Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Searh text

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Search by letter
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Search by category:
BouddhasSutraName-LocationTerms

Bilingual
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14 

Produced by causal conditions        production conditionnée     Duyên sinh    緣生    pratītya-samutpāda
Arising from conditional causation; everything arises from conditions, and not being spontaneous and self-contained has no separate and independent nature

  Xem "Duyên khởi"

Professor        Professeur    A xà lê    阿闍梨    Àcàrya
  Người thầy mà ḿnh gần gũi, nương tựa để học hỏi. Người thầy này có bổn phận dạy đệ tử các thứ giới luật Tỳ kheo, từ xuất gia, thọ giới, học kinh, cho đến dạy pháp môn tu hành.

Pure land         Terre pure    Tịnh độ    淨土    Sukhāvatī
The Pure Land, or Paradise of the West, presided over by Amitābha. Other Buddhas have their Pure Lands; seventeen other kinds of pure land are also described, all of them of moral or spiritual conditions of development, e.g. the pure land of patience, zeal, wisdom, etc.


  Tịnh độ là thế giới trong sạch, không có những điều xấu xa, hoàn toàn thanh tịnh. Nhiếp đại thừa luận chép rằng: "Thế giới mà chúng sinh sống trong đó không có năm điều xấu xa (ngũ trược), th́ gọi là Tịnh độ". Đó là thế giới của chư Phật, là quốc độ của chư Phật, như Tịnh độ của Phật A di đà ở phương Tây, Tịnh độ của Phật Dược Sư ở phương Đông...

Receptacle conscience        Conscience receptacle    A lại da thức    阿賴耶識    Adăna vijnăna (Àlaya)
  Là một trong tám thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, mạt na, và a lại da). Thức này là gốc rễ của các pháp, cho nên gọi là Bản thức; v́ nó có tác dụng mạnh nhất trong các thức, nên cũng gọi là Thức chủ. Thức này là gốc của vũ trụ vạn hữu, cất chứa muôn vật khiến cho không bị mất mát, nên gọi là Tàng thức. Lại v́ nó là hạt giống có khả năng cất chứa và sinh trưởng muôn vật, nên cũng gọi là Chủng tử thức (thức hạt giống).
Thức A-lại-da. Theo học phái Yogācāra (Du-già hành phái), A-lại-da là cái tâm căn bản.
Trong truyền thống Phật giáo nguyên thuỷ, hệ thống tâm lư chỉ có sáu thức : nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức. Đến thời kỳ Phật giáo đại thừa, đặc biệt là học phái Yogācāra, đă phát hiện ra chỗ thâm sâu bên trong sáu thức có một cái ǵ đó không đoạn tuyệt, chính cái đó dẫn chúng sanh đi đến sanh tử luân hồi, cái đó chính là cái tâm tính căn bản hoạt động liên tục để duy tŕ sinh mạng, gọi là A-lại-da thức. Tuy nhiên, bản kinh xuất hiện sớm nhất nói đến thức A-lại-da là kinh Giải thâm mật.
Từ Ālaya nguyên nghĩa chỉ cho cái kho dùng để cất chứa phẩm vật, nói đầy đủ th́ nó có ba ư nghĩa : tiềm tàng, trữ tạng và chấp trước. Căn cứ vào ba ư nghĩa này, A-lại-da thức có ba đặc tính sau đây :
1. Thức A-lại-da tiềm tàng ở trong thân thể : Thức này được cho là tiềm tàng trong thân thể, nó chính là cái tâm có tính căn nguyên duy tŕ và chi phối sự sống của thân thể ; nó tồn tại trong mỗi thân thể và hoạt động liên tục trong khi thức và cả khi ngủ.
2. Thức A-lại-da là cái kho cất giữ những hạt giống (chủng tử) : Thức A-lại-da c̣n có tên là Nhất thiết chủng tử thức (thức của tất cả mọi hạt giống), bởi v́ nó là chỗ lưu trữ tất cả mọi hạt giống (hạt giống h́nh thành từ những lời nói, hành động và suy nghĩ, tức là ba nghiệp thân, khẩu, ư). Nghiệp quá khứ biến thành chủng tử và được huân tập trong thức A-lại-da, sau đó, khi gặp điều kiện th́ nó phát sinh ra nghiệp mới, nghiệp mới này lại tiếp tục tạo ra những chủng tử mới. Do v́ Thức hiện hành (tức là những tâm tính biểu hiện ở lớp ngoài) và Thức A-lại-da (tức là những tâm tính tiềm ẩn ở lớp sâu bên trong) có mối quan hệ hỗ tương nhân quả với nhau (chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử) để duy tŕ sự sống liên tục nên đă h́nh thành nên thuyết A-lại-da duyên khởi.
Tuy nhiên, học phái Yogācāra giữ lập trường ‘tất cả đều do Thức A-lại-da tạo ra’, nên chủ trương thuyết Duy thức.
Thức a-lại-da không những sản sinh ra Nhăn thức, cho đến thức thứ bảy là Thức mạt-na, mà nó cũng đồng thời sản sinh ra thân thể và thế giới tự nhiên (tức là khí thế gian), và nó giữ ǵn, duy tŕ sự tồn tại liên tục của chúng.
3. Thức a-lại-da là đối tượng bị chấp trước: Thức Mạt-na chấp trước Thức a-lại-da làm tự ngă. Thức a-lại-da sinh diệt trong từng sát-na, tuyệt đối không thường tồn và cũng không phải là một cái ngă chủ tể, nhưng từ Thức a-lại-da lại sản sinh ra Thức mạt-na, và thức này lại chấp Thức a-lại-da làm tự ngă của nó, một cái ngă thường hằng và chủ tể.
Thức a-lại-da, tức Tàng thức, được phân ra làm ba phần, là Năng tàng, Sở tàng và Chấp tàng.
- Năng tàng là chỉ cho chức năng thu chứa chủng tử.
- Sở tàng tức là chính những chủng tử đă huân tập các pháp đă được cất chứa.
- Chấp tàng tức là cái Thức đă bị Mạt-na chấp trước.
Thức A-lại-da c̣n có nhiều tên khác, như Nhất thiết chủng thức (Thức của tất cả các hạt giống), Dị thục thức, A-đà-na thức, Vô cấu thức… Trong đó, Thức vô cấu (A-mạt-la thức) là chỉ cho trạng thái Thức a-lại-da khi không bị ô nhiễm, vô cấu, thanh tịnh. Nghĩa là, từ trong Thức a-la-da, diệt trừ mọi chủng tử nhiễm ô, khiến cho Thức a-lại-da chuyển hoá thành Thức cực kỳ thanh tịnh, gọi là Đại viên cảnh trí.
Kinh điển Nguyên thuỷ ghi rằng: “Chúng sanh ái A-lại-da, lạc A-lại-da, hoan A-lại-da, hỷ A-lại-da… cho nên khó ngộ nhập được lư duyên khởi” (Kinh Trung bộ). Kinh lại nói: “Như Lai nói không phải pháp A-lại-da, nhưng chúng sanh cứ cung kính chấp giữ nó, trụ tâm ở đó để cầu giải thoát” (Kinh Tăng chi – Trong Nhiếp đại thừa luận, Vô Trước đă dẫn chứng ư nghĩa của câu kinh này để kiến lập chỗ sở tri).
Xem bài nói về A lại da thức


Relic        Relique    Xá Lợi    舍利    Śarīra
  Là những hạt, những viên hoặc những mảnh xương cốt c̣n lại sau khi hỏa táng.
Trước đây người ta không tin là có xá-lợi Phật. Măi đến năm 1898, ông W.C. Peppé, người Pháp, tiến hành khảo cổ tại vùng Pīprāvā, phía nam nước Népal, đă t́m thấy một cái hộp bằng đá khá lớn, trong đó có chứa hai cái b́nh bằng đá và vài dụng cụ bằng đá khác như tách trà… Hai h́nh đá một lớn một nhỏ đều có chứa những viên xá-lợi. B́nh đá nhỏ dạng h́nh cầu, chia thành hai phần thượng hạ. Nữa phần trên có h́nh tay cầm, khắc niên đại của vua A-dục bằng lối văn tự Brahmī, và người ta đă đọc được nội dung của nó như sau: “Đây là xá-lợi của Đức Phật. Phần xá-lợi này do bộ tộ Śākya, nước Śrāvastī phụng thờ”. Kết quả của việc khảo cổ này đă chứng minh những ǵ được ghi lại trong Kinh Trường A-hàm và rải rác ở những kinh khác về việc phân chia xá-lợi của Phật thành tám phần cho tám quốc gia cổ đại Ấn Độ sau khi Phật nhập niết-bàn là hoàn toàn sự thật.
Kinh ghi: “Sau khi Đức Thích tôn nhập niết-bàn ở rừng Śāla, thành Kuśinagara, xá-lợi của Phật được phân thành tám phần đựng trong tám tháp chia cho tám quốc gia phụng thờ, tháp thứ chín là cái b́nh, tháp thứ mười là tháp tro, tháp thứ mười một là tháp tóc, thờ tóc Thế Tôn khi c̣n tại thế (Trường A-hàm, kinh Du hành).
Theo Bồ-tát xử thai kinh, quyển 3, phẩm Vô thường, xá-lợi có hai loại: Toàn thân xá-lợi và toái thân xá-lợi. Toàn thân xá-lợi là sau khi chết, toàn thân không bị thối rữa, tự nhiên khô cứng lại thành thân kim cương bất hoại. Toái thân xá-lợi là một phần c̣n lại của cơ thể sau khi hỏa táng.
Theo Dục Phật công đức kinh th́ di cốt của Phật gọi thân cốt xá-lợi, c̣n giáo pháp của Phật thuyết gọi là pháp thân xá-lợi. Những xá-lợi này sẽ hiển thị sau khi Đức Phật diệt độ, giáo pháp và giới luật của Phật thuyết sẽ tồn tại măi ở thế gian, làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh.
Theo Pháp uyển châu lâm, quyển 40 th́ xá-lợi có ba loại: Xá-lợi xương màu trắng, xá-lợi tóc màu đen, nhục xá-lợi màu đỏ.
Từ xưa đến nay, tín đồ Phật tử vẫn thường lưu truyền và lễ bái ba loại xá-lợi của Phật là xá-lợi đảnh đầu, xá-lợi răng và xá-lợi ngón tay.
Kinh Kim quang minh, quyển 4, phẩm Xả thân, ghi rằng: “Xá-lợi là kết quả của quá tŕnh huân tu giới, định, tuệ, rất khó đạt được, cho nên nó là ruộng phước điền tối thượng”.
Luận Đại trí độ, quyển 59, nói: “Cúng dường xá-lợi Phật, cho dù nhỏ như hạt cải, cũng được phước báo vô lượng vô biên”. Luận này cũng cho biết, xá-lợi là kết quả tu tập sáu pháp ba-la-mật mà thành.
Tựu trung, xá-lợi là kết quả tự nhiên của quá tŕnh tu tập giới, định, tuệ và đạt được giải thoát. Tuy nhiên, quán sát hành động của chư Phật, chư Bồ-tát, chư vị Tổ sư… th́ xá-lợi được trang nghiêm bằng sự đại dơng mănh, phát ra sự đại thệ nguyện và tăng cường tâm ḿnh bằng sự đại từ bi, để bảo vệ chánh pháp và cứu độ chúng sanh.

Repent        quatre formes de naissance     Sám hối    懺悔    Kṣamayati
chan is the translit. of kṣamā, 悔 its translation, i.e. repentance; but also the first is intp. as confession, cf. 提 deśanā, the second as repentance and reform.

  Thấy được lỗi lầm ḿnh đă gây tạo, cảm thấy ăn năn và mong được tha thứ. Tức là, khi ḿnh làm điều tội lỗi hay phạm phải những điều sai lầm ḿnh cần phải sám hối th́ tội lỗi mới tiêu trừ và trở lại thanh tịnh.
Kinh Phật v́ trưởng lăo Thủ-ca giảng về sự sai biệt của nghiệp, nói rằng: ‘Người nào tạo trọng tội th́ phải tự trách ḿnh, ăn năn sám hối, thệ nguyện không bao giờ tái phạm. Sám hối như vậy th́ có thể nhổ được gốc rễ của nghiệp’.
Kinh niết-bàn, ghi rằng: ‘Nếu đại vương biết sám hối, ḷng cảm thấy hỗ thẹn với lỗi lầm ḿnh đă tạo th́ tội lỗi sẽ tiêu diệt, đại vương sẽ trở lại thanh tịnh như xưa’.
Từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay, sám hối luôn luôn được coi là một trong những pháp tu hành quan trọng của người học Phật. Ngoại trừ trường hợp sám hối riêng lẽ thực hiện tùy lúc, trong đời sống tu học có định kỳ thực hiện nghi thức sám hối đều đặn, tức là mỗi nửa tháng cử hành lễ bố-tát (sám hối và tụng giới) một lần, mỗi năm một lần tổ chức lễ tự tứ (tự ḿnh nói lên lỗi lầm của ḿnh đă phạm và xin người khác chỉ cho ḿnh lỗi lầm đă phạm để sám hối) một lần sau ba tháng an cư.
Phương pháp sám hối thực tiễn cụ thể th́ tùy theo thời đại, phong tục, tông phái… mà có đôi chút khác nhau, chứ không có một định chế bắt buộc. Một cách tổng quát, theo Luật tông, có hai cách sám hối sau đây:
1. Chế giáo nghi: Cách thức sám hối những tội lỗi vi phạm giới luật, chỉ giành riêng cho người xuất gia. Có ba phần:
a. Tội pháp sám: Đứng trước đại chúng gồm có bốn người trở lên để sám hối.
b. Đối thủ sám: Đứng trước người thầy của ḿnh, hay trước một vị tăng thanh tịnh để sám hối.
c. Tâm niệm sám: Hướng về Đức Phật Thế Tôn tự ăn năn sám hối.
2. Hóa giáo nghi: Cách thức sám hối những hành vi sai trái liên quan đến thiện ác, giành cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
Thiên thai tông c̣n lập ra các pháp sám hối thực tiễn hơn: Sự sám (phân biệt tùy lúc sám hối); Lư sám (quán thật tướng, thể ngộ tính chất của tội lỗi cũng có Tánh không); Tác pháp sám hối (y theo giới luật mà thực hành sám hối); Thủ tướng sám hối (quán tưởng tướng hảo của Phật, chừng nào thấy tướng hảo xuất hiện th́ tội lỗi tiêu trừ); Vô sanh sám hối (niệm thật tướng, ngộ được tội vốn vô sanh). Trong các phương pháp sám hối trên, Lư sám hoặc Vô sanh sám được dùng làm trung tâm, tổ chức thành phương pháp thực tiễn là ‘Pháp hoa tam-muội sám nghi’, đề xướng việc thực hành sám hối sáu căn.
Do phương pháp và tính chất sám hối có nhiều loại, cho nên văn sám hối cũng có nhiều bài. Trong Phật giáo đại thừa, văn sám hối thường được sử dụng nhiều nhất là bài kệ trong kinh Hoa nghiêm:
‘Con xưa vốn tạo bao ác nghiệp,
Đều do vô thủy tham, sân, si,
Từ thân miệng ư phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối’.
Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết-ma sớ, quyển 4, ghi rằng, muốn thực hành sám hối cần phải hội đủ 5 điều kiện:
1. Thỉnh mười phương chư Phật, Bồ tát chứng minh
2. Tụng kinh chú
3. Nói lên cái tội mà ḿnh đă phạm
4. Lập lời thề không tái phạm
5. Đúng như giáo pháp chứng minh cho.
Viên giác kinh lược sớ sao, quyển 12, cho biết, trong truyền thống Phật giáo Nam truyền, muốn sám hối phải thỉnh đại tăng Tỳ-kheo làm chứng, khi đối trước đại tăng phải làm đủ 5 pháp:
1. Để lộ vai bên phải
2. Gối phải quỳ xuống đất
3. Chắp tay
4. Nói lên tội ḿnh đă phạm
5. Lễ sát chân đại tăng.
Nếu trường hợp không có đại tăng th́ không cần thực hành pháp thứ 5.
Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh, quyển thượng, cho biết, khi thực hành sám hối thành công, người ấy sẽ đắc được cái tướng ba nghiệp thiện, hào quang sáng rực cả pḥng, ngửi được mùi hương lạ vô cùng đặc biệt, thân thể và tâm ư đều được an lạc, nhẹ nhàng, hoặc nằm mộng thấy Phật và Bồ-tát đến lấy tay xoa đầu, nói : ‘Lành thay! Nay con đă được thanh tịnh, v́ vậy Ta đến để chứng minh cho con!’
Đại thừa bổn sanh tâm địa quán kinh, quyển 3, cũng nói ‘Nếu người nào thực hành sám hối đúng như pháp th́ phiền năo chắc chắn tiêu trừ. Giống như thế gian bị kiếp hỏa hủy hoại, thiêu cháy đến tận núi Tu-di, làm khô hết biển cả, sám hối đúng như pháp cũng sẽ đốt cháy hết mọi phiền năo, sám hối đúng như pháp sẽ văng sanh đến cơi trời, sám hối đúng như pháp sẽ đắc được an lạc của Tứ thiền, sám hối đúng như pháp th́ cảm được được mưa báu ngọc ma-ni, sám hối đúng như pháp th́ được thọ mạng lâu dài như kim cương, sám hối đúng như pháp sẽ đưa đến cung thương lạc, sám hối đúng như pháp sẽ thoát khỏi ngục tù ba cơi, sám hối đúng như pháp sẽ làm nở đóa hoa bồ-đề, sám hối đúng như pháp sẽ thấy được Phật…’

right behavior            Chánh nghiệp    正業    samyak-karmānta
  Nghiệp, Phạn karmā, là hành động có dụng tâm (có tác ư). Hành động, theo Phật giáo, gồm có hành động của thân, gọi là thân nghiệp; hành động của miệng, gọi là khẩu nghiệp; và hành động của ư, gọi là ư nghiệp.
Chánh nghiệp, Phạn samyak-karmānta, có nghĩa là sự thanh tịnh của ba nghiệp thân, khẩu, và ư. Nhưng trong Bát chánh đạo, khi nói đến Chánh nghiệp là nói đến sự thanh tịnh của thân nghiệp. Khẩu nghiệp thuộc về Chánh ngữ, và ư nghiệp thuộc về Chánh niệm (nó cũng thuộc về Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh định). Trong các kinh, khi nói đến Chánh nghiệp thường định nghĩa là hành vi không sát sinh, không trộm cướp và không tà dâm… thực hành việc tôn trọng sự sống, bố thí, và sống đời trong sạch không trái đạo lư.

Xem bài nói về Chánh nghiệp


Right Belief        Compréhension juste    Chánh kiến    正見    samyag-dṛṣṭi
  Là nhận thức đúng đắn, ngay thẳng, chân chánh; là sự hiểu biết sáng suốt và hợp lư. Nhận thức này có tác dụng đưa con người thoát khỏi lối sống mê lầm, điên đảo. Người có Chánh kiến thấy như thế nào th́ nhận đúng như thế ấy, không đổi trắng thay đen, không kỳ thị xấu tốt, không phê phán hay dở. Chánh kiến là sự hiểu biết và nhận thức không bị tập quán, thành kiến, dục vọng hay tâm phân biệt ngăn che và làm sai lạc.
Chánh kiến hay Chánh tri kiến có nghĩa là nhận thức đúng đắn về định luật nhân quả ở thế gian và xuất thế gian; bằng trí tuệ hữu lậu hoặc vô lậu, thẩm định đúng đắn về tánh và tướng của các pháp, xa ĺa nhận thức nhị nguyên.
Định nghĩa theo truyền thống kinh tạng Nikàya và A-hàm th́, Chánh kiến là thấy rơ Tứ thánh đế, thấy rơ duyên khởi, thấy các pháp vô ngă.
Chánh kiến c̣n được ngài Xá-lợi-phất định nghĩa một cách rất đơn giản: phân biệt được bốn loại thức ăn là Chánh kiến; phân biệt được thiện và bất thiện là Chánh kiến; thấy được Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định là Chánh kiến.
Tóm lại, Chánh kiến là nhận chân được sự thật của cuộc đời, thấy được bản chất thực tướng của các pháp. Sự thật của cuộc đời hay bản chất của các pháp là ǵ? Là duyên sinh, vô ngă. Đó là nhận thức hay thế giới và nhân sinh quan của Phật giáo.

Xem bài nói về Chánh kiến


right concentration        Concentration juste    Chánh định    正定    samyaktva-niyata-rāśi
Recollection, memory; to think on, reflect; repeat, intone; a thought; a moment.

  Định là trạng thái tâm chuyên chú vào một đối tượng, tinh thần tập trung một chỗ, không tán loạn, giữ tâm ở trạng thái vắng lặng, tịch tĩnh, hay nói cách khác Định có nghĩa là trạng thái tâm ư chuyên chú tập trung vào một đề mục, một đối tượng, một biểu thức nhất định nhằm mục đích để cho tâm không bị xao động, tán loạn do những tác động chủ quan và khách quan.
Chánh định là tập trung chân chánh và đồng đều tâm vương và các tâm sở đồng phát sanh vào một đối tượng duy nhất. Như vậy, tâm định là trạng thái tinh thần khi các thành phần của tâm được đặt trên một đối tượng duy nhất một cách đồng đều và chân chánh, không dao động và không phân tán. Chánh định là trạng thái tâm thức vượt thắng mọi sự trói buộc của triền cái, không c̣n bị thúc đẩy hay bị lôi cuốn vào bất cứ một đối tượng nào, luôn luôn giữ được trạng thái tâm thức thăng bằng, an ổn, định tĩnh.


right livelihood            Chánh mạng    正命    samyag-ājīva
  Chánh mạng là sự sống, lối sống chân chánh. Nuôi sống bản thân bằng nghề nghiệp, bằng phương tiện chân chính, không gây tổn hại đến người khác, loài khác, gọi là chánh mạng.
Hành vi trộm cắp, bướp bóc là tà nghiệp. Nếu nuôi sống bản thân bằng cái nghề ăn cướp th́ gọi là lối sống tà mạng.

Xem bài nói về Chánh mạng


Sākyamuni Buddha        Bouddha Shākyamuni     Phật Thích Ca Mâu Ni    釋迦牟尼    Sākyamuni Buddha
  Đây là danh hiệu của Thái tử Tất Đạt Đa Cồ-đàm (sa. siddhārtha gautama, zh. 悉達多 瞿曇), người đă tự ḿnh t́m đường giải thoát và sáng lập Phật giáo.
Ḍng Thích-ca vốn là vương tộc, cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Độ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepal. Kinh đô thời đó là Ca-t́-la-vệ (sa. kapilavastu), là nơi Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha là Tịnh Phạn (sa. śuddhodana, pi. suddhodana), trị v́ tiểu vương quốc Thích-ca.

Saṃyuktāgama        Les sutras sur des sujets liés     Tạp A hàm kinh    雜阿含經    Saṃyuktāgama
  Tạp A-hàm, tiếng Phạn là Saṃyuktāgama, gồm 50 quyển, do Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra, người Trung Ấn độ, 394~468 Tây lịch) dịch sang tiếng Hán vào đời Lưu Tống (435 Tây lịch), hiện được xếp vào ĐTK/ĐCTT, tập 2, kinh số 99, trang 1-303. Từ số 100-124 là các bản biệt dịch Tạp A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a3, HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, trọn bộ 4 tập.
Theo Ngũ Phần Luật, quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54... cho rằng kinh này do Đức Phật nói cho nhiều đối tượng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên tử, Thiên nữ về các pháp Tứ thánh đế, Bát chính đạo, Thập nhị nhân duyên... biên tập thành một bộ, nên gọi là Tạp A-hàm. Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 32, nói rằng kinh này văn cú phức tạp, cho nên gọi là Tạp A-hàm. Ngoài ra, Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa quyển 1, nói kinh Tạp A-hàm xiển dương các loại thiền định, là pháp môn mà người tọa thiền phải học tập. Du Già Sư Dịa Luận quyển 85, th́ nói do tất cả mọi sự đều tương ưng với giáo, tập hợp tất cả nghĩa lư đó lại thành một bộ, gọi là Tạp A-hàm.
Căn cứ vào Đại chính tạng, kinh này có 50 quyển, 1362 kinh, nội dung tương đương với Tương ưng bộ (Saṃyutta-nikāya, gồm 5 tụ, 56 thiên, 203 phẩm, 2858 kinh) bản Pāli của Nam truyền Phật giáo. Đây là bộ kinh lớn nhất và cũng được h́nh thành sớm nhất trong bốn bộ A-hàm. Nếu phân loại theo tính chất, toàn kinh có thể chia thành ba bộ phận lớn.
1. Tu-đa-la (sūtra), nội dung gồm các kinh tŕnh bày về Uẩn, Xứ, Duyên khởi, Thực, Đế, Giới, Niệm, Trụ...
2. Kỳ-dạ (geya), là những kinh có lời vấn đáp được tŕnh bày bằng thể loại kệ tụng.
3. Kư thuyết (vyākaraṇa), những lời của Đức Phật và các đệ tử của Ngài thuyết.
Ba bộ phận trên đây tương đương với Sở thuyết, Sở vi thuyết, Năng thuyết được nói đến trong Du Già Sư Dịa Luận quyển 85.
Kinh Tạp A-hàm c̣n bảo tồn phong cách của Phật giáo nguyên thủy, tuy vẫn có những phần do đời sau thêm vào, nhưng hầu hết đều được thành lập vào thời kỳ rất sớm. Văn phong của kinh này rất đơn giản, câu cú rơ ràng, chứa đựng nhiều pháp môn tu hành rất thực tiễn. Chẳng hạn như các phẩm nói về Niệm trụ, Uẩn, Giới... Từ những đoạn đối đáp giữa Đức Phật và các đệ tử hiển hiện ra Tứ song, Bát bội, y vào Bát chúng mà nói "Chúng tương ưng", khiến cho hàng tại gia, xuất gia, nam nữ, lăo ấu, các đại đệ tử đều có thể lănh thọ được sự lợi ích của giáo pháp.
Có rất nhiều học giả cận đại nghiên cứu về bốn bộ A-hàm. Đầu tiên là các học giả Phương tây, sau đó là các học giả Nhật bản tiến bộ thêm một bước trong phương pháp luận cứu. Thành quả đạt được tuy rất to lớn, nhưng chủ yếu là văn bản Pāli, v́ họ cho rằng đó mới là ngôn ngữ thánh điển nguyên thủy. Các bộ Hán dịch A-hàm pho quyển quá nhiều, thiên chương trùng phức, từ ngữ mâu thuẫn, văn dịch vụng về, nên không được phổ cập. Sau khi các nhà nghiên cứu Phật học Trung quốc thời cận đại nhận thức được giá trị của kinh điển A-hàm mới bắt đầu có xu hướng khảo cứu tư tưởng A-hàm. Chẳng hạn như Tạp A-hàm, bản hiện nay do nội dung chưa hoàn chỉnh, thứ tự lộn lạo, thất lạc, kinh văn khó hiểu, cho nên các học giả cận đại mới chỉnh lư lại kinh này. Trước mắt, có 2 bản mới là kinh Tạp A-hàm do Phật Quang Sơn xuất bản và Tạp A-hàm kinh luận hội biên của Ấn Thuận. Bản Tạp A-hàm của Phật Quang Sơn sử dụng h́nh thức chấm câu mới và phân đoạn rơ ràng, chú trọng đối chiếu với các bản Pāli, Hán dịch cùng với các bản dị dịch khác, phân định lại thứ tự số quyển, ở mỗi kinh nhỏ đều có giải thích ư kinh, những chỗ kinh văn khó hiểu th́ cẩn thận chua thêm văn Pāli để đối chiếu hoặc dịch ra Trung văn (Bạch thoại). Ngoài ra, điểm đặc sắc của bản này c̣n được nh́n thấy qua cách hiệu đính nghiêm túc, chú giải rơ ràng, dẫn chứng đầy đủ. Tạp A-hàm kinh luận hội biên của ngài Ấn Thuận th́ lấy kinh Tạp A-hàm đối chiếu với Luận Du Già Sư Địa, đồng thời dùng phương pháp cổ lệ của Ấn độ để phân loại nội dung, mà không dùng cách phân quyển như các bản kinh Hán dịch truyền thống. Ấn Thuận hội biên Tạp A-hàm thành 7 phần 51 mục tương ưng.

sadness, mournfulness        Tristesse    Ai thán     哀歎     Karṇāyamāna
  Buồn đau, sự thê lương.

Samādhi        concentration-extatique    Tam-muội    三昧    samādhi
Samādhi, "putting together, composing the mind, intent contemplation, perfect absorption, union of the meditator with the object of meditation." (M. W.) Also 三摩地 (三摩提, 三摩帝, 三摩底). Interpreted by 定 or 正定, the mind fixed and undisturbed; by 正受 correct sensation of the object contemplated; by 調直定 ordering and fixing the mind; by 正心行處 the condition when the motions of the mind are steadied and harmonized with the object; by 息慮凝心 the cessation of distraction and the fixation of the mind; by 等持 the mind held in equilibrium; by 奢摩他, i.e. 止息 to stay the breathing. It is described as concentration of the mind (upon an object). The aim is 解脫, mukti, deliverance from all the trammels of life, the bondage of the passions and reincarnations. It may pass from abstraction to ecstasy, or rapture, or trance. Dhyāna 定 represents a simpler form of contemplation; samāpatti 三摩鉢底 a stage further advanced; and samādhi the highest stage of the Buddhist equivalent for Yoga, though Yoga is considered by some as a Buddhist development differing from samādhi. The 翻譯名義 says: 思專 when the mind has been concentrated, then 志一不分 the will is undivided; when 想寂 active thought has been put to rest, then 氣虛神朗 the material becomes etherealized and the spirit liberated, on which 智 knowledge, or the power to know, has free course, and there is no mystery into which it cannot probe. Cf. 智度論 5, 20, 23, 28; 止觀 2; 大乘義章 2, 9, 1 3, 20, etc. There are numerous kinds and degrees of samādhi.


  Trạng thái thiền định. Cảnh giới thiền định.
Trong kinh Phật, từ Samādhi được dịch là Đẳng tŕ thời, 'đẳng' là giữ cho tâm được b́nh đẳng an lành, không để cho lao xao, lay động; 'tŕ' là chuyên tâm ở một cảnh, không tán loạn, gọi là Tâm nhất cảnh tính.
Nói chung, việc tu hành cốt yếu là chuyên tâm chú ư ở một chỗ, không để tán loạn mà phài giữ cho tâm an tĩnh, trạng thái này gọi là Tam muội. Khi đạt đến trạng thái Tam muội th́ liền phát khởi trí tuệ mà khai ngộ chân lư.

Second meditation        Deuxième niveau d'expérience méditative    Nhị thiền    二禪    Dvitīya-dhyāna
  Tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm.
Người chứng Nhị thiền tâm định trong sáng, cảm nhận hỷ lạc, nên gọi là Định sinh hỷ lạc.

second meditation heaven            Nhị thiền thiên    二禪天    Dvitīya-dhyāna
  Cơi trời của những người tu chứng Nhị thiền, là tầng trời thứ hai trong cơi Sắc. Tầng này lại được chia làm 3 cơi là: Trời Thiểu quang, Trời Vô lượng quang và Trời Quang âm.
Người ở cơi Nhị thiền tuy đă ĺa 2 tâm sở tâm và tứ thô động của Sơ thiền, có thể tránh khỏi đại hoả tai của kiếp mạt, nhưng v́ vẫn c̣n có niệm hỉ lạc nên không tránh khỏi đại thuỷ tai của kiếp mạt.

Secret        Caché    Ẩn mật    隱密    
Esoteric meaning in contrast with 顯了 exoteric, or plain meaning.


  Đức Phật nói pháp có hai ư hiển chương (rơ ràng) và ẩn mật (kín đáo). Từ ngữ "Hiển chương ẩn mật" là một mục từ do Tịnh độ chân tông Nhật bản dùng để giải thích kinh Quán vô lượng thọ. Hiển chương là hiển bày ra lời nói, văn chữ phân minh rơ ràng; c̣n ẩn mật là cái ư chính của người nói được dấu kín trong câu văn. Nói rơ là phương tiện, ư kín là chân thực.

self-love            Ngă ái    我愛     ātma-sneha
Self-love; the love of or attachment to the ego, arising with the eighth vijñāna.

  Yêu quư cái "ta" rất sâu đậm, là 1 trong 4 phiền năo căn bản, do thức thứ 7 (mạt na thức) chấp thức thứ 8 (a lại da thức) làm ngă mà sinh khởi.

self-view            Ngă kiến    我見    Ātma-dṛṣṭi
The erroneous doctrine that the ego, or self, composed of the temporary five skandhas, is a reality and permanent.

  Nhận thức, quan niệm về một cái ngă có thật. C̣n gọi là Thân kiến. Có 2 loại:
1. Nhân ngă kiến: Chấp trước thân tâm do 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức giả hợp này là một cái ngă có thực.
2. Pháp ngă kiến: Cho rằng tất cả các pháp đều có thể tính thực tại.

sentient being        êtres sensitifs ou êtres émotionnels     Hữu t́nh    有情     sattva
有情 sattva, 薩埵 in the sense of any sentient being; the term was formerly tr. 衆生 all the living, which includes the vegetable kingdom, while 有情 limits the meaning to those endowed with consciousness.



  Chúng sinh có t́nh cảm.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14