamoha
Ego-infatuation, confused by the belief in the reality of the ego.

  Si mê nơi ngă tướng, ngu tối không thấy lư vô ngă. Cùng với Ngă kiến, Ngă mạn, Ngă ái hợp thành 4 thứ phiền năo căn bản.
Duy thức tam thập tụng nói rằng, bốn thứ phiền năo thường liên hệ với nhau là ngă si, ngă kiến, ngă mạn và ngă ái. Tất cả mọi phiền năo, nghiệp chướng phát sinh đều do sự ngu si dẫn đầu, cho nên biết rằng do ngă si mà ba thứ phiền năo kia phát sinh. Ngă si là đứng đầu trong các phiền năo vô minh.

dependent origination, conditioned genesis, dependent co-arising        coproduction conditionnée, interdépendance des phénomènes     Duyên khởi    縁起    pratītya-samutpāda
Arising from conditional causation; everything arises from conditions, and not being spontaneous and self-contained has no separate and independent nature

  Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên (các điều kiện) hoà hợp mà thành, lí này gọi là duyên khởi. Tức là bất cứ sự vật ǵ trong thế giới hiện tượng đều nương vào những điều kiện nhân duyên mà sinh khởi, tồn tại, biến hoá (vô thường), và tiêu diệt. Đó là pháp tắc mà đức Phật đă chứng ngộ được. Như 12 chi duyên khởi đă được giải thích rơ trong các kinh điển A hàm: Vô minh là duyên của hành, hành là duyên của thức, cho đến sinh là duyên của già, chết; "v́ cái này có nên cái kia có, cái sinh nên cái kia sinh", để chỉ bày rơ lư sinh tử nối nhau, đồng thời cũng nêu rơ lí "cái này không th́ cái kia không, cái này diệt th́ cái kia diệt" để đoạn trừ vô minh chứng Niết bàn. Lư Duyên khởi này là sự chứng ngộ thành đạo của đức Phật. Đối với luận điểm của các tôn giáo khác ở Ấn độ chủ trương cái "ta" (ngă), và các pháp đều có tự tính thực tại, đức Phật đă bác bỏ hết và tuyên bố rằng, vạn hữu đều nương vào nhau mà tồn tại, không có tự tính độc lập. Ngài dùng nguyên lư duyên khởi để giải thích nguồn gốc của thế giới, xă hội, nhân sinh và sự sản sinh của những hiện tượng tính thần, mà kiến lập nhân sinh quan và thế giới quan riêng và là đặc trưng lớn nhất của Phật giáo khác hẳn với các tư tưởng, triết học và tôn giáo khác.

Dharma        Dharma    Pháp    法    Dharma
Law, truth, religion, thing, anything Buddhist. Dharma is 'that which is held fast or kept, ordinance, statute, law, usage, practice, custom'; 'duty'; 'right'; 'proper'; 'morality'; 'character'. M. W. It is used in the sense of 一切 all things, or anything small or great, visible or invisible, real or unreal, affairs, truth, principle, method, concrete things, abstract ideas, etc. Dharma is described as that which has entity and bears its own attributes. It connotes Buddhism as the perfect religion; it also has the second place in the triratna 佛法僧, and in the sense of 法身 dharmakāya it approaches the Western idea of 'spiritual'. It is also one of the six media of sensation, i. e. the thing or object in relation to mind, v. 六塵.

  1. Pháp bao hàm mọi sự vật cụ thể hay trừu tượng, cái ǵ có thể cho ta một khái niệm về nó đều gọi là pháp. Danh từ Pháp thường được định nghĩa: 'nhậm tŕ tự tính, quĩ sinh vật giải'. Có nghĩa là: Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng, có tự tính, bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nh́n vào là có thể nhận thức và lí giải được.
2. Chỉ cho đối tượng phân biệt của thức thứ 6, cũng gọi là Pháp xứ (Dharmāyatana), hoặc pháp giới (Dharma-dhātu).
3. Tiếng dùng trong Nhân minh luận. Hàm ư tính chất, thuộc tính.

discursive thought and investigation        signifie pensée conceptuelle    Tầm tứ    尋伺    vitarka-vicāra
two conditions in dhyāna discovery and analysis of principles; vitarka 毘擔迦 a dharma which tends to increase, and vicāra 毘遮羅one which tends to diminish, definiteness and clearness in the stream of consciousness; cf. 中間定.


  Tầm tứ là từ dịch nghĩa của từ tiếng Phạm vitarka-vicāra, xưa dịch là ‘giác quán’, là tên gọi chung của hai tâm sở Tầm và Tứ. Tầm là tác dụng của tư duy, truy t́m để hiểu được danh nghĩa (tên gọi và ư nghĩa của tên gọi đó) của các pháp ở dạng thức đơn giản. Tứ (hay đọc là Từ) là tác dụng của tư duy ở dạng thức tinh tế hơn, đào sâu vào vấn đề để hiểu rơ hơn về danh nghĩa của các pháp, nó không có mặt trong tất cả các tâm, cũng không khởi lên trong mọi lúc, tính của nó rất chậm chạp, nhưng đi sâu vào bản thân của đối tượng để hiểu đối tượng, và nó cùng có mặt một lúc với ‘tầm’ để phát huy tác dụng của ngôn ngữ.
Luận Câu xá xếp Tầm và Tứ vào mục Bất định địa pháp, là hai tâm sở trong 75 pháp. Duy thức th́ xếp nó vào trong 4 pháp bất định, là hai trong 100 pháp.

disposition            Tuỳ miên    隨眠    Anuśaya
Yielding to sleep, sleepiness, drowsiness, comatose, one of the kleśa, or temptations; also used by the Sarvāstivādins as an equivalent for kleśa, the passions and delusions; by the 唯識 school as the seed of kleśa; there are categories of 6, 7, 10, 12, and 98 kinds of 隨眠.

  Âm thầm đi theo.
Tên khác của phiền năo.
Theo Duy thức tông, Tuỳ miên là tên của hai loại chủng tử phiền năo chướng và sở tri chướng.
Tuỳ có nghĩa là đi theo chúng sanh hữu t́nh, không tách rời chúng sanh hữu t́nh; miên là phiền năo tiềm phục, nằm sâu kín bên trong, vi tế, khó nhận biết, như trạng thái của người đang ngủ. Tuỳ miên là những phiền năo nằm sâu kín bên trong tâm và đi theo chúng sanh hữu t́nh từ đời này qua đời khác.
Phiền năo theo đuổi con người ta làm cho rơi vào trạng thái mờ mịt, nặng nề; trạng thái hoạt động của các phiền năo âm thầm, nhỏ nhiệm khó biết được, cùng với đối cảnh và tâm, tâm sở tương ứng ảnh hưởng lẫn nhau mà thêm lớn mạnh (tuỳ tăng), v́ nó trói buộc (tuỳ phược) con người nên gọi là Tuỳ miên. Có 6 thứ: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, gọi là Lục tuỳ miên (6 phiền năo căn bản). Trong đó, Tham được chia ra Dục tham và Hữu tham thành ra 7 Tuỳ miên. Ác kiến được chia ra Thân kiến, Biên kiến, Tà kiền, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến thành 10 Tuỳ miên. Ngoài ra, những phiền năo này lại thêm những phần nhỏ nhiệm khó thấy, th́ thành 98 thứ Tuỳ miên.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14