Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Searh text

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Search by letter
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Search by category:
BouddhasSutraName-LocationTerms

Bilingual
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14 

Ten powers of Budha        Dix pouvoirs de Bouddha    Như lai thập lực    如來十力    Daśa balāni
See Ten powers

  Xem "Thập lực"

ten wisdoms            Thập trí    十智    Daśa jñānāni
The ten forms of understanding. I. Hīnayāna: (1) 世俗智 common understanding; (2) 法智 enlightened understanding, i.e. on the Four Truths in this life; (3) 類智 ditto, applied to the two upper realms 上二界; (4), (5), (6), (7) understanding re each of the Four Truths separately, both in the upper and lower realms, e.g. 苦智; (8) 他心智 understanding of the minds of others; (9) 盡智 the understanding that puts an end to all previous faith in or for self, i.e. 自信智; (10) 無生智 nirvāṇa wisdom; v. 倶舍論 26. II. Mahāyāna. A Tathāgatas ten powers of understanding or wisdom: (1) 三世智 perfect understanding of past, present, and future; (2) ditto of Buddha Law; (3) 法界無礙智 unimpeded understanding of the whole Buddha-realm; (4) 法界無邊智 unlimited, or infinite understanding of the whole Buddha-realm; (5) 充滿一切智 understanding of ubiquity; (6) 普照一切世間智 understanding of universal enlightenment; (7) 住持一切世界智 understanding of omnipotence, or universal control; (8) 知一切衆生智 understanding of omniscience re all living beings; (9) 知一切法智 understanding of omniscience re the laws of universal salvation; (10) 知無邊諸佛智 understanding of omniscience re all Buddha wisdom. v. 華嚴経 16. There are also his ten forms of understanding of the "Five Seas" 五海 of worlds, living beings, karma, passions, and Buddhas."


  I. Căn cứ vào trí hữu lậu và trí vô lậu mà phân ra thành 10 loại:

1. Thế tục trí, saṃvṛti-jñāna, trí hiểu biết mọi việc thế tục, c̣n gọi là hữu lậu huệ, tức trí huệ chưa hết phiền năo.
2. Pháp trí, dharma-jñāna, nhờ thấy được lư tứ diệu đế ở cơi Dục mà đoạn trừ được phiễn năo ở Dục giới, c̣n gọi là trí vô lậu ở cơi Dục.
3. Loại trí, anvaya-jñān, từ Pháp trí mà sinh ra trí vô lậu này; do thấy được lư tứ diệu đế ở cơi Sắc và Vô sắc mà đoạn trừ được phiền năo ở đó.
4. Khổ trí, duḥkha-jñāna, trí thấy được sự thật về khổ.
5. Tập trí, samudaya-jñāna, trí thấy được nguyên nhân của khổ.
6. Diệt trí, nirodha-jñāna, trí thấy được sự diệt khổ, thấy được hạnh phúc.
7. Đạo trí, mārga-jñāna, trí thấy được phương pháp diệt khổ. Bốn trí này có được theo thứ tự đoạn trừ phiền năo của Tứ đế.
8. Tha tâm trí, para-citta-jñāna, trí biết rơ các pháp do tâm và thuộc về tâm hiện tại và các pháp tâm vô lậu, thuộc về tâm vô lậu ở cơi Dục, cơi Sắc.
9. Tận trí, kṣaya-jñāna, trí tuệ của bậc thánh ở địa vị Vô học, biết rơ rằng ta đă hết khổ, ta đă đoạn tận nguyên nhân của khổ, ta đă chứng được sự diệt khổ, ta đă tu đạo, là trí vô lậu sinh cùng lúc với sự chứng đắc hết phiền năo.
10. Vô sinh trí, anutpāda-jñāna, trí tuệ của bậc Thánh ở địa vị Vô học, biết ta đă hết khổ, không c̣n ǵ để t́m hiểu, ta đă đoạn trừ nguyên nhân của khổ, không c̣n ǵ để đoạn; ta đă chứng đắc sự diệt khổ, không c̣n ǵ để chứng; ta đă tu đạo, không c̣n ǵ để tu nữa.


tethers of desire            Ái kết    愛結    
  Là một trong chín kết. Nói tắt là kết. Kết là trói buộc. V́ tham ái nói buộc con người nên gọi là kết. V́ chúng sinh tham ái mà tạo các nghiệp bất thiện, như giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối... do đó dẫn đến cái khổ sống chết trong đời sau, trôi lăn trong ba cơi, không thoát ra được, cho nên gọi là ái kết.

The anantanirdeśapratiṣṭhāna samādhi        samadhi du lieu des Sens infinis    Vô lượng nghĩa xứ tam muội    無量義處三昧    anantanirdeśapratiṣṭhāna-samādhi
The anantanirdeśapratiṣṭhāna samādhi, into which the Buddha is represented as entering before preaching the doctrine of infinity as given in the Lotus Sūtra.


  Tam muội mà đức Phật đă vào khi Ngài muốn nói kinh Pháp hoa. Vô lượng là rất nhiều pháp môn tu tập, tức vô lượng nghĩa; Nghĩa xứ là chỗ nương của vô lượng nghĩa, tức Thực tướng. Tam muội Tược tướng vô tướng là chỗ sinh ra vô lượng pháp nghĩa, gọi là Vô lượng nghĩa xứ tam muội.

The eighteen dhātu        Dix-huit domaines     Thập bát giới    十八界    aṣṭādaśa dhātavaḥ
The eighteen dhātu, or realms of sense, i.e. 六根, 六境, 六識 the six organs, their objects or conditions, and their perceptions.

  Chỉ cho 18 pháp trong thân con người là: 6 thức (nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ư thức), 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư căn), 6 cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp).
Giới nghĩa là chủng loại, chủng tộc. V́ 18 chủng loại này đều có tự tính khác nhau cho nên gọi là Thập bát giới. 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư có công năng phát sinh nhận biết; 6 cảnh đối tượng của sự nhận biết là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; và 6 thức là nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ư thức.

The fourfold stage of mindfulness        quatre méditations hinayana ou theravada    Tứ niệm xứ    四念處    catvāri smṛty-upasthānāni
The fourfold stage of mindfulness, thought, or meditation that follows the 五停心觀 five-fold procedure for quieting the mind. This fourfold method, or objectivity of thought, is for stimulating the mind in ethical wisdom. It consists of contemplating (1) 身 the body as impure and utterly filthy; (2) 受 sensation, or consciousness, as always resulting in suffering; (3) 心 mind as impermanent, merely one sensation after another; (4) 法 things in general as being dependent and without a nature of their own. The four negate the ideas of permanence, joy, personality, and purity 常, 樂, 我, and 淨, i. e. the four 顚倒, but v. 四德. They are further subdivided into 別 and 總 particular and general, termed 別相念處 and 總相念處, and there are further subdivisions.


  Là bốn phép quán cơ bản về sự tỉnh giác. Phương pháp thiền quán của Phật giáo nguyên thủy gồm :
- quán thân (sa., pi. kāya),
- quán thụ (sa., pi. vedanā),
- quán tâm (sa., pi. citta) ,
- quán pháp (tức là những ư nghĩ, khái niệm, gom lại là tâm pháp).

Phương pháp quán chiếu này được nói rơ trong kinh Tứ niệm xứ (pi satipaṭṭhāna-sutta) và Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn. Ngày nay tại phương Tây, phép quán bốn niệm xứ được phổ biến rộng, trong đó hành giả ngồi (Toạ thiền) hay áp dụng phép quán này trong các hoạt động hàng ngày.
● Quán Thân bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào (pi. ānāpānasati), cũng như tỉnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi.
● Quán Thụ là nhận biết rơ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thường của chúng.
● Quán Tâm là chú ư đến các tâm pháp (ư nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).
● Quán Pháp là biết rơ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngă, biết rơ Ngũ chướng có hiện hành hay không, biết rơ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rơ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rơ Tứ diệu đế.

The fruit of karma            Nghiệp quả    業果    
The fruit of karma, conditions of rebirth depending on previous karmic conduct.


  Cũng gọi là nghiệp báo.
Kết quả của nghiệp. Nghiệp nhân đă tạo hoặc thiện hoặc ác sẽ đưa đến quả báo sinh vào cơi người, trời, ngă quỉ, súc sinh...
Do nghiệp mà có quả báo, đây là pháp lư tự nhiên, gọi là "Nghiệp quả pháp nhiên". Nghiệp và quả tương tục không ngừng. Nghiệp nhân là nhân, quả là báo; nhân quả tiếp nối không dứt.

The ten essential qualities        Dix modalités d'expression de la vie    Thập như thị    十如是    
The ten essential qualities, or characteristics, of thing, according to the 方便chapter of the Lotus sūtra: 相如是 form; 性如是 nature; 體如是 corpus or embodiment; 力如是 powers; 作如是 function; 因如是 primary cause; 果如是 environmental cause; 果如是 effect; 報如是 karmic reward; 本末究竟等 the inseparability, or inevitability of them all.


  "Như" tức là chỉ một cái ǵ hằng cố, bất biến. ‘Thị’ có nghĩa ‘không sai lầm’ (vô phi). Như thị nghĩa là như thế, như vậy và cũng có nghĩa là: một cách nhất định, không hư hại, không lầm lạc. T́nh trạng hiện thật nguyên bản của các pháp gọi là ‘Như thị’. Ư nghĩa của ‘Thập như thị’ được biết đến trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiện. Kinh ghi: “Pháp mà chư Phật thành tựu là tối thắng đệ nhất, cực kỳ hiếm có và chúng sanh khó mà hiểu được. Chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu được tận gốc rễ về tướng chân thật của các pháp, bởi v́ các pháp có tướng như thị, tánh như thị, thể như thị, lực như thị, tác như thị, nhân như thị, duyên như thị, quả như thị, báo như thị, cứu cánh b́nh đẳng từ đầu đến cuối như thị".
1. Như thị tướng: Tướng của các pháp là như vậy. Tướng là tướng mạo, h́nh dáng bên ngoài, nh́n vào h́nh dáng bên ngoài để phân biệt được cái này với cái kia, pháp này với pháp kia. Chúng sinh ở trong mười giới đều có biểu hiện tướng khổ, tướng vui.
2. Như thị tánh: Tánh của các pháp là như vậy. Tánh là nằm bên trong, là tự tánh bên trong, bản tánh này không thay đổi, dù cho diện mạo bên ngoài có thay đổi. Chúng sanh qua lại trong mười giới, tự tánh của nó vẫn không thay đổi. Giống như trong cây có lửa, hội đủ nhân duyên, cọ sát đến một mức độ nào đó th́ lửa sẽ phát ra.
3. Như thị thể: Thể của các pháp là như vậy. Thể là thể chất, hay bản chất của sự vật.
4. Như thị lực: Lực của các pháp là như vậy. Các pháp đều có thể chất, nên nhất định có năng lực.
5. Như thị tác: Tạo tác như vậy: Các pháp phát huy năng lực th́ sẽ tương tác ra bên ngoài, sẽ tạo nghiệp.
6. Như thị nhân: Quá tŕnh tương tác sẽ tạo nên những cái nhân, nhân này sẽ là nguyên nhân khiến chúng sanh hiện hữu trong mười giới.
7. Như thị duyên: Những yếu tố hỗ trợ cho cái nhân gọi là duyên.
8. Như thị quả: Kết quả do nhân duyên tạo nên.
9. Báo như thị: Báo ứng của quả báo, tức là do nghiệp thiện, hoặc nghiệp ác sẽ chiêu cảm báo ứng vui hoặc khổ.
10. Bổn mạt cứu cánh như thị: Bắt đầu từ Tướng là gốc (bổn), sau hết Báo là cuối cùng (mạt), tất cả đều đưa đến hay quy về một cơi giới nào đó, gọi là cứu cánh, tức là nguyên lư quán thông cả chín pháp nêu trước.

The ten essential qualities        Dix mondes-états    Thập giới    十界    
The ten dharma-worlds, or states of existence, i.e. the hells (or purgatories), pretas, animals, asmas, men, devas, śrāvakas, pratyekabuddhas, bodhisattvas, Buddhas. In the esoteric teaching there is a series of hells, pretas, animals, asuras, men, devas, śrāvakas, bodhisattvas, 權佛 relative Buddhas, 實佛 absolute Buddhas.


  10 thế giới mê và ngộ: Địa ngục giới, Ngạ quỷ giới, Súc sinh giới, A tu la giới, Nhân gian giới, Thiên thượng giới, Thanh văn giới, Duyên giác giới, Bồ tát giới và Phật giới. Trong đó, 6 cảnh giới đầu tiên thuộc về thế giới mê muội của phàm phu, tức là thế giới 6 đường luân hồi. C̣n 4 cảnh giới sau thuộc về thế giới giác ngộ của các bậc Thánh.

The third region in the realm of formlessness.        Troisième des quatre royaumes du monde du sans-forme    Vô sở hữu xứ    無所有處    ākiñcanyāyatana
The third region in the realm of formlessness.


  Cảnh giới không có tâm sở hữu. Là tầng trời thứ 3 trong 4 tầng trời cơi Vô sắc.

the three evil paths, three bad migrations        trois mauvaises voies    Tam ác đạo    三惡道    sannaku, san-akushu
The hells, hungry ghosts, animals.

  Ba đường ác. Cũng gọi là Tam ác thú, Tam đồ, Tam ác.
1. Địa ngục: Ở dưới đất, giữa núi Thiết vi có 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng; những người tạo 10 nghiệp ác cực nặng sẽ bị đoạ vào đường này.
2. Ngă quỉ: Những người tạo 10 nghiệp ác bậc trung sẽ bị đoạ vào đường này. Trong đó, lại chia làm ba thành phần. Đối với người tội năng th́ nhiều kiếp không nghe thấy tên nước uống; người tội vừa th́ chỉ t́m kiếm được máu mủ, phẩn dơ của người thế gian; người tội nhẹ hơn nữa th́ thỉnh thoảng mới được một bữa ăn no do người đời cúng thí.
3. Súc sinh: Những người tạo 10 nghiệp ác bậc nhẹ th́ rơi vào đường này. Gồm những loài có lông vũ, loài có sừng, loài có vảy, loài 2 chân, 4 chân, nhiều chân, loài không chân, loài bơi dưới nước, loài bay trên không, loại đi trên đất...

The threefold body        trois corps    Tam thân    三身    Trayaḥ kāyāḥ
The threefold body or nature of a Buddha, i.e. the 法, 報, and 化身, or dharmakāya, sambhogakāya, and nirmāṇakāya. The three are defined as 自性, 受用, and 變化, the Buddha-body per se, or in its essential nature; his body of bliss, which he "receives" for his own "use" and enjoyment; and his body of transformation, by which he can appear in any form; i.e. spiritual, or essential; glorified; revealed. While the doctrine of the trikāya is a Mahāyāna concept, it partly results from the Hīnayāna idealization of the earthly Buddha with his thirty-two signs, eighty physical marks, clairvoyance, clairaudience, holiness, purity, wisdom, pity, etc. Mahāyāna, however, proceeded to conceive of Buddha as the Universal, the All, with infinity of forms, yet above all our concepts of unity or diversity. To every Buddha Mahāyāna attributed a three-fold body: that of essential Buddha; that of joy or enjoyment of the fruits of his past saving labours; that of power to transform himself at will to any shape for omnipresent salvation of those who need him. The trinity finds different methods of expression, e.g. Vairocana is entitled 法身, the embodiment of the Law, shining everywhere, enlightening all; Locana is 報身; c.f. 三賓, the embodiment of purity and bliss; Śākyamuni is 化身 or Buddha revealed. In the esoteric sect they are 法 Vairocana, 報 Amitābha, and 化 Śākyamuni. The 三賓 are also 法 dharma, 報 saṅgha, 化 buddha. Nevertheless, the three are considered as a trinity, the three being essentially one, each in the other. (1) 法身 Dharmakāya in its earliest conception was that of the body of the dharma, or truth, as preached by Śākyamuni; later it became his mind or soul in contrast with his material body. In Mādhyamika, the dharmakāya was the only reality, i.e. the void, or the immateria1, the ground of all phenomena; in other words, the 眞如 the tathāgatagarbha, the bhūtatathatā. According to the Huayan (Kegon) School it is the 理or noumenon, while the other two are氣or phenomenal aspects. "For the Vijñānavāda... the body of the law as highest reality is the void intelligence, whose infection (saṃkleҫa) results in the process of birth and death, whilst its purification brings about Nirvāṇa, or its restoration to its primitive transparence" (Keith). The "body of the law is the true reality of everything". Nevertheless, in Mahāyāna every Buddha has his own 法身; e.g. in the dharmakāya aspect we have the designation Amitābha, who in his saṃbhogakāya aspect is styled Amitāyus. (2) 報身Sambhogakāya, a Buddha's reward body, or body of enjoyment of the merits he attained as a bodhisattva; in other words, a Buddha in glory in his heaven. This is the form of Buddha as an object of worship. It is defined in two aspects, (a) 自受用身 for his own bliss, and (b) 他受用身 for the sake of others, revealing himself in his glory to bodhisattvas, enlightening and inspiring them. By wisdom a Buddha's dharmakāya is attained, by bodhisattva-merits his saṃbhogakāya. Not only has every Buddha all the three bodies or aspects, but as all men are of the same essence, or nature, as Buddhas, they are therefore potential Buddhas and are in and of the trikāya. Moreover, trikāya is not divided, for a Buddha in his 化身 is still one with his 法身 and 報身, all three bodies being co-existent. (3) 化身; 應身; 應化身 nirmāṇakāya, a Buddha's transformation, or miraculous body, in which he appears at will and in any form outside his heaven, e.g. as Śākyamuni among men.

  Cũng gọi là Tam thân Phật, Tam Phật thân, Tam Phật. Đó là Pháp thân, Báo thân, và Ứng hoá thân.
Thân có nghĩa là tụ tập. Tụ tập các pháp mà thành thân.
1. Sự tụ tập về lư pháp mà thành thân gọi là Pháp thân (Dhamra-kāya). Thân này vốn thanh tịnh, thường trụ vắng lặng, không sinh không diệt, đầy đủ công đức, b́nh đẳng nơi mỗi chúng sinh, gọi là Tự tính, là Như như, là Như như trí, là Pháp tính thân. Tức là cái thân chân thật của Phật, mà cũng là Tự tính thanh tịnh của mỗi chúng sinh, của cả pháp giới.
2. Sự tụ tập về trí pháp mà thành thân gọi là Báo thân (Saṃbhoga-kāya). Là thân công đức, tức là thân có được do sự tu tập thành tựu mọi công đức, đầy đủ tướng hảo trang nghiêm, thụ dụng pháp lạc vô biên, nên c̣n gọi là Thụ dụng thân.
3. Sự tụ tập các pháp công đức gọi là Ứng thân (Nirmāṇa-kāya). Là thân biến hoá theo căn tính của chúng sinh để mà giáo hoá. Chư Phật dùng thần lực không thể nghĩ bàn, biến hiện vô lượng, tuỳ theo các loài mà hoá thân, trụ ở các cơi tịnh uế, để giáo hoá chúng sinh.

the white lotus society        Société du Lotus Blanc    Bạch liên xă    白蓮社    
  Đạo tràng tu tập theo pháp môn niệm Phật. C̣n gọi là Bạch liên hoa xă, Liên xă: Đạo tràng hoa sen trắng.
Khởi nguyên từ thời Đông Tấn, do ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn chủ trương, tập hợp những người cùng chung chí hướng tu tập lại một chỗ để niệm Phật, về sau h́nh thức tu tập này thịnh hành và lấy danh xưng là Bạch liên xă.
Đời Đông Tấn, niên hiệu Thái nguyên thứ 9 (384 dl), ngài Huệ Viễn đến Lô Sơn, trú ở Hổ Khê, chùa Đông Lâm, mọi người kính mộ đức độ của ngài vân tập về chùa cùng tu học rất đông. Niên hiệu Nguyên Hưng năm đầu (402 dl), số người đến tu gồm có cả tăng lẫn tục, như Huệ Vĩnh, Huệ Tŕ, Lưu Di Dân, Lôi Thứ Tông... cả thảy 123 người. Tất cả cùng kéo đến tinh xá đài Bát Nhă, quỳ trước tượng Phật A Di Đà lập thệ nguyện tinh chuyên tu tập niệm Phật tam muội cho đến ngày văng sinh Tây phương. Lúc ấy, do trước chùa có một cái ao trồng toàn hoa sen trắng, lại nguyện cùng nhau văng sinh về Cực lạc Liêng bang, cho nên mới lấy hiệu là Bạch liên xă. Về sau, tiếng đồn ngày càng vang khắp, tạo thành nhân duyên hưng thịnh pháp môn Tịnh độ. Từ đời nhà Đường, Tống trở về sau pháp môn này càng hưng thịnh hơn nữa, và lịch sử đă suy tôn ngài Huệ Viễn là sơ tổ của Liên xă, đồng thời cũng là sơ tổ của Tịnh độ tông tại Trung Hoa.

Third meditation        Troisième niveau d'expérience méditative    Tam thiền    三禪    Tri-dhyāna
  Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
Tam thiền có đủ 5 thiền chi: Xả, Niệm, Tuệ (Trí), Lạc, Nhất tâm.

third meditation heaven            Tam thiền thiên    三禪天    Tri-dhyāna
  Chỉ cho cơi Thiền thứ 3 trong 4 cơi thiền Sắc giới. V́ ĺa bỏ hủ của thiền thứ 2 th́ lại sinh lạc tĩnh diệu, nên cơi thiền này cũng gọi l à Ly hỷ diệu lạc địa. Cơi này chỉ có ư thức và có 2 cảm thụ lạc, xả tương ứng với ư thức. Tướng vui thích của ư thức ở cơi này cực kỳ tĩnh diệu nên gọi là Lạc thụ. Trong 18 tầng trời cơi Sắc th́ 3 tầng trời Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh chính là Tam thiền thiên.

Third noble person        Troisième noble personne    A na hàm    阿那含    Anāgāmin
Person who does not come back. It is the third of the four noble persons (āryapudgala) who left the nine categories of stains of pleasures and who does not return any more in the world of desire (kāmadhatu).

  Bất hoàn, Bất lai. Thánh quả thứ ba trong bốn quả Thanh văn. Bậc này đă dứt hết chín phẩm phiền năo ở Dục giới, không c̣n trở lại thụ sinh ở Dục giới nữa.

three awarenesses        trois connaissances mystiques     Tam minh    三明    tisro-vidyāḥ
  Cũng gọi Tam đạt, Tam chứng pháp.
Ba loại trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được quả vị Vô học.
1. Túc mệnh trí chứng minh, pūrva-nivāsānusmṛti- jñāna-sakṣāt-kriya-vidyā, cũng gọi là Túc mệnh minh, Túc mệnh trí: Trí tuệ biết rơ tướng trạng của ḿnh từ một đời cho đến trăm ngh́n vạn ức đời, biết rơ trong những đời trước ḿnh sinh ra ở đâu, con của ai, tên ǵ, làm ǵ...
2. Sinh tử trí chứng minh, cyuty-upapāda-jñaṇa-sāk-ṣāt-kriya-vidyā, c̣n gọi là Thiên nhăn minh, Thiên nhăn trí: Trí tuệ biết rơ tướng trạng sống chết của chúng sinh, thấy rơ chúng sinh ấy do nhân ǵ, duyên ǵ mà được sinh ra, sau khi chết sẽ sinh đến chỗ nào...
3. Lậu tận trí chứng minh, āsrava-kṣaya-jñāna-sāk-ṣāt-kriya-vidyā, cũng gọi là Lậu tận trí, Lậu tận minh: Trí tuệ biết rơ như thật đă chứng được lư Tứ đế, biết ḿnh đă diệt trừ hết phiền năo, đă giải thoát hoàn toàn...

three categories of self-restraint        trois plans     Tam giới    三界    trayo dhātavaḥ
Trailokya or Triloka; the three realms; also 三有. It is the Buddhist metaphysical equivalent for the Brahmanic cosmological bhuvanatraya, or triple world of bhūr, bhuvaḥ, and svar, earth, atmosphere, and heaven. The Buddhist three are 欲, 色, and 無色界, i.e. world of sensuous desire, form, and formless world of pure spirit. (a) 欲界 Kāmadhātu is the realm of sensuous desire, of 婬 and 食 sex and food; it includes the six heavens of desire, the human world, and the hells. (b) 色界 Rūpadhātu is the realm of form, meaning 質礙 that which is substantial and resistant: it is above the lust-world and contains (so to speak) bodies, palaces, things, all mystic and wonderful一a semi-material conception like that in Revelation; it is represented in the 四禪天, or Brahmalokas. (c) 無色界 Arūpadhātu, or ārūpyadhātu, is the formless realm of pure spirit, where there are no bodies, places, things, at any rate none to which human terms would apply, but where the mind dwells in mystic contemplation; its extent is indefinable, but it is, conceived of in four stages, i,e. 四空處 the four "empty" regions, or regions of space in the immaterial world, which are 四無色 the four "formless" realms, or realms beyond form; being above the realm of form, their bounds cannot be defined.

  Ba cơi chúng sinh qua lại cư trú trong quá tŕnh sinh tử luân hồi.
1. Dục giới (Kama-dhātu): Thế giới của các loài chúng sinh có tính dâm dục, t́nh dục, sắc dục và thực dục cư trú. Trên có 6 tầng trời, giữa có bốn đại châu cơi người, dưới có ba đường ác.
2. Sắc giới (Rūpa-dhātu): Thế giới cư trú của loài chúng sinh đă xa ĺa dâm dục và thực dục ở cơi Dục, nhưng vẫn c̣n có sắc chất thanh tịnh. Cơi này ở phía trên cơi Dục, không có các thứ dục nhiễm, cũng không có thân nữ, chúng sinh ở cơi này đều do hoá sinh. Cơi này tuỳ theo thiền định sâu cạn mà được chia làm bốn bậc, từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tổng cộng có 18 tầng trời.
3. Vô sắc giới (Ārūpya-dhātu): Thế giới cư trú của loài chúng sinh chỉ có thụ, tưởng, hành, thức chứ không có vật chất, cũng không có thân thể, cung điện, quốc độ, chỉ có tâm thức trụ trong thiền định sâu xa mầu nhiệm. Thế giới này trên cơi Sắc, có tất cả 4 tầng trời.

three conditions        trois catégories d'actions ou trois sortes de karma    Tam nghiệp    三業    Trīṇi karmāṇi
The three conditions, inheritances, or karma, of which there are several groups. (1) Deed, word, thought, 身, 口, 意. (2) (a) Present-1ife happy karma; (6) present-life unhappy karma; (c) 不動 karma of an imperturbable nature. (3) (a) Good; (b) evil; (c) neutral karma. (4) (a) 漏業 Karma of ordinary rebirth; (6) 無漏業 karma of Hīnayāna nirvana; (c) 非漏非無漏 karma of neither, independent of both, Mahāyāna nirvana. (5) (a) Present deeds and their consequences in this life; (b) present deeds and their next life consequences; (c) present deeds and consequences after the next life, There are other groups of three.

  I. Ba nghiệp thân, miệng, ư:
1. Thân nghiệp: Chỉ cho những việc do thân làm. Nếu thân làm việc ác như giết hại, trộm cướp, tà dâm... th́ tạo nên nghiệp xấu, gọi là Thân ác nghiệp. Nếu thân làm việc tốt, việc thiện, như không giết hại, không trộm cắp... th́ tạo nên nghiệp thiện, gọi là Thân thiện nghiệp.
2. Khẩu nghiệp: Chỉ cho những lời nói. Nếu nói những lời gian dối, nói lời ly gián, nói ác, nói thêm bớt, nói không đúng sự thật, nói những lời gây đau khổ cho người khác... th́ tạo nên nghiệp xấu từ miệng, gọi là Khẩu ác nghiệp. Nếu không nói dối, không nói sai sự thật, ngược lại chỉ nói những lời ái ngữ, những lời nói vun đắp t́nh thương... th́ tạo nên nghiệp thiện, gọi là Khẩu thiện nghiệp.
3. Ư nghiệp: Chỉ cho nghiệp do ư thức tạo nên. Nếu ư tham muốn, sân hận, tà kiến th́ gọi là Ư ác nghiệp. Nếu không tham, sân, si th́ gọi là Ư thiện nghiệp.
II. Ba nghiệp được chia theo tính chất thiện, ác và vô kí:
1. Thiện nghiệp (Kuśala-karma): Những việc làm của thân, miệng, ư được thúc đẩy bởi tâm không tham, không sân, không si.
2. Ác nghiệp ( akuśala-karma): Những việc làm của thân, miệng, ư được thúc đẩy bởi tâm tham, sân, si.
3. Vô kí nghiệp (avyākṛta-karma): Những hành vi tự nhiên, không thúc đẩy bởi tâm niệm xấu hay tốt.

Three delusions        Trois illusions     Tam hoặc    三惑     
A Tiantai classification of the three delusions, also styled 三煩惱; 三漏; 三垢; 三結; trials or temptations, leakages, uncleannesses, and bonds. The first of the following three is common to all disciples, the two last to bodhisattvas. They arise from (a) 見, 思, 惑 things seen and thought, i.e. illusions from imperfect perception, with temptation to love, hate, etc.; to be rid of these false views and temptations is the discipline and nirvāṇa of ascetic or Hīnayāna Buddhists. Mahāyāna proceeds further in and by its bodhisattva aims, which produce their own difficulties, i.e. (b) 塵沙惑 illusion and temptation through the immense variety of duties in saving men; and (c) 無明惑 illusions and temptations that arise from failure philosophically to understand things in their reality.

  Cũng gọi Tam chướng.
1. Kiến tư hoặc: Kiến hoặc và Tư hoặc. Kiến hoặc là do các tà kiến sinh khởi khi ư căn tiếp xúc với pháp trần. Tức là phiền năo mê lầm đối với đạo lư trong 3 đời. Tư hoặc là tư tưởng chấp trước dấy lên khi 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tham đắm nơi 5 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tcs là phiền năo mê lầm đối với sự lư ở hiện tại. Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều phải đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc th́ mới chứng được Thánh quả, nên gọi nó là Thông hoặc. V́ nó chiêu cảm sinh tử trong 3 cơi nên thuộc về hoặc nội giới (phiền năo tiềm tàng bên trong tâm), phải dùng quán chiếu tính Không mới trị được nó.
2. Trần sa hoặc: Các hoặc chướng sinh khởi v́ mê lầm đối với các pháp thuộc giới nội, giới ngoại nhiều như số cát sông Hằng, gọi là Trần sa hoặc. Bồ tát sau khi đoạn trừ Kiến tư hoặc, dễ bị dính mắc vào Không quán, gây chướng ngại cho việc tự tại giáo háo độ sinh của Bồ tát, nên Trần sa hoặc c̣n được gọi là Trước không hoặc, Hoá đạo chướng hoặc. V́ hoặc này chỉ có Bồ tát đoạn trừ nên cũng gọi là Biệt hoặc, thuộc cả giới nội và giới ngoại, phải dùng Giả quán để đối trị.
3. Vô minh hoặc: Đối với tất cả pháp không rơ biết nên gọi là Vô minh. Tức là phiền năo mê lầm về Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Vô minh hoặc là chủng tử của nghiệp tức, cội rễ của phiền năo, thuộc về giới ngoại, chỉ có Bồ tát Đại thừa, tu cả định lẫn tuệ, đầy đủ muôn hạnh mới đoạn trừ được hoặc này, cho nên cũng gọi là Biệt hoặc và dùng Trung quán để đối trị.
Thật ra, Tam hoặc vốn từ 1 hoặc mà chia ra theo tính chất thô và tế, chứ thể của hoặc th́ không khác, tính thô gọi Kiến tư, tính tế gọi là Vô minh, ở khoảng giữa th́ gọi là Trần sa, cho nên việc đoạn trừ lẽ ra không có thời gian trước sau khác nhau.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14