Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Searh text

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Search by letter
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Search by category:
BouddhasSutraName-LocationTerms

Bilingual
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14 

love and attachment; strong attachement            An ban thủ ư kinh    安般守意經    Ānāpāna sūtra
  Kinh căn bản của Thiền tông, do An Thế Cao dịch từ Phạn ra Hán, Trần Tuệ chú giải, thiền tăng Khương Tăng Hội (?-280) bổ túc và viết bài tựa. Đây là một trong những bộ kinh Phật được chú giải đầu tiên ở Giao Chỉ trong thời Phật giáo mới du nhập vào Việt Nam. Nội dung dạy cách toạ thiền đếm hơi thở, quán niệm hơi thở để giữ tâm ư không bị tán loạn.

Maitreya        Maitreya    Phật Di Lặc    彌勒佛    Maitreya
  Vị Phật tương lai của chúng ta có tên là Di-lặc. Kinh Tạp A-hàm, ghi: “Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi sẽ có Đức Phật hiệu là Di-lặc ra đời” (Tạp A-hàm, kinh số 66).
Di-lặc, tiếng Phạn là Maitreya, Trung Hoa dịch là Từ Thị (họ Từ). Tên Ngài là A-dật-đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng (không ǵ hơn). Có khi người ta cho A-dật-đa là họ, c̣n Di-lặc là tên của Ngài.
Ngài sanh tại niềm nam nước Thiên Trúc trong một gia đ́nh Bà-la-môn. Tương truyền, Ngài là vị Phật tương lai, tiếp sau đức Phật Thích Ca, hiện đang là vị Bồ-tát bổ xứ. Khi Quang Phật nhập diệt, Ngài sanh vào nội viện cung trời Đâu Suất. Ở đó đến 4 ngàn năm (tức là khoảng 56 ức 7000 vạn năm ở cơi người), th́ hạ sanh xuống nhân gian, dưới cây Long Hoa ở vườn Hoa Lâm, và thành Chánh giác. Trong quá khứ, Ngài đă từng tu tập thành công từ tâm tam-muội, do đó mà có tên là Từ Thị. Đến khi thành Phật cũng lấy tên này.
Chú Duy Ma Kinh, quyển 1, ghi: “Di-lặc là họ của một vị Bồ-tát, tên là A-dật-đa. Người nam Thiên Trúc, thuộc ḍng dơi Bà-la-môn”. Thiên Thai Tịnh Danh Sớ, ghi rằng: “Di-lặc nghĩa Từ Thị. Trong quá khứ, ngài từng làm vua tên là Đàm-ma-lưu-chi, dùng ḷng Từ Bi để cai trị thiên hạ, nên dân chúng tôn xưng ngài là Từ Thị. Từ đó trở đi, ngài luôn mang tên Từ Thị, họ là A-dật-đa, tức là không ǵ hơn”.
Câu Xá Quang Kư, quyển 18, ghi: “Maitreya dịch nghĩa là Từ Thị. Đó là vị Bồ-tát sinh ra từ ḷng từ bi, cho nên gọi tên như vậy”.

Marvellous method of education        Enseignement merveilleux    Đốn giáo    頓教    
  1. Về nội dung nói pháp: Giáo pháp giúp hành giả chứng được quả vị Phật một cách nhanh chóng mà thành tựu bồ-đề, hoặc là giáo pháp khiến người tu hành vượt lên liền đến quả Phật, gọi là Đốn giáo.
2. Về h́nh thức nói pháp: Đối với căn cơ đốn ngộ, th́ ngay từ đầu, nói thẳng vào giáo pháp sâu xa vi diệu, gọi là Đốn giáo.

mental factors            Tâm sở    心所    caitta, caitasika
Mental conditions, the attributes of the mind, especially the moral qualities, or emotions, love, hate, etc.; also 心所有法, v. 心心.

  C̣n được gọi là Tâm sở hữu pháp (sa. caittadharma), là những yếu tố phụ thuộc vào Tâm, gắn liền với một nhận thức (sa. vijñāna) – nhận thức đây cũng được gọi là Tâm vương (sa. cittarāja), là hoạt động tâm thức chủ yếu – đang sinh khởi và khởi lên đồng thời với nhận thức đó. Các Tâm sở miêu tả tất cả những khía cạnh tâm trạng mà ai cũng có thể tự khám phá, t́m được nơi chính ḿnh – có thể gọi là bản đồ tâm lí của con người.
Duy thức tông liệt kê 51 loại tâm sở.

meritorious virtue        Mérite    Công đức    功德    Guṇa
Virtue achieved; achievement; power to do meritorious works; merit; meritorious virtue; the reward of virtue; a name for 弗若多羅 Puṇyatara, one of the twenty-four 天尊 deva aryas, worshipped in China.


  Công có nghĩa là công năng, có cái công giúp cho điều phúc lợi; công ấy khiến làm được những việc tốt lành có đức, gọi là công đức.

Diệt sạch hết mọi điều ác gọi là công, làm hết mọi điều lành là đức. Thành tựu cả công lẫn đức th́ đạt được giải thoát, gọi là công đức viên măn.

Metta Sutta            Kinh Từ Bi    慈經    Mettā-sutta
Is a Buddhist discourse (sutta) found in the Pali Canon's Sutta Nipata and Khuddakapatha. Ten verses in length, the Mettā Sutta extols both the virtuous qualities and the meditative development of mettā, traditionally translated as "lovingkindness" or "friendliness".

  Kinh Từ Bi, Mettàsuta, là một bài kinh ngắn trong một tập kinh ngắn thuộc kinh tập (Suttanipàta), thuộc Tiểu bộ kinh (Khudakanikàya), kinh tạng Pàli.
Đây là bản kinh duy nhất trong kinh tạng Nikàya đặc biệt giới thiệu một nếp sống hành Từ hạnh, một pháp hành Giới, Định, Tuệ mà đối tượng an trú tâm là ḷng Từ vô lượng. Nếu Kinh Kim Cương Bát Nhă, và nhiều kinh khác thuộc Nikayà và hệ Phát triển (Đại thừa) tập chú vào công phu hành thiền quán (vipassara) phát triển trí tuệ để cắt đứt các kiết sử, lậu hoặc, th́ kinh Từ Bi giới thiệu công phu tập chú phát triển niệm Từ với tâm tỉnh giác (có chánh kiến, trí tuệ) cũng sẽ dẫn đến thành tựu sự dập tắt được các ngă tướng, từ đó dập tắt các lậu hoặc, chấm dứt sinh tử, luân hồi.

Middle Length Āgama Sutras        Les sutras moyens     Trung A hàm kinh    中阿含經    Madhyamāgama
  Kinh Trung A-hàm, tiếng Phạn là Madhyamāgama, có 60 quyển, 222 kinh, do Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva, người nước Kế Tân, Bắc Ấn) và Tăng-già-la-xoa (Saṃgharakṣa, người nước Tu Lại, Tây Bắc Ấn) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Đông Tấn, niên hiệu Long An thứ 2 (398 Tây lịch), hiện nằm trong ĐTK/ĐCTT, tập 1, số 26, trang 421-809. Các kinh từ số 27 đến 98 là các bản dịch lẻ tẻ (đơn bản) của các kinh thuộc Trung A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a2, Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, trọn bộ 4 tập. Chúng tôi dựa vào bản dịch của TT. Tuệ Sĩ để giới thiệu (Xem trên web phatviet.com).
Luận Phân Biệt Công Đức quyển 1, giải thích chữ trung có nghĩa là không lớn không nhỏ, không dài không ngắn, Trung A-hàm là tuyển tập những kinh không dài không ngắn. Đọc Trung A-hàm chúng ta thấy quả thật những kinh trong đây không dài như Trường A-hàm nhưng không ngắn chút nào!
Về sự truyền thừa và đối chiếu với kinh Trung bộ thuộc Nam tạng, xin xem luận án tiến sĩ của HT. Thích Minh Châu trong cuốn So sánh kinh Trung A-hàm chữ Hán và kinh Trung bộ chữ Pāli do Ni sư Trí Hải dịch. Ở đây, chúng tôi ghi nhận Trung A-hàm được truyền dịch từ Nhất thiết hữu bộ, bởi Tăng-già-la-xoa và Tăng-già-đề-bà đều là Đại luận sư của Hữu Bộ, mọi người đều biết. Đề-bà dịch Luận A-tỳ-đàm Bát Kiền-độ (Luận Phát Trí của Ca-chiên-diên) là sách trọng yếu nhất của Hữu Bộ, La-xoa dịch tiếp Luật Thập Tụng của ngài La-thập cũng là luật Hữu Bộ.
60 quyển Trung A-hàm chia thành 5 tụng, 18 phẩm. 5 tụng là Sơ tụng, Tiểu độ thành tụng, Niệm tụng, Phân biệt tụng và Hậu tụng. 18 phẩm gồm: 1, Phẩm bảy pháp, gồm 10 kinh; 2, Phẩm Nghiệp Tương Ưng, gồm 10 kinh; 3, Phẩm Xá-lê Tử Tương Ưng, 11 kinh; 4, Phẩm Vị Tằng Hữu Pháp, 10 kinh; 5 Phẩm Tập Tương Ưng, 16 kinh; 6, Phẩm Vương Tương Ưng, 14 kinh; 7, Phẩm Trường Thọ Vương, 15 kinh; 8, Phẩm Uế, 10 kinh; 9, Phẩm Nhân, 10 kinh; 10, Phẩm Lâm, 10 kinh; 11, Phẩm Đại, 25 kinh; 12, Phẩm Phạm Chí, 20 kinh; 13, Phẩm Căn Bản Phân Biệt, 10 kinh; 14, Phẩm Tâm, 10 kinh; 15, Phẩm Song, 10 kinh; 16, Phẩm Đại (Hậu tụng),10 kinh; 17; Phẩm Bổ-lợi-đa, 10 kinh; 18, Phẩm Lệ, 11 kinh.
Kinh này ghi lại nhiều bài pháp thoại của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, thỉnh thỏang cũng có những lời giáo giới của Đức Phật cho các đệ tử, các bậc vương giả, cư sĩ và ngoại đạo.

mind-king            Tâm vương    心王    caitta, caitasika
The mind, the will the directive or controlling mind, the functioning mind as a whole, distinct from its 心所 or qualities.


  Vua tâm, tức chỉ cho chủ thể của 6 thức hoặc 8 thức.
Thuyết nhất thiết hữu bộ cho thể tính của 6 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư là một, cho nên chủ trương Tâm vương chỉ một (chỉ có một Tâm mà thôi).
Tông Pháp tướng (Duy thức tông) th́ cho rằng 8 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, mạt na (thức thứ 7), a lại da thức (thức thứ 8) đều có thể tính riêng, cho nên chủ trương có 8 loại Tâm vương.

mindfulness, memory            Niệm    念    smṛti
Recollection, memory; to think on, reflect; repeat, intone; a thought; a moment.

  Niệm là ghi nhớ, tên một loại tâm sở (tác dụng của tâm). Tâm sở này ghi nhớ những đối tượng mà nó duyên theo một cách rơ ràng không để quên mất.
Ví dụ: Niệm Phật là ghi nhớ Phật ở trong ḷng, không bao giờ quên.
Niệm là một loại tâm sở pháp, là một trong năm loại tâm sở biệt cảnh. Ư nghĩa của nó là Hệ niệm, là buộc tâm chuyên chú vào một cảnh giới, ghi nhớ rơ ràng, không để quên mất. Thông thường, chúng ta hay nói là ‘hoài niệm’, tức là chỉ cho cái tâm nhớ về cảnh giới quá khứ. Nhưng chữ niệm ở đây, trong ư nghĩa của Phật giáo, nó thông cả ba đời, là nhớ nghĩ cảnh giới quá khứ mà khiến cho hiện tại được phân minh rơ ràng.
Niệm là một trong những phương pháp tu hành Phật pháp, như thực tập sổ tức quán (theo dơi và đếm hơi thở ra vào) gọi là an ban niệm; niệm Phật, Pháp, Tăng, Thí, Giới và Thiên gọi là Lục niệm; trong 37 phẩm trợ đạo có Tứ niệm xứ… đều là những pháp tu bằng niệm.
Để đạt được định th́ bắt buộc phải có niệm, do niệm mà dần đi vào định. Trong kinh có nói, tâm của chúng ta phiền năo tán loạn, khi nghĩ cái này khi nghĩ cái kia, không một sát-na dừng nghỉ, cho nên cần phải cho nó một đối tượng để cho nó duyên vào đó, để cột nó lại, khiến cho nó từ từ an trụ.
Phẩm loại túc luận nói ‘niệm là rơ tâm, nhớ tánh’. Câu-xá luận nói ‘niệm là nhớ rơ đối tượng không quên’. Thành duy thức luận định nghĩa: ‘Niệm là ǵ? Tự tính của nó là sự nhớ rơ không quên mất của tâm đối với cảnh đă từng quen thuộc. Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho định. Tức là thường xuyên ghi nhớ cảnh đă từng được tiếp nhận không để cho quên mất, có thể dẫn đến định. Đối với cảnh mà thể và loại của nó chưa hề được tiếp nhận, niệm hoàn toàn không phát khởi. Giả sử đối tượng đă từng được tiếp nhận nhưng không được ghi nhận rơ ràng, niệm cũng không phát sinh’.

mine        Soi ou moi-substance    Ngă    我    ātman
I, my, mine; the ego, the master of the body, compared to the ruler of a country. Composed of the five skandhas and hence not a permanent entity. It is used for ātman, the self, personality. Buddhism takes as a fundamental dogma 無我, i.e. no 常我, no permanent ego, only recognizing a temporal or functional ego. The erroneous idea of a permanent self continued in reincarnation is the source of all illusion. But the Nirvana Sutra definitely asserts a permanent ego in the transcendental world, above the range of reincarnation; and the trend of Mahāyāna supports such permanence.

  Cái tôi, cái ta, hay linh hồn, hoặc chỉ chung cho chủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn gốc của mọi vật và chi phối cá thể thống nhất.
Phật giáo chủ trương thuyết vô ngă, phủ nhận cái tôi, cái ta hay linh hồn.

Truy t́m tự ngă


Mrgadava        Parc des Gazelles    Lộc Uyển    鹿苑    Mṛgadāva
  Gọi đủ là Lộc Dă Uyển: Vườn nai, nơi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên sau khi thành đạo, nay là Sārnāth, nằm cách thành phố Varanasi 6 cây số về mạn bắc, thuộc Bắc Ấn độ.

Kinh điển

Một thời, Phật trú trong vườn Lộc dă, Tiên nhơn trú xứ, nước Ba-la-nại. Bấy giờ Thế Tôn bảo năm vị Tỳ-kheo:
“Đây là Khổ Thánh đế, là pháp vốn chưa từng được nghe, khi được tư duy chân chánh, phát sanh nhăn, trí, minh, giác. Đây là Khổ tập, là nguyên nhân của khổ đau, chính là khát ái. Đây là Khổ diệt, tức niềm hạnh phúc sau khi đă diệt hết khổ và nguyên nhân của khổ, chính là Niết-bàn. Đây là Khổ diệt đạo tích Thánh đế, tức là con đường đưa đến Niết-bàn, chính là Thánh đạo tám chi, là pháp vốn chưa từng nghe, khi được tư duy chân chánh, phát sanh nhăn, trí, minh, giác.” (Kinh Chuyển Pháp Luân)

Vị trí địa lư

Thời Phật tại thế, Lộc dă uyển là một khu rừng thuộc quốc vương Ba-la-nại, nay thuộc thành phố Sāranāth, bang Varanasi, niềm bắc Ấn độ.

Tên gọi

Lộc dă uyển c̣n gọi là Lộc dă viên, Lộc uyển, Lộc dă. Tên đầy đủ là Tiên nhân trú xứ lộc dă uyển (Rṣipatana mṛgadāva).

Về tên gọi của khu rừng này, theo Kinh Xuất Diệu, quyển 14, ghi: ‘Vùng đất này là chỗ Tiên nhân và những người đắc quả Ngũ thông thường lui tới, cư ngụ, chẳng phải là chỗ của người phàm phu cư trú, cho nên mới gọi là Tiên nhân trú xứ’.
Tương truyền, Vua thành Ba-la-nại từng đến vùng đất này săn bắn, vây bắt cả ngàn con nai vào lưới. Bấy giờ, nai chúa quỳ xuống khóc xin vua thả cả đàn nai, quốc vương liền thả hết, để cho đàn nai trở về núi rừng sống yên ổn. Do sự kiện này mà vùng đất ấy có tên là Lộc dă uyển.

Thánh tích

Sau Phật Niết-bàn, Vườn Nai trở thành trung tâm tu học rất lớn.
Trong khu vực chia ra làm tám phần liên hệ với nhau, nhà cửa lầu các tráng lệ quy mô. Tăng sĩ sống hơn 1500 người, tu theo Chánh Luợng Bộ thuộc Tiểu Thừa.
Trong thành lớn có một Tinh Xá cao hơn 200 thước. Phía bên trên tạo h́nh một trái xoài được thếp màu vàng. Đá nhiều tầng chồng chất tạo thành. Đá chất lên bốn bên như thế cả hàng trăm miếng, mỗi miếng đều có chạm tượng Phật màu vàng. Ở trong Tịnh Xá đó, có một tượng Phật bằng đá gần bằng thân của đức Như Lai, tạc theo tư thế chuyển Pháp Luân.
Phía Tây Nam Tịnh Xá có một Bảo Tháp bằng thạch do Vua A Dục dựng nên, đă hư hoại, chiều cao hơn 100 thước. Phía trước đó có dựng một trụ đá cao hơn 70 thước.


necklace of precious stones            Anh lạc    瓔珞    Muktāhāra
  Đồ trang sức được kết bằng hoa hoặc châu ngọc, có thể đội trên đầu, đeo ở cổ, ở ngực hoặc tay, chân...

nectar        ambroisie, élixir    Cam lộ    甘露    amṛta
  Pháp vị của Phật pháp là vị mầu nhiệm nuôi dưỡng thân tâm chúng sinh.

Next life        Prochaine existence (Vie suivante)    Hậu kiếp    後劫    Abhisamparăya
  Đời sau, kiếp sau, đời sống kế tiếp.

Nirvāṇa        Nirvāṇa    Niết bàn    涅槃    Nirvāṇa
nirvāṇa, 'blown out, gone out, put out, extinguished'; 'liberated-from existence'; 'dead, deceased, defunct.' 'Liberation, eternal bliss'; '(with Buddhists and Jainas) absolute extinction or annihilation, complete extinction of individual existence.' M.W. Other forms are 涅槃那; 泥日; 泥洹; 泥畔 Originally translated 滅 to extinguish, extinction, put out (as a lamp or fire), it was also described as 解脫 release, 寂滅 tranquil extinction; 無爲 inaction, without effort, passiveness; 不生 no (re)birth; 安樂 calm joy; 滅度transmigration to 'extinction'. The meaning given to 'extinction' varies, e.g. individual extinction; cessation of rebirth; annihilation of passion; extinction of all misery and entry into bliss. While the meaning of individual extinction is not without advocates, the general acceptation is the extinction or end of all return to reincarnation with its concomitant suffering, and the entry into bliss. Nirvāṇa may be enjoyed in the present life as an attainable state, with entry into parinirvāṇa, or perfect bliss to follow. It may be (a) with a 'remainder', i.e. the cause but not all the effect (karma), of reincarnation having been destroyed; (b) without 'remainder', both cause and effect having been extinguished. The answer of the Buddha as to the continued personal existence of the Tathāgata in nirvāṇa is, in the Hīnayāna canon, relegated 'to the sphere of the indeterminates' (Keith), as one of the questions which are not essential to salvation. One argument is that flame when blown out does not perish but returns to the totality of Fire. The Nirvāṇa Sutra claims for nirvāṇa the ancient ideas of 常樂我淨 permanence, bliss, personality purity in the transcendental realm. Mahāyāna declares that Hīnayāna by denying personality in the transcendental realm denies the existence of the Buddha. In Mahāyāna final nirvāṇa is transcendental, and is also used as a term for the absolute. The place where the Buddha entered his earthly nirvāṇa is given as Kuśinagara.

  Niết-bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt. Phật giáo dùng từ này để biểu thị trạng thái lửa phiền năo thiêu đốt đă bị dập tắt hoàn toàn, là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ, cảnh giới hoàn toàn không có khổ đau. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử (mê giới), cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo, cho nên được xếp vào một trong những pháp ấn, gọi là Niết-bàn tịch tĩnh.

Tuỳ theo trạng thái Niết-bàn đạt được mà người ta chia ra nhiều loại Niết-bàn khác nhau. Niết-bàn không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, tư duy phân biệt, nhưng nó là một trạng thái có thật, và ai cũng có thể đạt được, nhờ vào sự diệt trừ một cách hoàn toàn những phiền năo. Nếu đă trừ diệt hoàn toàn những nguyên nhân của khổ, tức diệt hết phiền năo ngay trong đời này, ngay nơi thân thể và cuộc sống này, th́ gọi là Hữu dư y Niết-bàn. Nếu đă diệt trừ hoàn toàn nguyên nhân của khổ và không c̣n dư báo của khổ, tức phiền năo đă diệt hết và báo thân này cũng hết, gọi là Vô dư y Niết-bàn.
Niết-bàn là thực tại, là thấy được Thực tướng của các pháp. Thực tướng của các pháp là tính không, là pháp do nhân duyên sinh ra, bởi thế Niết bàn và sinh tử thế gian không có sai khác.

Nirvāṇa with remainder            Hữu dư niết bàn    有餘涅槃    Sopadhi-śeṣa-nirvāṇa
Incomplete nirvāṇa. Hīnayāna holds that the arhat after his last term of mortal existence enters into nirvāṇa, while alive here he is in the state of sopādhiśeṣa-nirvāṇa, limited, or modified, nirvāṇa, as contrasted with 無餘涅槃 nirupadhiśeṣa-nirvāṇa. Mahāyāna holds that when the cause 因 of reincarnation is ended the state is that of 有餘涅槃 incomplete nirvāṇa; when the effect 果 is ended, and 得佛之常身 the eternal Buddha-body has been obtained, then there is 無餘涅槃 complete nirvāṇa. Mahāyāna writers say that in the Hīnayāna 無餘涅槃 'remainderless' nirvāṇa for the arhat there are still remains of illusion, karma, and suffering, and it is therefore 有餘涅槃; in Mahāyāna 無餘涅槃 these remains of illusion, etc., are ended.


  Niết-bàn c̣n sót lại chút ít quả báo. Những nguyên do của đau khổ đă gây ra trong quá khứ, khi được ḿnh đoạn tận và chuyển hoá, cố nhiên sẽ không c̣n đưa tới kết quả đau khổ nữa, nhưng mà cái ǵ tồn tại một thời gian thật lâu đến khi bị cắt đứt vẫn có thể c̣n tiếp tục một thời gian mới ngưng hẳn được. Cái mà ta bảo là đă ngưng hẳn đây không phải là thân ngũ uẩn của ḿnh mà chính là cái nghiệp báo c̣n lại. Ví dụ như khi ḿnh bật quạt máy lên th́ cánh quạt quay vù vù. Và khi ḿnh tắt quạt, tuy điện cắt rồi mà cánh quạt vẫn c̣n quay. Nghĩa là nhân đă đoạn rồi nhưng quả vẫn c̣n. Quả đây là những cái quả khổ c̣n rơi rớt lại chớ không phải là thân ngũ uẩn. Thân ngũ uẩn là khác mà cái quả khổ là khác. Ví dụ là tuy Phật đă giác ngộ rồi mà một hôm vẫn c̣n bị Đề-bà Đạt-đa lăn đá và bị thương nơi chân. Bị thương chân không phải là do ngũ uẩn. Phật không c̣n nghiệp nhân, tại sao c̣n nghiệp báo? Ḿnh chỉ có thể cắt nghĩa rằng tuy đă hết nghiệp nhân rồi nhưng cái đà nghiệp báo vẫn c̣n. Và như thế không phải có nghĩa là sau khi Phật nhập diệt rồi, Ngài mới đạt Niết-bàn Vô dư. Kinh đại thừa hay nói là bồ-tát cỡi trên sóng sanh tử mà đi. Cỡi trên sóng sanh tử là tuy có sanh có tử nhưng mà ḿnh không ch́m đắm trong sanh tử. Trong khi đi dạo chơi trong biển sanh tử các vị thánh nhân ấy đang an trú trong Vô dư Niết-bàn chứ không phải là đang ở trong Hữu dư. Tuy là có thân thể, tuy đang cỡi trên pháp thuyền mà đi nhưng họ không thấy khổ đau. V́ vậy Hữu dư ở đây không phải là thân ngũ uẩn mà là những cái khổ đau c̣n rơi rớt lại do cái đà nghiệp báo.

Nirvāṇa without remainder        Nirvāṇa sans reliquat    Vô dư niết bàn    無餘涅槃    Nirupadhiśeṣa-nirvāṇa
anupadhiśeṣa, the nirvāṇa state in which exists no remainder of the karma of suffering; it is also the nirvāṇa of arhat extinction of body and mind, described as 無餘灰斷.

  C̣n gọi là Vô dư y niết-bàn.
Chỉ cho sự đoạn trừ hoàn toàn phiền năo chướng, diệt hết hoàn toàn quả khổ dị thục h́nh thành thân năm uẩn, hiển hiện niết-bàn hoàn toàn không có chỗ sở y.
Đại trí độ luận, quyển 31, nói: ‘Cảnh giới Vô dư niết-bàn là sự xả bỏ hoàn toàn năm uẩn, năm uẩn không c̣n hoà hợp, vĩnh viễn không c̣n thọ sanh trở lại’.
Đại t́-bà-sa luận, quyển 32, nói: ‘Sự tương tục của sắc thân, tâm, tâm sở pháp hoặc của thân, căn, giác đă đoạn trừ hoàn toàn, mọi phiền năo đă đoạn trừ vĩnh viễn, gọi là Vô dư y niết-bàn giới’.
Vô dư y là chỉ cho sự không c̣n y vào hai thứ: 1, Không c̣n y vào phiền năo (đă sạch hết phiền năo); 2, Không c̣n y sinh thân (không c̣n thân tái sinh).
Trung luận, quyển 3, nói: ‘Diệt hết nghiệp và phiền năo, đạt được tâm giải thoát, không c̣n tàn dư thân thể, tức là đạt Vô dư niết-bàn’.
Du-già sư địa luận, quyển 86, cho biết duyên do v́ sao mà gọi là Vô dư y niết-bàn. Luận nói: ‘Lại nữa, do diệt trừ hoàn toàn ba tướng trạng của các hành nên gọi là Vô dư y niết-bàn. Một là, v́ đă diệt trừ hoàn toàn các hành sinh khởi từ trước; hai là, đă diệt trừ hoàn toàn tự tính hoại diệt của các hành; ba là, đă diệt trừ vĩnh viễn tất cả phiền năo’.
Thành duy thức luận, quyển 13, nói ‘Niết-bàn vô dư y, tức chân như đă xuất ly khổ sinh tử, phiền nào đă hoàn bị diệt tận không c̣n, dư y cũng diệt, mọi thứ khổ bị dập tắt, nên được gọi là Niết-bàn’.



Noble Eightfold Path        Noble Sentier Octuple    Bát chánh đạo    八正道    Aṣṭāṅgika-mārga
  Con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ (sa. duḥkha), là chân lư cuối cùng của Tứ diệu đế.

Bát Chánh Đạo bao gồm:
1. Chánh kiến : Ǵn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lư vô ngă.
2. Chánh tư duy : Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ư nghĩa của bốn chân lư một cách không sai lầm.
3. Chánh ngữ : Không nói dối hay không nói phù phiếm.
4. Chánh nghiệp Tránh phạm giới luật.
5. Chánh mệnh : Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật) như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện.
6. Chánh tinh tiến : Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7. Chánh niệm : Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ư;
8. Chánh định : Tập trung tâm ư đạt bốn định xuất thế gian.


Noetic hindrances            Sở tri chướng    所知障    Jñeyāvaraṇa
The barrier of the known, arising from regarding the seeming as real.


  Cũng gọi là Tri chướng, Trí ngại.
Chấp chặt vào pháp đă chứng được, khiến cho trí chân như căn bản bị ngăn che, là 1 trong 2 chướng.
Do vô minh căn bản mà chúng sinh mờ mịt đối với cảnh giới sở tri, che lấp pháp tính mà trở thành chướng ngại cho chủng trí trung đạo, cho nên gọi là Trí ngại.

Non-active        inconditionné    Vô vi    無為    asaṃskṛta
Non-active, passive; laisser-faire; spontaneous, natural; uncaused, not subject to cause, condition, or dependence; transcendental, not in time, unchanging, eternal, inactive, and free from the passions or senses; non-phenomenal, noumenal; also intp. as nirvāṇa, dharma-nature, reality, and dharmadhātu.


  Không tạo tác, tức chẳng phải do nhân duyên tạo ra, là pháp tuyệt đối thường trụ, ĺa sinh diệt biến hoá. Vốn là tên khác của Niết bàn, nhưng đời sau, ngoài Niết bàn c̣n lập nhiều Vô vi, do đó có các thuyết như 3 vô vi, 6 vô vi, 9 vô vi.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14