Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Searh text

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Search by letter
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Search by category:
BouddhasSutraName-LocationTerms

Bilingual
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14 

identity        arrogance    Ngă mạn    我慢    Asmimāna
Iidentity; self-pride, pride; conceit. Egoism exalting self and depreciating others; self-intoxication, pride.


  Tâm kiêu mạn do chấp ngă là trung tâm, 1 trong 7 thứ mạn, 1 trong 9 thứ mạn.
Luận Thành duy thức quyển 4 định nghĩa: "Ngă mạn là tâm cao ngạo do chấp ngă mà sinh".

identity        arrogance    Mạn    慢    Asmimāna
  Mạn, đọc từ tiếng Phạm māna, là một loại tâm sở (tác dụng của tâm gọi là tâm sở). Nó ám chỉ cái tâm tự măn, cao ngạo, khi nào cũng thấy ḿnh tài giỏi hơn người khác và tỏ ư coi thường người khác. Nó cùng một loại với ‘kiêu’, nhưng không thực sự tương đồng. ‘Kiêu’ là tự cho ḿnh xinh đẹp, có huyết thống cao quư, có học thức… hơn người khác và tỏ ư tự hào. Cùng một cách như vậy, nhưng ‘mạn’ là cái tâm vọng tưởng về chính bản thân ḿnh, tức ḿnh không đẹp, không giỏi, không cao quư… mà tự cho ḿnh như thế, nghĩ ḿnh ưu tú hơn người, khi nào cũng muốn khoe khoang, ngạo mạn.
Duy thức tông xếp ‘mạn’ vào một trong 6 tâm sở căn bản phiền năo. C̣n Câu xá tông xếp nó vào một trong các pháp bất định địa.
Người ta đă chia ‘mạn’ ra thành những tâm lư nhỏ hơn, vi tế hơn, thành 7 mạn, 8 mạn, 9 mạn.
Luận Đại thừa ngũ uẩn chia ‘mạn’ ra thành 7 loại: 1. mạn; 2. quá mạn; 3. mạn quá mạn; 4. ngă mạn; 5. tăng thượng mạn; 6. ti mạn; 7. tà mạn.
Luận Đại t́ bà sa quyển 43 và 50, luận Câu xá quyển 19, giải thích nội dung 7 mạn như sau:
1. Mạn: Đối với người kém hơn ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người bằng ḿnh th́ nghĩ ḿnh bằng họ. Cái tâm lư này xem ra rất tự nhiên, không thể nói là xấu, thế nhưng, khi tâm lư này biểu hiện, nó thường có ư cao ngạo, v́ vậy mà không tốt.
2. Quá mạn: Đối với người bằng ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người hơn ḿnh, nghĩ ḿnh bằng họ.
3. Mạn quá mạn: Đối với người hơn ḿnh, nghĩ họ thua ḿnh.
4. Ngă mạn: Cho năm uẩn là ta, của ta.
5. Tăng thượng mạn: Chưa chứng quả mà tự cho ḿnh đă chứng quả, chưa đoạn trừ hết phiền năo mà nói ḿnh đă hết phiền năo.
7. Tà mạn: Không có đức độ, lại buông lung làm việc ác, mà tự cho ḿnh có đức độ.
Những người nào có tâm mạn nói trên, nếu không theo học với bậc thiện tri thức, không hành đạo xuất ly, th́ không bao giờ thoát khỏi sinh tử luân hồi.


ignorance        obscurité fondamentale    Vô minh    無明    Avidyā
Commonly tr. 'ignorance', means an unenlightened condition, non-perception, before the stirrings of intelligence, belief that the phenomenal is real, etc.

  Tên khác của phiền năo. Nghĩa là không có trí tuệ, không thấy biết một cách đúng như thật, tức trạng thái tinh thần mờ tối đối với sự vật, không thông suốt chân lư và không thể lư giải rơ ràng sự tướng hoặc đạo lư, cũng tức là không thấu, không hiểu, không rơ sự thật, lấy ngu si làm tự tướng.
Kinh Tạp A hàm, đức Phật định nghĩa: “Thế nào là vô minh? Nếu chẳng biết kiếp trước, chẳng biết kiếp sau, chẳng biết cả kiếp trước lẫn kiếp sau; chẳng biết trong, chẳng biết ngoài, chẳng biết cả trong lẫn ngoài; chẳng biết nghiệp, chẳng biết báo, chẳng biết nghiệp báo; chẳng biết Phật, chẳng biết Pháp, chẳng biết Tăng; chẳng biết Khổ, chẳng biết Tập, chẳng biết Diệt, chẳng biết Đạo; chẳng biết nhân, chẳng biết pháp sinh khởi bởi nhân; chẳng biết thiện, bất thiện, có tội, không tội, tập, không tập; hoặc kém, hoặc hơn; nhiễm ô, hoặc thanh tịnh; phân biệt duyên khởi, tất cả đều chẳng biết; đối với sáu xúc nhập xứ không giác tri như thật, đối với các pháp này không thấy không biết, không hiện quán, bị si ám, không có minh, tối mù mịt, đó gọi là vô minh".

Immaculate conscience        Conscience immaculée    A ma la thức    阿摩羅識    Amala-vijñāna
Pure conscience, is also the ninth conscience.

  Thức thanh tịnh vô cấu, cũng gọi là thức thứ chín.
Amala có nghĩa là không ô nhiễm, bạch tịnh, vô cấu, thanh tịnh. A-ma-la thức là Thức thanh tịnh, vô cấu.

Impermanent        Impermanent    Vô thường    無常    Anitya
impermanent, transient, illusory, as evidenced by old age, disease, and death.

  Tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh, tuỳ thuộc 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt mà biến hoá đổi dời trong từng sát na, xưa có nay không, nay có sau không, chẳng lúc nào thường trụ, v́ thế nên gọi chung là Vô thường.

Xem bài Vô thường


Impersonality        Impersonnalité    Vô ngă    無我    anātman, anātmaka, nirātman, ni-rātmika, nairātmya
Non-ego, not -self, impersonality

  Ngă (ta) tức là vĩnh viễn bất biến (thường), độc lập tự tồn (nhất), là sở hữu chủ trung tâm (chủ), có năng lực chi phối (tể). Nghĩa là: Ta là cái chủ tể thường nhất, vĩnh viễn không thay đổi, tồn tại một cách độc lập, tức là cái linh hồn hoặc bản thể có thật.
Phật giáo không chấp nhận có một cái Ngă như thế, gọi là Vô ngă.
Vô ngă là một trong những giáo nghĩa căn bản của Phật giáo.
Phật giáo nói Vô ngă với mục đích phủ định quan niệm cho rằng vạn pháp có thật thể và có linh hồn tồn tại bất biến trong sinh mạng chúng sinh.
Trong Phật giáo, Vô ngă có hai loại:
1. Nhân vô ngă: con người do vay mượn năm uẩn hoà hợp mà thành, tuyệt đối không có một cái (ngă) chủ thể tồn tại thường hằng, bất biến.
2. Pháp vô ngă: các pháp do nhân duyên hoà hợp mà sanh, luôn luôn thay đổi, tuyệt đối không có một chủ tể thường hằng.
Phật giáo không thừa nhận có một cái ‘ngă’ là chủ thể thường hằng hoặc một ‘thực thể’ tồn tại bất biến. Phật giáo chủ trương tất cả các pháp là Vô ngă, và kiến lập ‘Chư pháp vô ngă’ làm một trong ba dấu ấn chứng nhận chánh pháp.
Các Kinh A-hàm đều nói 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới đều là giả hữu, không có thật thể, không tồn tại một cái ngă.
Vả chăng, để đối trị với bốn quan niệm điên đảo (tứ điên đảo) tịnh, lạc, ngă và thường của thế gian, Đức Phật dạy bốn niệm xứ (tứ niệm xứ) bất tịnh (thân), khổ (thọ), vô ngă (pháp) và vô thường (tâm).
Trong các bộ phái Phật giáo, th́ bộ phái Vātsī-putrīya (Độc-tử bộ) chủ trương trong sinh mạng có một cái ‘ngă không phải đồng nhất cũng không phải thoát ly năm uẩn’, tức là chủ trương ngă và pháp đều có thật, cho nên bị phê phán và gọi tên là ‘ngă pháp câu hữu tông’. Bộ phái Sarvāsti-vādin (Thuyết nhất thiết hữu bộ) th́ chấp nhận con người không có ngă, nhưng lại chủ trương tất cả các pháp là có thật, cho nên bị phê phán và gọi tên là ‘pháp hữu ngă vô tông’.
Đến thời kỳ Phật giáo đại thừa th́ cho rằng con người không có ngă mà các pháp cũng không có ngă, chủ trương ‘nhân vô ngă, pháp vô ngă’.
‘Nhân vô ngă, pháp vô ngă’ cũng c̣n gọi là ‘nhân không, pháp không’.
Kinh điển Phật giáo nguyên thuỷ thường dùng từ ‘vô ngă’, nhưng Phật giáo đại thừa đa phần dùng từ ‘không’. Cho nên cần biết rằng, ‘không’ tức là ‘vô ngă’.
Đại Trí độ luận nói: ‘Tất cả các pháp đều vô ngă. Trong các pháp không có chủ tể, không có tác giả, không biết, không thấy, không có người sinh ra, không có người tạo nghiệp… tất cả đều thuộc nhân duyên; v́ phụ thuộc vào nhân duyên cho nên không được tự tại, v́ không được tự tại cho nên vô ngă, không thể nào nắm bắt được cái tướng của ngă’.


Incommensurable number        Nombre incommensurable    A tăng kỳ    阿僧祇劫    Asamkhya
  Con số vô lượng, con số cực lớn, không thể tính đếm.

Increased by One Āgama Sutras        Les sutras des doctrines numériques     Tăng nhất A hàm kinh    增一阿含經    Ekottarikāgama
  Kinh Tăng nhất A-hàm, tiếng Phạn là Ekottarikāgama, gồm 51 quyển, do Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva) dịch vào đời Đông Tấn (có lẽ trong khoảng thời gian 391-397 Tây lịch), hiện nằm trong ĐTK/ĐCTT, tập 2, số 125, trang 549-830. Các kinh từ số 126 đến 151 là các bản dịch lẻ tẻ thuộc Tăng nhất A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a4, HT. Thích Thanh Từ dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, trọn bộ 3 tập.
Về tên gọi của bổn kinh, theo Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa quyển 1, Ngũ Phần Luật quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54… th́ do kinh này tập hợp các bài pháp thoại có nói đến pháp số, tuần tự sắp xếp từ 1 pháp đến 11 pháp, theo thứ tự tăng dần như vậy nên gọi là Tăng nhất. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa, quyển 1, c̣n cho rằng kinh này Đức Phật v́ chư thiên, người đời… tuỳ thời mà thuyết pháp. Thuyết này không được chính xác lắm!
Toàn kinh được phân thành 52 phẩm, tổng cộng 472 kinh. Mở đầu là phẩm Tự, tŕnh bày sơ lược diễn biến đại hội kết tập, A-nan tụng kinh, và nhân duyên A-nan truyền pháp cho Ưu-đa-la. Tiếp là các phẩm sắp xếp kinh thứ tự theo số pháp, từ 1 đến 11 pháp. 1 pháp có 13 phẩm, 2 pháp có 6 phẩm, 3 pháp có 4 phẩm, 4 pháp có 7 phẩm, 5 pháp có 5 phẩm, 6 pháp có 2 phẩm, 7 pháp có 3 phẩm, 8 pháp có 2 phẩm, 9 pháp có 2 phẩm, 10 pháp có 3 phẩm, 11 pháp có 4 phẩm. Trong đó, cứ sau mỗi kinh hay sau mỗi phẩm đều có bài tụng tóm tắt đại ư của mỗi kinh hay mỗi phẩm. Các bản Tăng nhất A-hàm của Tống, Nguyên, Minh đều ghi nhận có 52 phẩm, 50 quyển. C̣n trong Đại tạng của Cao Ly th́ kinh này có 50 phẩm, 51 quyển.
Về pháp số của kinh này, có hai thuyết. Thuyết thứ nhất cho rằng kinh này vốn có đến 100 pháp, sau v́ quên mất nên chỉ c̣n lại 10 pháp (theo Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 32, A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận quyển 10, Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự quyển 39...). Thuyết thứ hai căn cứ vào Ngũ Phần Luật quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54, Tuyển Tập Tam Tạng và Tạp Tạng Truyện, Phân Biệt Công Dức Luận quyển 2,... cho rằng kinh này thứ tự sắp xếp từ một đến 11 pháp, tổng cộng có 11 pháp. Thuyết này phù hợp với kinh Tăng nhất A-hàm hiện c̣n.
Trong năm bộ Nikāya, th́ kinh này tương đương với Tăng chi bộ (Aṅguttara- nikāya). Tăng chi bộ có 11 tụ, 171 phẩm, 2203 kinh, (nhưng con số này cũng chưa thống nhất), trong đó có 136 kinh tương đương hoặc có thể đối chiếu so với Tăng nhất A-hàm (theo The four Buddhist Àgamas in Chinese). Nhưng trong Phật quang đại tạng kinh, phần đề giải kinh Tăng nhất A-hàm cho biết có 153 kinh của Tăng nhất A-hàm tương đương hoặc gần tương đương với Tăng chi bộ.
Về sự truyền thừa, theo Luận phân biệt công đức, kinh này được truyền từ Nhất thiết hữu bộ. Dịch giả của kinh này xuất thân trong địa bàn truyền giáo của Nhất thiết hữu bộ, cho nên thuyết này cũng rất có lư. Nhưng kinh này lại mang đậm sắc thái Đại thừa, nên ngài Từ Ân cho rằng kinh này được truyền từ Đại chúng bộ. Theo học giả Lương Khải Siêu, kinh này do Nhất thiết hữu bộ truyền, sau đó được bổ sung bởi các bản của Đại chúng bộ.


Infinite hell        Enfer Infini    A tỳ địa ngục    阿鼻地獄    Avīci
  Địa ngục vô gián. Vô gián có nghĩa là không có thời gian gián đoạn. Các chúng sinh chịu khổ ở địa ngục này đều không thể kham nổi những cực h́nh như bị rang, rán... v́ đau đớn quá mà kêu gào, cho nên, nơi đây c̣n được gọi là A tỳ hoán địa ngục (địa ngục kêu gào không dứt). Những kẻ phạm tội ngũ nghịch chắc chắn sẽ đoạ vào địa ngục này, chịu khổ cho đến khi thế giới này hoại th́ sang thế giới khác để chịu khổ tiếp.

Jhanangani - Full concentration states        États de contemplation    Thiền chi    禪支    Jhānangāni
  Thiền là thiền định. Chi là chi phần. Bốn thiền định có tất cả là 18 chi; Sơ thiền gồm 5 chi: Tầm (Giác), Từ (Quán), Hỷ, Lạc, Nhất tâm. Nhị thiền gồm 4 chi: Nội tịnh, Hỷ, Lạc, Nhất tâm; Tam thiền có 5 chi: Xả, Niệm, Tuệ (Trí), Lạc, Nhất tâm; Tứ thiền có 4 chi: Bất khổ bất lạc, Xả, Niệm, Nhất tâm.

Karma-reward            Nghiệp báo    業報    
Karma-reward; the retribution of karma, good or evil.

  Cũng gọi là nghiệp quả.
Kết quả của nghiệp nhân đă tạo nên. Tuỳ theo nghiệp nhân đă tạo là thiện hay ác mà thọ lấy quả báo vui hay khổ. Nghiệp thiện th́ được quả báo tốt đẹp, nghiệp bất thiện th́ cảm quả báo xấu ác, nghiệp vô kí (không thiện không ác) th́ không mang lại quả báo.

karmic illness            Nghiệp bệnh    業病    
Illness as the result of previous karma.

  Cũng gọi là Nghiệp chướng bệnh.
Chỉ cho bệnh tật do nghiệp đời trước sinh ra. Do nghiệp ác gây nên ở đời trước mà bị bệnh nan y, nằm liệt giường, thuốc thang chẳng khỏi, khổ sở trăm bề, cầu sống không được, cầu chết không xong. Nguyên nhân là do nghiệp cũ, th́ cần phải sám hối nghiệp chướng, đọc tụng và viết chép kinh điển, cúng dường tán thán chư Phật, Bồ tát, bố thí pháp giới chúng sinh, nhờ công đức ấy tiêu trừ nghiệp bệnh.

Ksitigarbha Bodhisattva        Bodhisattva Ksitigarbha    Bồ Tát Địa Tạng    地藏菩薩    Kṣitigarbha Bodhisattva
  Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa.
Căn cứ kinh điển ghi chép th́ Bồ-tát Địa Tạng đă nhận lời phó chúc của Đức Thế Tôn, đảm trách việc giáo hóa, cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo trong khoảng thời gian sau khi Đức Thích Tôn nhập niết-bàn và trước trước khi Đức Di-lặc thành Phật, với lời thề nguyện: “Nếu địa ngục chưa hết chúng sinh đau khổ th́ sẽ không thành Phật, chừng nào độ hết chúng sinh th́ mới chứng quả Bồ-đề”. Bởi do lời thề nguyện đó nên ngài được tôn xưng là Đại Nguyện Bồ-tát.
Bồ tát thường tùy nguyện ứng hiện vào thế giới Ta-bà bằng nhiều h́nh tướng sai khác để hóa độ chúng sinh. Tuy nhiên đa phần chúng ta biết đến Ngài qua h́nh ảnh một vị Tỳ-kheo thân tướng trang nghiêm, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm hạt minh châu, đầu đội mũ tỳ lư quán đảnh đứng hoặc ngồi trên con Đế thính. Sở dĩ Ngài hiện thân tướng Tỳ-kheo, do v́ bản nguyện của Ngài là cứu độ chúng sinh ra khỏi cảnh giới sinh tử, nên h́nh ảnh ngài là một con người giải thoát (xuất gia). Tay phải cầm tích trượng, trên đầu tích trượng có mười hai khoen để nói lên ư nghĩa, ngài luôn dùng pháp Thập nhị nhân duyên để giáo hóa chúng sinh. Tay trái cầm hạt minh châu biểu thị trí tuệ. Bồ tát với trí tuệ rộng lớn thường soi sáng tất cả chốn u minh khiến cho chúng sinh hiện đang bị giam cầm trong ngục tối trông thấy ánh sáng đều được thoát ngục h́nh. Bồ tát cỡi con Đế thính, Đế thính là con linh thú, khi mọp xuống đất trong giây lát th́ biết rơ tất cả sự vật trong trời đất. Bồ tát cỡi con Đế thính dụ cho ngài là vị đă nhiếp tâm thanh tịnh, an lập các pháp thức thành tựu cảnh giới thiền định.

latter dharma        derniers jours du Dharma    Mạt pháp    末法    saddharma-vipralopa
  Thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, bấy giờ những lời dạy của Phật bị mất dần, không c̣n người hiểu và hành tŕ đúng chính pháp, cho đến lúc mất hết hoàn toàn. Đồng nghĩa với Mạt thế, Mạt đại.
Phật pháp tồn tại ở thế gian được chia làm ba thời kỳ: Chính pháp, tượng pháp và mạt pháp.
1. Chính pháp: Giáo pháp của Phật c̣n nguyên vị. Sau khi Phật nhập niết bàn, giáo pháp ở đời, nếu nương theo giáo pháp mà tu hành th́ liền được chứng quả, gọi là chính pháp.
2. Tượng pháp: Phật pháp không c̣n nguyên vị, chỉ tương tự mà thôi. Giai đoạn này, giáo pháp tuy có và người tu hành cũng nhiều nhưng không có người chứng quả.
3. Mạt pháp: Giáo pháp của Phật bị tà ma ngoại đạo lợi dụng, xen tạp vào; kinh điển được chú thích, giảng giải tuỳ tiện... làm mất hết hương vị chính pháp. Tuy có nhiều người đi tu, nhiều người quy y Tam bảo nhưng không có ai thực hành theo lời Phật dạy.

Leak        infections     Lậu    漏    Āsrava
'flowing, running, discharge; distress, pain, affliction.' M.W. It is defined as another term for 煩惱 q.v.; also as the discharge, or outflow, from the organs of sense, wherever those exist, hence it is applied to the passions and their filth; impure efflux from the mind, v. 欲有; also to the leakage or loss thereby of the 正道 truth; also to the stream of transmigration.

  Tên khác của phiền năo. Nghĩa đen của chữ 'lậu' có nghĩa ṛ rỉ, tiết ra ngoài. V́ chúng sinh sống trong phiền năo, cho nên từ 6 căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... thường tiết ra những tội lỗi, khiến phải sống chết trôi lăn trong 3 cơi, do đó mà phiền năo được gọi là Lậu.

Liberation        Libération    Giải thoát    解脫    mokṣa, vimokṣa, mukti, vimukti, pi. vimutti
Reach a state of liberation after having unloosed all attachments. Liberation from samsara, the cycle of death and rebirth or reincarnation and all of the suffering and limitation of worldly existence. Its meaning is similar to that of Nirvana in Buddhism

  Nghĩa là đạt tự do sau khi buông xả tất cả những trói buộc trong cuộc sống.
Phàm tất cả cảm thọ ảnh hưởng sự khổ vui của thân tâm đều được giải tỏa, mà đạt đến chỗ sanh tử tự do, chẳng bị thời gian không gian hạn chế, mới là chân giải thoát.

Light Sound heaven        Ciel de Lumière    Quang âm thiên    光音天    Ābhassara-deva
  Một trong các tầng trời cơi Sắc, tức là tầng trời thứ 3 của đệ nhị thiền; tầng trời này ở trên Vô lượng quang thiên và ở dưới Thiểu tịnh thiên. Chúng sinh ở cơi trời này không có âm thanh, chỉ do ánh sáng phát ra từ định tâm để thay ngôn ngữ mà truyền đạt ư nghĩa, v́ thế nên gọi là Quang âm thiên. Chúng sinh có nghiệp tương ứng bậc thượng phẩm cơi Nhị thiền được sinh về cơi này, được sắc tối thắng, thân cao 8 do tuần, sống lâu 8 đại kiếp, lấy sự vui mừng làm thức ăn, trụ trong an lạc, ánh sáng tự nhiên, đầy đủ thần thông, có thể bay đi trong hư không.

Longer Āgama-sutra        Les longs sutras     Trường A hàm kinh    長阿含經    Dīrghāgama
  Kinh Trường A-hàm, tiếng Phạn là Dīrghāgama, gồm 22 quyển, do Phật-đà-da-xá (Buddhayaśas, Tăng nhân nước Kế Tân, bắc Ấn Độ) và Trúc Phật Niệm (người Lương Châu, Cam Túc, Vũ Uy) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thỷ thứ 15 (413 Tây lịch), hiện nằm trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), tập 1, số 1, trang 1-149. Theo Luật Tứ Phần quyển 54, Luật Ngũ Phần quyển 30, Luận Du Già Sư Địa quyển 85 v.v… th́ kinh này tập hợp những bài pháp thoại dài của Đức Thế Tôn mà thành. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa (Sarvāstivāda vinaya vibhāṣā) quyển 1, cho rằng kinh này chuyên đả phá các ngoại đạo nên gọi là Trường A-hàm. Luận Phân Biệt Công Đức quyển 1, th́ giải thích, trường là tŕnh bày những sự việc xa xưa, trải qua nhiều kiếp. Đọc lại Trường A-hàm th́ biết rằng đây đúng là những bài pháp thoại rất dài, tŕnh bày nhiều vấn đề, nhiều ư nghĩa sâu xa, chứa đựng nhiều giáo lư căn bản…
Về sự truyền thừa của Trường A-hàm, theo Pháp Hoa Kinh Huyền Tán quyển 1, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Tán quyển 8… th́ bốn bộ A-hàm đều do Đại chúng bộ truyền. Nhưng Câu Xá Luận Kê Cổ quyển thượng, th́ cho rằng Trường A-hàm do Hoá Địa Bộ truyền. Theo các công tŕnh nghiên cứu của các học giả Nhật Bản thời hiện đại, th́ Trường A-hàm do Pháp Tạng Bộ (Dharmagupta) truyền. Thuyết này được nhiều công tŕnh nghiên cứu của các học giả trên thế giới đồng thuận.
Trong ĐTK/ĐCTT, từ số 2 đến 25 (gồm 57 quyển) là những bản Hán dịch lẻ tẻ (đơn bản) các kinh thuộc Truờng A-hàm. Đây là những bản kinh thuộc nhiều bộ phái khác nhau, do đó nội dung chứa đựng ít nhiều dị biệt. Trường A-hàm mà chúng tôi sẽ giới thiệu là bản Hán dịch Trường A-hàm kinh 22 quyển, do Phật-đà-da-xá tuyên đọc thuộc ḷng bản Phạn, và Trúc Phật Niệm truyền dịch sang Hán văn, Việt dịch do Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, năm 1991, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a1, trọn bộ 2 tập. Bạn đọc có thể tham khảo thêm từ trang nhà phatviet.com bản Việt dịch của TT. Tuệ Sĩ.
22 quyển Trường A-hàm có 30 kinh, chia thành bốn phần. Phần một có 4 kinh, nói về sự tích của chư Phật và các vấn đề liên quan. Phần hai có 15 kinh, tŕnh bày các phương pháp, nguyên tắc tu tập và cương yếu giáo lư Phật thuyết. Phần ba có 10 kinh nói về các vấn nạn của ngoại đạo và những dị thuyết. Phần bốn có 01 kinh, chia thành 12 phẩm, nói về tướng trạng khởi nguyên của vũ trụ.
Kinh Trường A-hàm tương đương với kinh Trường bộ (Dīgha-nikāya) thuộc hệ thống kinh tạng Nam truyền. Kinh Trường bộ có 3 phẩm, tổng cộng 34 kinh, trong đó có 29 kinh tương đương với Trường A-hàm.

Love        Aimer    Ái    愛    Tṛṣṇā
Love, affection, desire; also used for tṛṣṇā, thirst, avidity, desire, one of the twelve nidānas. It is intp. as 貪 coveting, and 染著 defiling attachment; also defined as defiling love like that toward wife and children, and undefiling love like that toward one's teachers and elders.


  Tham luyến chấp trước tất cả sự vật. Gồm có bốn thứ: thân ái (Pema), dục ái (Rati), ái dục (Kāma), và khát ái (Taṇhā). Cái gọi là ái là nói đến t́nh yêu có quan hệ thân tộc huyết thống đối với ḿnh; c̣n cái gọi là thân ái là nói về t́nh bạn đối với người khác; dục lạc là t́nh yêu đối với một nhân vật đặc biệt nào đó; ái dục là chuyên chỉ t́nh yêu v́ quá say đắm đến nỗi thành si t́nh.

love and attachment; strong attachement            Ái trước    愛著    Rāga
  Bị vướng mắc, bị trói buộc, bị dính chặt vào các thứ tỉnh cảm ân ái.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14