Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Searh text

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Search by letter
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Search by category:
BouddhasSutraName-LocationTerms

Bilingual
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14 

five desires        cinq désirs     Ngũ dục    五欲    pañca kāmāḥ
The five desires, arising from the objects of the five senses, things seen, heard, smelt, tasted, or touched. Also, the five desires of wealth, sex, foodand-drink, fame, and sleep.


  Năm đối tượng của sự tham muốn:
1. Tài dục: Tham muốn tiền của.
2. Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp.
3. Danh dục: Tham muốn danh vọng, địa vị, quyền lực.
4. Thực dục: Tham muốn sự ăn uống.
5. Thuỳ dục: Tham muốn sự ngủ nghỉ.
Năm đối tượng khác của sự tham muốn là:
1. Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp.
2. Thanh dục: Đắm say âm thanh, âm nhạc, lời khen...
3. Hương dục: Đắm say mùi thơm quyến rũ.
4. Vị dục: Tham muốn vị ngon ngọt.
5. Xúc dục: Ham thích sự xúc chạm mịn màng, trơn láng.

five faculties            Ngũ căn    五根    Pañcendriyāṇi
  Năm loại gốc rễ phát sinh ra pháp lành, dẫn vào Thánh đạo. Gồm Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn và Tuệ căn.

five heinous crimes        cinq forfaits    Ngũ nghịch    五逆    pañcānantarya
The five rebellious acts or deadly sins, parricide, matricide, killing an arhat, shedding the blood of a Buddha, destroying the harmony of the sangha, or fraternity. The above definition is common both to Hīnayāna and Mahāyāna. The lightest of these sins is the first; the heaviest the last. II. Another group is: (1) sacrilege, such as destroying temples, burning sutras, stealing a Buddha's or a monk's things, inducing others to do so, or taking pleasure therein; (2) slander, or abuse of the teaching of śrāvaka s, pratyekabuddhas, or bodhisattvas; (3) ill-treatment or killing of a monk; (4) any one of the five deadly sins given above; (5) denial of the karma consequences of ill deeds, acting or teaching others accordingly, and unceasing evil life. III. There are also five deadly sins, each of which is equal to each of the first set of five: (1) violation of a mother, or a fully ordained nun; (2) killing a bodhisattva in a sangha; (5) destroying a Buddha's stūpa. IV. The five unpardonable sin of Devadatta who (1) destroyed the harmony of the community; (2) injured Śākyamuni with a stone, shedding his blood; (3) induced the king to let loose a rutting elephant to trample down Śākyamuni; (4) killed a nun; (5) put poison on his finger-nails and saluted Śākyamuni intending to destroy him thereby.

  C̣n gọi là Ngũ nghịch tội, Ngũ vô gián tội.
5 tội cực ác, dẫn đến đoạ địa chịu nỗi thống khổ không bao giờ gián đoạn.
Theo Phật giáo Nguyên thuỷ: 1. Giết cha, 2. Giết mẹ, 3. Giết Thánh tăng, 4. Làm thân Phật chảy máu, 5. Phá sự hoà hợp và thanh tịnh của Tăng.

Theo Phật giáo Đại thừa: 1. Phá hoại chùa tháp, đốt kinh, đập tượng, trộm cắp tài sản của Tam bảo, hoặc tạo điều kiện cho người khác thực hiện những việc trên; 2. Huỷ báng Thanh văn, Duyên giác và pháp Đại thừa; 3. Ngăn cản, cấm đoán, bắt bớ, trục xuất những người tu hành, sát hại người xuất gia; 4. Phạm một trong 5 tội ngũ nghịch của Phật giáo Nguyên thuỷ; 5. Chủ trương không có nhân quả nghiệp báo, gây ra 10 nghiệp bất thiện.

five kinds of authorities of the doctrine        cinq sortes de maîtres du dharma     Ngũ chủng pháp sư    五種法師    
  5 bậc pháp sư hay 5 bậc thầy có khả năng hoằng dương Phật pháp.
1. Thụ tŕ pháp sư: Người có khả năng tiếp nhận, tin tưởng vững chắc và ghi nhớ, giữ ǵn không quên lời dạy của Như Lai được ghi chép trong kinh luận.
2. Đọc kinh pháp sư: Người có khả năng ngồi ngay thẳng, trang nghiêm, giữ tâm chính niệm, mắt xem kinh văn mà tụng đọc mạch lạc, rơ ràng.
3. Tụng kinh pháp sư: Người có khả năng tụng đọc thuộc ḷng kinh văn, không cần phải xem sách mà không nhầm lẫn.
4. Giải thuyết pháp sư: Người có khả năng truyền dạy, giảng giải chính xác kinh điển.
5. Thư tả pháp sư: Người có khả năng biên chép, phiên dịch kinh điển để lưu truyền rộng răi cho đời sau.

five kinds of remorse            Ngũ hối    五悔    
  Cũng gọi là Ngũ sám hối
Năm phương pháp sám hối để diệt trừ tội lỗi.
1. Sám hối: Ăn năn tội lỗi và tu tập những hành lành.
2. Khuyến thỉnh: Khuyển thỉnh chư Phật trong 10 phương quay bánh xe pháp cứu độ chúng sinh. Ngày nay có thể hiểu rộng là thỉnh chư tôn đức tăng ni hoằng pháp độ sinh.
3. Tuỳ hỉ: Vui mừng, khen ngợi những hành lành của người khác, thấy người khác tu tập ḿnh sinh tâm hoan hỷ.
4. Hồi hướng: Hồi hướng công đức tu tập được về quả vị giác ngộ.
5. Phát nguyện: Phát nguyện quyết tâm thành Phật.

five meditations and four bases of mindfulness        cinq méditations    Ngũ đ́nh tâm quán    五停心觀     
the five meditations for settling the mind and ridding it of the five errors of desire, hate, ignorance, the self, and a wayward or confused mind; the five meditations are 不淨觀, 慈悲觀, 因緣觀, 界分別觀 and 數息觀 i. e. the vileness of all things, pity for all, causality, right discrimination, breathing; some substitute meditation on the Buddha in place of the fourth; another division puts breathing first, and there are other differences.

  Năm pháp quán dứt trừ phiền năo mê hoặc.
1. Bất tịnh quán (aśubhā-smṛti): Quán tưởng thân ḿnh và thân người nhơ nhớp để trừ bỏ ḷng tham muốn.
2. Từ bi quán (Maitrī-smṛti): Cũng gọi là Từ tâm quán. Quán tưởng ḷng thương xót để đối trị với phiền năo oán giận.
3. Duyên khởi quán (Iidaṃpratyayatā-pratītyasamutpāda-smṛti): Cũng gọi là Nhân duyên quán. Quán tưởng 12 duyên khởi thuận và nghịch để đối trị phiền năo ngu si.
4. Giới phân biệt quán (dhātu-prabheda-smṛti): Cũng gọi là Giới phương tiện quán, Tích giới quán, Phân tích quán, Vô ngă quán. Quán tưởng các pháp 18 giới đều do hoà hợp của đất, nước, lửa, giớ, không và thức mà có để đối trị chấp ngă.
5. Sổ tức quán (Ānāpāna-smṛti): Cũng gọi là An na ban na niệm, Tŕ tức niệm. Đếm số hơi thở ra, thở vào để đối trị tầm, tứ tán loạn, giữ cho tâm dừng yên một chỗ.

five powers        Cinq forces    Ngũ lực    五力    pañca balāni
the five powers or faculties — one of the categories of the thirty-seven bodhipakṣika dharma 三十七助道品; they destroy the 五障 five obstacles, each by each, and are: 信力 śraddhābala, faith (destroying doubt); 精進力 vīryabala, zeal (destroying remissness); 念 or 勤念 smṛtibala, memory or thought (destroying falsity); 正定力 samādhibala, concentration of mind, or meditation (destroying confused or wandering thoughts); and 慧力 prajñābala, wisdom (destroying all illusion and delusion). Also the five transcendent powers, i. e. 定力 the power of meditation; 通力 the resulting supernatural powers; 借識力 adaptability, or powers of 'borrowing' or evolving any required organ of sense, or knowledge, i. e. by beings above the second dhyāna heavens; 大願力 the power of accomplishing a vow by a Buddha or bodhisattva; and 法威德力 the august power of Dharma. Also, the five kinds of Mara powers exerted on sight, 五大明王.

  Năm loại sức mạnh. Năm lực này h́nh thành từ năm căn, phát sanh một thứ sức mạnh thúc đẩy, tăng trưởng, duy tŕ đời sống tu tập đạt đến giải thoát, chúng có khả năng phá trừ điều ác, thúc đẩy làm việc thiện.
- Tín lực (śraddhā-bala).
- Tinh tấn lực (vīrya-bala).
- Niệm lực (smriti-bala).
- Định lực (samādhi-bala).
- Tuệ lực (prajñā-bala).

Five precepts        Cinq préceptes    Ngũ giới    五戒    Pañca śīlāni
the first five of the ten commandments, against killing, stealing, adultery, lying, and intoxicating liquors. 不殺生; 不偸盜; 不邪婬; 不妄語; 不飮酒 They are binding on laity, male and female, as well as on monks and nuns. The observance of these five ensures rebirth in the human realm. Each command has five spirits to guard its observer 五戒二十五神.


  Năm giới, năm nguyên tắc thực hành đạo đức.
1. Không giết hại
2. Không trộm cắp
3. Không quan hệ bất chính
4. Không nói dối
5. Không uống rượu.

five vehicles        cinq véhicules    Ngũ thừa    五乗    pañca yāna
The five vehicles conveying to the karma reward which differs according to the vehicle: they are generally summed up as (1) 入乘 rebirth among men conveyed by observing the five commandments; (2) 天乘 among the devas by the ten forms of good action; (3) 聲聞乘 among the śrāvakas by the four noble truths; (4) 緣覺乘 among pratyekabuddhas by the twelve nidānas; (5) 菩薩乘 among the Buddhas and bodhisattvas by the six pāramitās 六度 q. v. Another division is the various vehicles of bodhisattvas; pratyekabuddhas; śrāvakas; general; and devas-and-men. Another is Hīnayāna Buddha, pratyekabuddhas, śrāvakas, the gods of the Brahma heavens, and those of the desire-realm. Another is Hīnayāna ordinary disciples: śrāvakas: pratyekabuddhas; bodhisattvas; and the one all-inclusive vehicle. And a sixth, of Tiantai, is for men; devas; śrāvakas-cum-pratyekabuddhas; bodhisattvas: and the Buddha-vehicle. The esoteric cult has: men, corresponding with earth; devas, with water: śrāvakas, with fire: pratyekabuddhas, with wind; and bodhisattvas, with 空 the 'void'.

  Năm cổ xe chở chúng sinh đến thế giới an vui, giải thoát.
1. Nhân thừa: Quy y Tam bảo và giữ năm giới. Nếu ai nương theo pháp này mà tu hành th́ cũng như lên chiếc xe đi ra khỏi ba đường ác, thẳng đến cơi người.
2. Thiên thừa: Dùng 10 điều thiện, 4 thiền 8 định làm xe, chở chúng sinh vượt khỏi 4 châu cơi người, sinh lên các cơi trời.
3. Thanh văn thừa: Tứ diệu đế là cổ xe chuyên chở chúng sinh vượt qua 3 cơi, đến Niết bàn hữu dư, chứng thành A la hán.
4. Duyên giác thừa: 12 Nhân duyên là cổ xe chuyên chở chúng sinh ra khỏi ba cơi, đến Niết bàn vô dư, thành Bích chi Phật.
5. Bồ tát thừa: Sáu pháp ba la mật, vừa Từ Bi, vừa trí tuệ là cổ xe chuyên chở chúng sinh vượt qua cảnh giới của 3 thừa 3 cơi thẳng đến Đại niết bàn, chứng quả Vô thượng bồ đề.

five wrong views            Ngũ kiến    五見    pañca-dṛṣṭayaḥ
The five wrong views: (1) 身見 satkāya-dṛṣṭi, i. e. 我見 and 我所見 the view that there is a real self, an ego, and a mine and thine: (2) 邊見 antar-grāha, extreme views. e. g. extinction or permanence; (3) 邪見 mithyā, perverse views, which, denying cause and effect, destroy the foundations of morality; (4) 見取見 dṛṣṭi-parāmarśa, stubborn perverted views, viewing inferior things as superior, or counting the worse as the better; (5) 戒禁取見 śīla-vrata-parāmarśa, rigid views in favour of rigorous ascetic prohibitions, e. g. covering oneself with ashes. Cf. 五利使.

  5 loại nhận thức sai lầm.

1. Thân kiến, hay Ngă kiến (sat-kāya-dṛṣṭi): Tự chấp có sự tồn tại của cái "ta", gọi là Ngă kiến, cho rằng vật này thuộc về ta, gọi là Ngă sở kiến.
2. Biên kiến (anta-grāha-dṛṣṭi): Chấp vào một bên, kiến giải cực đoan, như cho rằng sau khi ta chết vẫn thường c̣n không mất, đây gọi là Thường kiến (hữu kiến); hoặc cho rằng sau khi ta chết th́ dứt hẳn, đây gọi là Đoạn kiến (vô kiến).
3. Tà kiến (mithyā-dṛṣṭi): Không tin nhân quả.
4. Kiến thủ kiến (dṛṣṭi-parāmarśa): Cố chấp giữ những nhận thức sai lầm.
5. Giới cấm thủ kiến (śīla-vrata-parāmarśa): Nhận thức và thực hành sai lầm những quy tắc, giới luật không đưa tới giải thoát.

forget thoughts, mistaken thought or conceptualization        Illusion    Vọng tưởng    妄想    vikalpa
  Cũng gọi: Phân biệt, Vọng tưởng phân biệt, Hư vọng phân biệt, Vọng tưởng điên đảo.
Đồng nghĩa: Vọng niệm, Vọng chấp.
Tức phân biệt tướng các pháp với tâm hư vọng điên đảo, cũng có nghĩa là do tâm chấp trước nên không thấy biết được sự vật một cách như thật.

Kinh Lăng già quyển 2 nêu ra 12 thứ vọng tưởng như sau:
1. Ngôn thuyết vọng tưởng: Phân biệt các thứ âm thanh hát xướng, ngâm vịnh, chấp giữ và đắm say chúng, cho rằng chúng có tự tính.
2. Sở thuyết sự vọng tưởng: Những việc mà phàm phu nói ra, xét đến cùng chỗ tự tính của chúng th́ chỉ bậc Thánh mới biết chứ phàm phu không rơ; phàm phi chỉ nương vào các việc ấy mà phát sinh ra lời nói thôi.
3. Tướng vọng tưởng: Tuỳ việc mà khỏi lên cái thấy, đối với tất cả pháp tướng, tính toán, chấp trước một cách hư dối.
4. Lợi vọng tưởng: Đắm trước các thứ tài lợi ở thế gian, v́ không biết rằng những tài lợi ấy là hư dối, nên khởi tâm tham đắm.
5. Tự tính vọng tưởng: Chấp trước các pháp, khởi lên cái thấy có tự tính, rồi cho tự tính ấy là đúng, không phải tự tính ấy là sai.
6. Nhân vọng tưởng: Đối với các pháp do nhân duyên sinh, khởi lên kiến chấp có, không... vọng tưởng phân biệt mà h́nh thành cái nhân của sự sinh tử.
7. Kiến vọng tưởng: Đối với pháp 5 uẩn, sinh khởi các tà kiến chấp trước, phân biệt, có - không, một - khác...
8. Thành vọng tưởng: Đối với giả danh thực pháp, so đó cháp trước Ngă và Ngă sở mà khởi lên ngôn thuyết, thành Quyết định luận.
9. Sinh vọng tưởng: Vọng chấp tất cả pháp, hoặc có hoặc không, đều từ duyên khởi mà sinh phân biệt.
10. Bất sinh vọng tưởng: Vọng chấp tất cả pháp đều có sẵn tự thể, không nhờ nhân duyên mới sinh.
11. Tương tục vọng tưởng: Đối với tất cả các pháp, chấp trước chúng hệ thuộc lẫn nhau, nối tiếp lẫn nhau, không có gián đoạn.
12. Phược bất phược vọng tưởng: Đối với tất cả pháp, v́ t́nh sinh dính mắc, th́ thành trói buộc, nếu ĺa vọng tưởng th́ sẽ không bị trói buộc, phàm phu không rơ, cho nên ở trong chỗ không trói buộc, không cởi mà sinh chấp trước.

Four bases of supernatural power            Tứ thần túc    四神足    catvāra ṛddhi-pādāḥ
  Cũng gọi Tứ như ư túc, Tứ như ư phần.
4 pháp đạt được thiền định phát sinh ra các thứ thần thông, lực dụng.
1. Dục như ư túc: Thiền định phát khởi do ư muốn, nhờ tưởng mà đạt được thần thông.
2. Niệm thần túc: Thiền định do năng lực niệm mà phát khởi.
3. Tiến như ư túc: Thiền định do năng lực không ngừng đoạn những điều ác, thực hành những điều thiện mà phát khởi.
4. Tuệ như ư túc: Thiền định do năng lực tư duy về Phật lư mà phát khởi.

Four correct endeavors            Tứ chính cần    四正勤    catvāri prahāṇāni
  Cũng gọi là Tứ chính đoạn, Tứ ư đoạn.
Cần là siêng năng; Đoạn là cắt đứt chướng ngại. Dùng tâm siêng năng tinh tân để đoạn trừ tâm lười biếng, buông lung.
Tứ chính cần là bốn đức mục tu hành làm phương tiện siêng năng tinh tấn trong việc đoạn ác sinh thiện.
1. Nỗ lực đoạn trừ điều ác đă sinh.
2. Nỗ lực ngăn chặn những điều ác chưa sinh.
3. Nỗ lực phát khởi, khơi dậy điều thiện chưa sinh.
4. Nỗ lực nuôi dưỡng, phát triển những điều thiện đă sinh.

four great vows of bodhisattvahood        quatre vœux du bodhisattva     Tứ hoằng thệ nguyện    四弘誓願    
quatre vœux du bodhisattva (shi guzeigan, shigu-seigan, 四弘誓願). Quatre grands vœux prononcés par un bodhisattva quand il prend la décision de s'engager dans la pratique bouddhique : 1) faire passer l’infinité des êtres (sur la rive du nirvana) ; 2) trancher les innombrables passions ; 3) connaître l’insondable des enseignements du Bouddha ; 4) attester de la prééminence de la voie bouddhique.



  Bốn lời nguyện rộng lớn.
1. Chúng sinh vô số lượng, thệ nguyện đều độ khắp
2. Phiền năo nhiều vô lượng, thệ nguyện đều dứt trừ
3. Pháp môn vô số kể, thệ nguyện đều học hết
4. Phật đạo không ǵ hơn, thệ nguyện sẽ chứng thành (đạt được)

four immeasurable minds        Quatre incommensurables    Tứ Vô Lượng Tâm (Từ Bi Hỷ Xả)    四無量心    catvāry apramāṇāni
the four immeasurables, or infinite Buddha-states of mind, also styled 四等 the four equalities, or universals, and 四梵行 noble acts or characteristics; i. e. four of the twelve 禪 dhyānas: 慈無量心 boundless kindness, maitrī, or bestowing of joy or happiness; 悲無量心 boundless pity, karuṇā, to save from suffering; 喜無量心 boundless joy, muditā, on seeing others rescued from suffering; 捨無量心 limitless indifference, upekṣā, i. e. rising above these emotions, or giving up all things, e. g. distinctions of friend and enemy, love and hate, etc. The esoteric sect has a special definition of its own, connecting each of the four with 普賢; 虛 空 藏; 觀自在; or 盧 空 庫.

  Bốn tâm rộng lớn làm lợi ích cho chúng sanh. V́ muốn giúp cho vô lượng chúng sanh ĺa khổ được vui mà khởi bốn loại tâm Từ - Bi – Hỷ - Xả, hoặc nhập vào bốn loại thiền quán Từ - Bi – Hỷ - Xả.
C̣n gọi là Bốn vô lượng, Bốn đẳng tâm, Bốn đẳng, Bốn phạm trụ, Bốn phạm hạnh, Vô lượng tâm giải thoát.
- Từ: Tâm thương yêu.
- Bi: Tâm đồng cảm với nỗi khổ đau của chúng sanh.
- Hỷ: Hoan hỷ khi nh́n thấy chúng sanh hạnh phúc.
- Xả: Xả bỏ tất cả các tướng sai biệt giữa người oán kẻ thân mà khởi cái nh́n b́nh đẳng với mọi loài chúng sanh.
- Từ tâm vô lượng là tâm đem cho chúng sanh an lạc không cùng tận.
- Bi tâm vô lượng là tâm cứu bạt chúng sanh thoát khỏi khổ năo không giới hạn.
- Hỷ tâm vô lượng là tâm không bao giờ ganh tỵ khi nh́n thấy chúng sanh hưởng hạnh phúc an lạc, ngược lạc c̣n vô cùng hoan hỷ.
- Xả tâm vô lượng là tâm xả bỏ tất cả mọi ư niệm phân biệt giữa người thân, kẻ oán, khởi tâm b́nh đẳng nh́n chúng sanh và đem đến cho chúng sanh vô lượng lợi ích.

four kinds of birth        quatre formes de naissance     Tứ sinh    四生    catasro-yonayaḥ
Catur-yoni, the four forms of birth: (1) 胎 or 生 jarāyuja, viviparous, as with mammalia; (2) 卵生 aṇḍaja, oviparous, as with birds; (3) 濕生 or 寒熱和合生 saṃsvedaja, moisture, or water-born, as with worms and fishes; (4) 化生 aupapāduka, metamorphic, as with moths from the chrysalis, or with devas, or in the hells, or the first beings in a newly evolved world.


  Chỉ cho 4 chúng sinh khác nhau của loài hữu t́nh trong 6 đường thuộc 3 cơi.
1. Noăn sinh, Phạm aṇḍaja-yoni: Loài sinh ra từ trứng.
2. Thai sinh, Phạm jarāyujā-yoni: Loài sinh ra từ thai mẹ.
3. Thấp sinh, Phạm Saṃsvedajā-yoni: Loài sinh ra từ khí ẩm thấp tại những chỗ ướt át.
4. Hoá sinh, Phạm upapādukā-yoni: Như hữu t́nh ở các cơi trời, trong địa ngục, trung hữu... đều do nghiệp lực quá khứ mà hoá sinh.

Four lands        Terres quatre    Tứ độ    四土    Buddha-kṣetra
The four Buddha-kṣetra, or realms, of Tiantai: (1) 凡聖居同土 Realms where all classes dwell— men, devas, Buddhas, disciples, non-disciples; it has two divisions, the impure, e. g. this world, and the pure, e. g. the 'Western' pure-land. (2) 方便有餘土 Temporary realms, where the occupants have got rid of the evils of 見思 unenlightened views and thoughts, but still have to be reborn. (3) 實報無障礙土 Realms of permanent reward and freedom, for those who have attained bodhisattva rank. (4) 常寂光土 Realm of eternal rest and light (i. e. wisdom) and of eternal spirit (dharmakāya), the abode of Buddhas; but in reality all the others are included in this, and are only separated for convenience, sake.


  Cũng gọi Tứ Phật độ, Tứ chủng Phật độ. Chỉ cho 4 cơi Phật.
1. Phàm thánh đồng cư độ, cũng gọi Nhiễm tịnh đồng cư độ, Nhiễm tịnh quốc: Cơi nước trong đó phàm phu người, trời cùng ở chung với các bậc thánh Thanh văn và Duyên giác.
2. Phương tiện hữu dư độ, cũng gọi Phương tiện độ, Hữu dư độ: Chỉ cho nơi cư trú của các bậc A la hán, Bích chi Phật và hàng Bồ tát Địa tiền. V́ các bậc này tu đạo phương tiện, đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, cho nên gọi là Phương tiện; nhưng Vô minh căn bản vẫn c̣n sót lại, ngăn che thực tướng Trung đạo, cho nên gọi là Hữu dư.
3. Thực báo vô chướng ngại độ, cũng gọi Thực báo độ, Quả báo độ: Nơi sinh về của các vị Bồ tát đă dứt bỏ được 1 phần vô minh. Nhờ tu hành đạo chân thực mà được quả báo sinh về cơi nước tự tại vô ngại này, nên gọi là Thực báo vô chướng ngại độ.
4. Thường tịch quang độ, cũng gọi Lư tính độ: Chỗ ở của Phật đă hoàn toàn dứt trừ vô minh căn bản, tức nơi cư trú của Phật đă chứng được quả Diệu giác rốt ráo, là cơi Phật thường trụ (pháp thân), tịch diệt (giải thoát) và quang minh (bát nhă).

four meditation heavens            Tứ thiền thiên    四禪天    Caturdhyānabhūmi
  Chỉ các tầng trời cơi Sắc, là quả báo do tu tập 4 thiền định mà có được, hoặc chỉ cho chúng sinh ở các tầng trời này, tức các tầng trời Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền.
Ở Tứ thiền chi có hoạt động của thức ư, tương ứng với cảm giác không khổ không vui. Có 8 tầng trời: Vô vân, Phúc sinh, Quảng quả, Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến, và Sắc cứu cánh.

Four methods of winning (people) over            Tứ nhiếp pháp    四攝法    Catvāri saṃgraha-vastūni
  Là bốn phương pháp Bồ tát dùng để nhiếp hóa chúng sinh, khiến họ khởi tâm cảm mến, rồi dẫn dắt họ vào Phật đạo, hướng dẫn họ tu tập để đạt được giải thoát. Gồm bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.

Xem bài Tứ nhiếp pháp


four wisdoms            Tứ trí    四智    catvāri jñānāni
  Gọi đủ là Tứ trí tương ưng tâm phẩm. Gọi tắt là Tứ trí tâm phẩm. Chỉ bốn loại trí tuệ tương ưng với tâm và tâm sở, là bốn loại đức năng của tâm bồ-đề, cũng chính là bốn loại trí tuệ của Phật, do chuyển các thức thứ 8, thứ 7, thứ 6 và 5 thức giác quan mà thành: thức thứ 8 thành Đại viên cảnh trí, thức thứ 7 thành B́nh đẳng tính trí, thức thứ 6 thành Diệu quan sát trí, 5 thức giác quan thành Thành sở tác trí.
Bốn trí này, ngài Chân Đế dịch trong Nhiếp đại thừa luận thích là Hiển liễu trí, B́nh đẳng trí, Hồi quan trí, Tác sự trí; ngài Gupta dịch trong Nhiếp đại thừa luận thích luận là Cảnh trí, B́nh đẳng trí, Chính quán trí, Tác sở ứng tác trí; ngài Prabhākaramitra dịch trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận là Cảnh trí, B́nh đẳng trí, Quán trí, Tác sự trí.
1. Đại viên cảnh trí: Do chuyển thức hữu lậu thứ 8 là A lại da thức mà thành. Trí này có được do xa ĺa hết thảy sự chấp vào cái tôi, cái của tôi; xa ĺa sự phân biệt, khả năng nắm giữ và cái được nắm giữ; hành tướng của năng duyên và nội cảnh của sở duyên đều vi tế, rất khó nhận biết, nhưng đối với tất cả cảnh giới ấy, Trí vô lậu này có khả năng nhận biết rơ ràng, không mê muội, không quên mất (thường hiện tại). Tính và tướng của Trí này hoàn toàn thanh tịnh, xa ĺa hết thảy mọi nhiễm ô phiền năo, là Trí thuần tịnh viên măn; là chỗ phát sinh, biểu hiện hay hiện hành mọi công đức của thân và tâm, nhưng cũng đồng thời là chỗ thu nhiếp, cất giữ tất cả mọi hạt giống công đức thanh tịnh vô lậu. Trí này có khả năng biểu hiện thân Phật và quốc độ của Phật để tự thọ dụng; nó cũng phản ánh ảnh tượng của ba trí c̣n lại. Trí này không bị gián đoạn, soi suốt tận cùng vị lai, giống như một tấm gương lớn, có khả năng phản chiếu mọi h́nh ảnh. Kinh Phật Địa nói: Đại viên cảnh trí giống như tấm gương lớn soi rơ mọi h́nh ảnh. Cho nên, nương vào tấm kinh trí tuệ của Như Lai, tất cả mọi h́nh ảnh từ sáu xứ, sáu cảnh, sáu thức đều hiển hiện rơ ràng.
2. B́nh đẳng tính trí Trí này chuyển hóa từ thức thứ bảy, thức Mạt Na. Thức Mạt Na phân biệt ta và không ta, kỳ thị giữa của tôi và không phải của tôi. Nhưng nếu thực tập thông minh, ta có thể chuyển hóa Thức thứ bảy thành Trí mang tính B́nh Đẳng, thấy ḿnh và người khác là một, và mầu nhiệm như nhau. Như khi gặp kẻ thù mà ta lạy xuống một lạy, th́ ta sẽ thấy thù cũng cùng một bản tính với bạn, người kia với ḿnh là một và ư niệm hận thù không c̣n nữa. Đó là B́nh Đẳng Tánh Trí, phát hiện ngay trong ḷng của thức Mạt Na, cái thức chấp ngă.
3. Diệu quan sát trí: Diệu quan sát trí là khả năng quan sát một cách mầu nhiệm, được chuyển hóa từ thức thứ sáu. Thức thứ sáu, tức Ư Thức, đầy dẫy những tri giác sai lầm. Nó tạo tác biết bao nhiêu khổ đau. Nhờ Trí Đại Viên Cảnh, nhờ sự chuyển hóa, Ư Thức trở thành Trí Diệu Quan Sát, có thể quán sát muôn vật mà không bị kẹt vào tri giác sai lầm.
4. Thành sở tác trí: Là một Trí tuệ mà gốc là các Thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Con mắt có vô minh làm cho ta say đắm, nh́n giả thành thật. Con mắt làm cho ta mù tối. Bây giờ con mắt có minh tạo tác được những thành tựu, mở cửa cho ta thấy pháp Thân mầu nhiệm.



Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14