Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Searh text

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Search by letter
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Search by category:
BouddhasSutraName-LocationTerms

Bilingual
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14 

three destinies        trois voies     Tam đồ    三塗    
The 塗 mire is interpreted by 途 a road, i.e. the three unhappy gati or ways; (a) 火塗 to the fires of hell; (b) 血塗 to the hell of blood, where as animals they devour each other; (c) 刀塗 the asipattra hell of swords, where the leaves and grasses are sharp-edged swords.

  Ba đường. Đồng nghĩa với Tam ác đạo (ba đường ác).
1. Hoả đồ: Tức đường địa ngục. Chúng sinh ở đây chịu khổ nung nấu như bị bỏ vào vạc dầu sôi, ḷ than hồng; hoặc ở đây có rất nhiều đống lửa lớn thiêu đốt tội nhân, v́ thế gọi là Hoả đồ.
2. Đao đồ: Tức đường ngă quỉ. Chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ đánh chém bằng dao gậy và bức bách xua đuổi, cho nên gọi là Đao đồ.
3. Huyết đồ: Tức đường súc sinh. V́ chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn nuốt lẫn nhau, uống máu của nhau nên gọi là Huyết đồ.

three gates of liberation        trois méditations pour la délivrance    Tam giải thoát môn    三解脫門    trīṇi vimokṣa-mukhāni
  Gọi tắt là Tam môn. 3 cánh cửa giải thoát, 3 pháp môn tu học giúp đạt được giải thoát, chứng đạt niết bàn.
1. Không môn, śūnyatā: Quán xét tất cả các pháp đều không có tự tính, do nhân duyên hoà hợp mà sinh, không có ta, không có của ta, tất cả các pháp đều không thật, vô thường... Thấy được sự thật này th́ sẽ được tự tại, giải thoát.
2. Vô tướng môn, animitta: C̣n gọi Vô tưởng môn. Đă biết tất cả các pháp đều là Không, nên không chấp trước, không vướng mắc vào h́nh tướng, đạt được trí vô phân biệt, tự tại vô ngại.
3. Vô nguyện môn, apraṇihita: C̣n gọi Vô tác môn, Vô dục môn. Nếu biết tất cả các pháp là vô tướng th́ trong 3 cơi không mong cầu điều ǵ nữa, không tham muốn điều ǵ nữa, nếu không mong cầu th́ không tạo tác nghiệp sinh tử, nếu không tạo nghiệp sinh tử th́ không phải chịu khổ đau, do đó được tự tại.

Three hindrances        Trois obstacles    Tam chướng    三障    Trīṇy āvaranāni
The three vighna, i.e. hinderers or barriers, of which three groups are given: (1) (a) 煩惱障 the passions, i.e. 三毒 desire, hate, stupidity; (b) 業障 the deeds done; (c) 報障 the retributions.

  Ba thứ gây trở ngại sự tu tập.
Ba thứ chướng ngại lớn nhất:
1. Phiền năo chướng, kleśāvaraṇa: Con người vốn có đầy đủ 3 phiền năo tham, sân, si, rất khó trừ bỏ, khó dạy bảo, khó mở tỏ, khó chán ĺa, khó được giải thoát.
2. Nghiệp chướng, karmāvaraṇa: Chỉ cho 5 nghiệp vô gián (phạm 5 tội cực nặng: giết cha, giết mẹ, giết a la hán, làm thân phật chảy máu, phá hoà hợp tăng), là những nghiệp ác do thân, miệng, ư gây ra, khiến đoạ lạc trong địa ngục không có cơ hội tu tập.
3. Dị thục chướng, vipākāvaraṇa: C̣n gọi là Báo chướng, Quả báo chướng. Những quả báo 3 đường ác do nhân phiền năo và nghiệp đưa đến.

three kinds of blessings            Tam phước    三福    
  Tam phước hay tịnh nghiệp tam phước là ba yếu tố tu tập căn bản của hành giả pháp môn Tịnh độ. Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, th́ đây cũng chính là ba yếu tố tu tập quan trọng mà ba đời chư Phật, quá khứ, hiện tại và vị lai đều thực hành. Ba yếu tố đó là: Thế phước, Giới phước và Hạnh phước.

Xem bài Tam phước



Three kinds of suffering        Trois souffrances    Tam khổ    三苦    Tisro-duḥkhatāḥ
The three kinds of duḥkha, pain, or suffering: 苦苦 that produced by direct causes; 壞苦 by loss or deprivation; 行苦 by the passing or impermanency of all things.

  Ba thứ khổ
1. Khổ khổ: Những khổ đau do đói, khát, lạnh, nóng...
2. Hoại khổ: Những hạnh phúc, niềm vui khi đă qua đi, tan vở... th́ sinh ra đau khổ.
3. Hành khổ: Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, biến đổi nên khổ.

Three kinds of wisdom        trois sortes de sagesse    Tam trí    三智    
Three kinds of wisdom: (1) (a) 一切智 śrāvaka and pratyeka-buddha knowledge that all the dharma or laws are 空 void and unreal; (b) 道種智 bodhisattva-knowledge. of all things in their proper discrimination; (c) 一切種智 Buddha-knowledge, or perfect knowledge of all things in their every aspect and relationship past, present, and future. Tiantai associates the above with 室, 候, 中. (2) (a) 世間智 earthly or ordinary wisdom; (b) 出世間智 supra-mundane, or spiritual (śrāvaka and pratyeka-buddha) wisdom; (c) 出世間上上智 supreme wisdom of bodhisattvas and Buddhas.

  3 thứ trí tuệ.
1. Nhất thiết trí: Trí biết rơ cái tướng chung của tất cả các pháp. Cái tướng chung ấy chính là Không tướng. Trí này là trí của hàng Thanh văn, Duyên giác.
2. Đạo chủng trí: Trí biết rơ tướng riêng của tất cả các pháp. Cái tướng riêng ấy tức là các thứ đạo pháp sai biệt. Trí này là trí tuệ của hàng Bồ tát.
3. Nhất thiết chủng trí: Tức trí biết rơ suốt tướng chung và tướng riêng, đó là Phật trí. Trí hiểu biết một cách trọn vẹn, hoàn hảo.

Three poisons        Trois poisons    Tam độc    三毒    
they are 貪 concupiscence, or wrong desire, 瞋 anger, hate, or resentment, and 痴 stupidity, ignorance, unintelligence, or unwillingness to accept Buddha-truth; these three are the source of all the passions and delusions. They represent in part the ideas of love, hate, and moral inertia. v. 智度論 19, 31.

  Chỉ cho 3 thứ phiền năo: Tham dục, sân hận, ngu si. Tất cả phiền năo gọi chung là ĐỘC, nhưng 3 thứ phiền năo này có khắp 3 cơi, là thứ độc hại nhất trong thiện tâm xuất thế của chúng sinh, thường khiến loài hữu t́nh chịu khổ trong nhiều kiếp không thoát ra được, cho nên đặc biệt gọi là Tam độc. Ba thứ độc này là nguồn gốc của 3 hành vi xấu ác: thân bất thiện, khẩu khẩu bất thiện, ư bất thiện, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn, đứng đầu các phiền năo căn bản.

three practices        trois disciplines     Tam học    三學    tisraḥ śikṣāḥ
  I. Ba môn học đưa đến giải thoát:
1. Tăng thượng giới học, adhiśīla-śikṣā, c̣n gọi là Tăng giới học, Giới học: Đ́nh chỉ mọi việc làm ác, thực hành mọi việc thiện, giữ ǵn ba nghiệp thân, khẩu, ư thanh tịnh.
2. Tăng thượng tâm học, adhicitta-śikṣā, c̣n gọi Tăng thượng ư học, Tăng tâm học, Định học: Khắc phục tinh thần tán loạn, diệt trừ hôn trầm, giữ tâm yên tĩnh, lắng đọng, an trú một chỗ, một niệm chuyên nhất.
3. Tăng thượng tuệ học, adhiprajñā-śikṣā, c̣n gọi Tăng tuệ học, Tuệ học: Trí tuệ hiểu rơ tướng chân thật của các pháp.
Ba môn học này có tính chất nhân quả với nhau. Nhờ giữ giới mà tâm được định, nhờ tâm an định mà trí tuệ phát sinh, nhờ có trí tuệ mà đạt được giải thoát. Cho nên, trong giới có định, trong định có tuệ, giới định tuệ là một. Đây là ba môn học nền tảng của Phật giáo.
II. Chỉ cho Hữu học, Vô học, Phi học phi vô học:
1. Hữu học, śaikṣa: Chỉ cho những người tu tập đă chứng được Tứ hướng tam quả (tức là bốn quả vị hướng đến bốn quả Thánh là Tu đà hoàn hướng, Tư đà hàm hướng, A na hàm hướng, A la hán hướng; và ba quả Thánh Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm). V́ các bậc này c̣n phải tu học để đạt đến quả vị giải thoát hoàn toàn, nên gọi là bậc Hữu học.
2. Vô học, aśaikṣa: Chỉ cho bậc đă chứng quả A la hán. A la hán đă đoạn sạch phiền năo, chứng quả Vô sinh, những việc cần làm đă làm xong, không c̣n ǵ để học, nên gọi là bậc Vô học.
3. Phi học phi vô học, naivaśaikṣa-nāśaikṣa: Chỉ cho hàng phàm phu không chứng được quả vị ǵ cả.

three times        trois phases de l'existence     Tam thế     三世    trayo dhvānaḥ
See Ten powers

  Ba khoảng thời gian: Quá khứ, hiện tại và tương lai. C̣n gọi là tiền thế, hiện thế, lai thế, hoặc tiền tế, trung tế, hậu tế.
Chữ 'Thế' có nghĩa là cách biệt, là thay đổi, là biến hoá. Thời gian chuyển biến, thay đổi nên tạo ra khoảng cách quá khứ, hiện tại, tương lai, gọi là 'Thế'. Tuy nhiên, các tông phái Phật giáo thường nói: 'Thời gian không có tự thể riêng biệt, chỉ căn cứ vào các pháp mà đặt ra (thời vô biệt thể, y pháp nhi lập 時無別體,依法而立). Điều này cho thấy Phật giáo không thừa nhận thời gian có tự thể riêng biệt, mà nói rằng thời gian là căn cứ vào trạng trái của các pháp mà phân ra. Nghĩa là, khi các pháp sinh mà có tác dụng th́ gọi là hiện tại, các pháp đă tiêu diệt hết hoặc tác dụng của nó bị dừng lại th́ gọi là quá khứ, các pháp chưa sinh cũng chưa có tác dụng th́ gọi là vị lai.

three treasures        trois trésors    Tam bảo    三寶    triratna
Three Precious Ones: 佛 Buddha, 法 Dharma, 儈 Saṅgha, i.e. Buddha, the Law, the Ecelesia or Order. Eitel suggests this trinity may be adapted from the Trimūrti, i.e, Brahma, Viṣṇu, and Sīva. The Triratna takes many forms, e.g. the Trikāya 三身 q.v. There is also the Nepalese idea of a triple existence of each Buddha as a Nirvāṇa-Buddha, Dhyāni-Buddha, and Mānuṣi-Buddha; also the Tantric trinity of Vairocana as Nirvāṇa-Buddha, Locana according to Eitel "existing in reflex in the world of forms", and the human Buddha, Śākyamuni. There are other elaborated details known as the four and the six kinds of triratna 四 and 六種三寳, e.g. that the Triratna exists in each member of the trinity. The term has also been applied to the 三仙 q.v. Popularly the 三寳 are referred to the three images in the main hall of monasteries. The centre one is Śākyamuni, on his left Bhaiṣajya 藥師 and on his right Amitābha. There are other explanations, e.g. in some temples Amitābha is in the centre, Avalokiteśvara on his left, and Mahāsthāmaprāpta or Mañjuśrī on his right. Table of Triratna, Trikāya, and Trailokya: — DHARMASAṄGHABUDDHA Essential BodhiReflected BodhiPractical Bodhi Dhyāni BuddhaDhyāni BodhisattvaMānuṣī Buddha DharmakāyaSambhogakāyaNirmāṇakāya PurityCompletenessTransformations 4th Buddha-kṣetra3rd Buddha-kṣetra1st and 2nd Buddha kṣetra ArūpadhātuRūpadhātuKāmadhātu.


  Ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, được tín đồ Phật giáo tôn kính, cúng dường.
Phật (Buddha) là bậc đă giác ngộ, có năng lực giáo hoá, dẫn dắt chúng sinh; Pháp (Dharma) là giáo pháp của Phật; Tăng (Saṃgha) là tăng đoàn đệ tử của Phật tu học theo giáo pháp. Ba ngôi trên có uy đức cao tột, có năng lực mang lại giải thoát, yên vui cho hết thảy chúng sinh, mà không một thứ của báu nào giữa thế gian có thể sánh được, nên gọi là Tam bảo.

Three uncontaminated studies        Trois disciplines     Tam vô lậu học    三無漏學    Tisraḥ śikṣāh
The three studies, or endeavours, after the passionless life and escape from transmigration: (a) 戒 Moral discipline; (b) 定 meditation, or trance; (c) 慧 the resulting wisdom.


  Lậu có nghĩa là phiền năo. Tam vô lậu học có nghĩa là ba môn học giúp hành giả vượt thoát khỏi sự trói buộc của phiền năo, hoàn toàn được tự do, tự tại. Lậu c̣n có nghĩa là rơi rớt, v́ vậy, tam vô lậu học c̣n là phương tiện giúp hành giả không c̣n bị rơi rớt trong ba cơi, tâm không c̣n bị ràng buộc bởi mọi lậu hoặc, khổ đau. Đây là ba môn học đoạn trừ phiền năo, chứng nhập quả vị niết-bàn, giải thoát hoàn toàn; là ba môn học căn bản, nền tảng của hệ thống giáo lư Phật giáo mà nguyên thuỷ hay đại thừa đều nói đến, đó chính là Giới - Định - Tuệ.
- Giới vô lậu học. Trong kinh Tạp A-hàm, đức Thế Tôn định nghĩa: “Tỳ-kheo an trú trong pháp Ba-la-đề-mộc-xoa, đầy đủ oai nghi và tế hạnh, cẩn trọng sợ hăi ngay cả với những lỗi nhỏ nhặt, cho nên học và thọ tŕ đầy đủ các giới, như vậy gọi là giới vô lậu học”.
- Định vô lậu học. Kinh Trung A-hàm, đức Phật định nghĩa: “Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác và quán (c̣n gọi là tầm và tứ), ly sanh hỷ lạc, chứng từ sơ thiền đến tứ thiền, gọi là định vô lậu học”.
- Tuệ vô lậu học. Đức Phật dạy: “Hiểu một cách đúng đắn về khổ thánh đế, tập thánh đế, diệt thánh đế và đạo thánh đế, như vậy gọi là tuệ học vô lậu”. Kinh Tương Ưng V cũng định nghĩa tuệ học vô lậu như là sự quán triệt và thấy biết “thế nào là khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ và các phương pháp để diệt tận khổ”.
Kinh Phật Tự Thuyết th́ định nghĩa tuệ học chính là “sự hiểu rơ về giáo lư Nhân duyên hay Duyên khởi”. Theo đó, tuệ vô lậu là sự nhận thức được nguyên lư “do cái này có mặt nên cái kia có mặt. Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt. Do cái này sinh nên cái kia sinh. Do cái này diệt nên cái kia diệt”.

three vehicles        trois véhicules     Tam thừa    三乘     trīṇi yānāni
the three vehicles, or conveyances which carry living beings across saṁsāra or mortality (births-and-deaths) to the shores of nirvāṇa. The three are styled 小,中, and 大. Sometimes the three vehicles are defined as 聲聞 Śrāvaka, that of the hearer or obedient disciple; 緣覺Pratyeka-buddha, that of the enlightened for self; these are described as 小乘 because the objective of both is personal salvation; the third is 菩薩Bodhisattva, or 大乘 Mahāyāna, because the objective is the salvation of all the living. The three are also depicted as 三車 three wains, drawn by a goat, a deer, an ox. The Lotus declares that the three are really the One Buddha-vehicle, which has been revealed in three expedient forms suited to his disciples' capacity, the Lotus Sūtra being the unifying, complete, and final exposition. The Three Vehicles are differently explained by different exponents, e.g. (1) Mahāyāna recognizes (a) Śrāvaka, called Hīnayāna, leading in longer or shorter periods to arhatship; (b) Pratyeka-buddha, called Madhyamayāna, leading after still longer or shorter periods to a Buddhahood ascetically attained and for self; (c) Bodhisattva, called Mahayana, leading after countless ages of self-sacrifce in saving others and progressive enlightenment to ultimate Buddhahood. (2) Hīnayāna is also described as possessing three vehicles 聲, 緣, 菩 or 小, 中, 大, the 小 and 中 conveying to personal salvation their devotees in ascetic dust and ashes and mental annihilation, the 大 leading to bodhi, or perfect enlightenment, and the Buddha's way. Further definitions of the Triyāna are: (3) True bodhisattva teaching for the 大; pratyeka-buddha without ignorant asceticism for the 中; and śrāvaka with ignorant asceticism for the 小. (4) (a) 一乘 The One-Vehicle which carries all to Buddhahood: of this the 華嚴 Hua-yen and 法華 Fa-hua are typical exponents; (b) 三乘法 the three-vehicle, containing practitioners of all three systems, as expounded in books of the 深密般若; (c) 小乘 the Hīnayāna pure and simple as seen in the 四阿合經 Four Āgamas. Śrāvakas are also described as hearers of the Four Truths and limited to that degree of development; they hear from the pratyeka-buddhas, who are enlightened in the Twelve Nidānas 因緣; the bodhisattvas make the 六度 or six forms of transmigration their field of sacrificial saving work, and of enlightenment. The Lotus Sūtra really treats the 三乘. Three Vehicles as 方便 or expedient ways, and offers a 佛乘 Buddha Vehicle as the inclusive and final vehicle.


  Chỉ cho ba loại xe, ví dụ pháp môn vận chuyển chúng sinh vượt qua sinh tử đến bờ Niết bàn.
Để thích ứng với 3 loại căn cơ của chúng sinh là hạng chậm lụt (độn căn), hạng trung b́nh (trung căn) và hạng thông minh lanh lợi (lợi căn), đức Phật nói 3 thứ giáo pháp là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa.
1. Thanh văn thừa (śrāvaka-yāna): Nhờ nghe tiếng noi pháp của đức Phật mà được ngộ đạo nên gọi là Thanh văn. Hàng này tu pháp Tứ diệu đế.
2. Duyên giác thừa (pratyeka-buddha-yāna): Cũng gọi là Bích chi Phật thừa, Độc giác thừa. Nhờ quán xét 12 nhân duyên mà giác ngộ chân lư. Hạng này tu pháp 12 nhân duyên.
3. Bồ tát thừa (bodhisattva-yāna): Cũng gọi là Ddaị thừa, Như lai thừa. Cầu bồ đề vô thượng, nguyện độ tất cả chúng sinh, tu 6 pháp ba la mật và muôn hạnh.

Thus have I heard        Ainsi ai-je entendu    Như thị ngă văn    如是我聞    Evaṁ mayā srutam
  C̣n gọi Ngă văn như thị, Văn như thị.
Là câu mở đầu một bản kinh.
Lúc đức Thế tôn sắp nhập diệt, Ngài đă dặn tôn giả A nan, vị đệ tử đa văn bậc nhất, rằng kinh tạng do Ngài tuyên thuyết trong một đời đều phải đặt ở đầu quyển câu "Như thị ngă văn" để phân biệt với kinh điển của ngoại đạo.
Như thị là chỉ cho lời nói, việc làm và cử chỉ của đức Phật được tŕnh bày trong kinh. C̣n Ngă văn th́ chỉ cho người biên tập kinh tạng là tôn giả A nan, tự nói chính ḿnh đă được nghe những lời đức Phật nói và thấy những việc đức Phật làm. Như thị cũng có nghĩa là tin thuận theo giáo pháp mà chính ḿnh đă được nghe; Ngă văn là người có niềm tin vững chắc vào giáo pháp được nghe ấy. Đây chính là Tín thành tựu và Văn thành tựu, cũng gọi là Chứng tín tự.

true thusness        ainsité    Chân như    真如    bhūta-tathatā、tathatā
The眞 is intp. as 眞實 the real, 如 as 如常 thus always or eternally so; i.e. reality as contrasted with 虛妄 unreality, or appearance, and 不變不改 unchanging or immutable as contrasted with form and phenomena. It resembles the ocean in contrast with the waves. It is the eternal, impersonal, unchangeable reality behind all phenomena. bhūta is substance, that which exists; tathatā is suchness, thusness, i.e. such is its nature. The word is fundamental to Mahāyāna philosophy, implying the absolute, the ultimate source and character of all phenomena, it is the All. It is also called 自性淸淨心 self-existent pure Mind; 佛性 Buddha-nature; 法身 dharmakāya; 如來藏 tathāgata-garbha, or Buddha-treasury; 實相 reality; 法界 Dharma-realm; 法性Dharma-nature; 圓成實性 The complete and perfect real nature, or reality. There are categories of 1, 2, 3, 7, 10, and 12 in number: (1) The undifferentiated whole. (2) There are several antithetical classes, e.g. the unconditioned and the conditioned; the 空 void, static, abstract, noumenal, and the 不 空 not-void, dynamic, phenomenal; pure, and affected (or infected); undefiled (or innocent), i.e. that of Buddhas, defiled, that of all beings; in bonds and free; inexpressible, and expressible in words. (3) 無相 Formless; 無生 uncreated; 無性 without nature, i.e. without characteristics or qualities, absolute in itself. Also, as relative, i.e. good, bad, and indeterminate. (7, 10, 12) The 7 are given in the 唯識論 8; the 10 are in two classes, one of the 別教 cf. 唯識論 8; the other of the 圓教, cf. 菩提心義 4; the 12 are given in the Nirvana Sutra.


  Bản thể chân thật tràn khắp vũ trụ, là nguồn gốc của hết thảy muôn vật. C̣n gọi là Như như, Như thực, Pháp giới, Pháp tính, Thực tướng, Như lai tạng, Phật tính...
Chân: chân thật không hư dối. Như: tính của sự chân thật ấy không thay đổi. Tức là cái bản thế của muôn vật.

twelve divisions of the Buddhist canon        douze procédés     Thập nhị bộ kinh    十二部經    dvādaśāṅga-buddha-vacana
  12 thể loại kinh điển.
1. Kinh, Phạn sūtra, c̣n gọi là khế kinh, đây là thể loại kinh được nói (hay viết) theo thể văn xuôi mà ta vẫn thường gọi là văn trường hàng.
2. Trùng tụng, Phạn geya, c̣n gọi là ứng tụng, ca vịnh, tương ưng với khế kinh. Sau khi thuyết pháp xong, Đức Phật thường tóm tắt nội dung bài pháp thoại bằng một hoặc nhiều bài thơ, c̣n gọi là trùng phức hay chỉnh cú.
3. Kư thuyết, Phạn vyākaraṇa, c̣n gọi là kư biệt hay thọ kư, vốn chỉ cho sự giải thoát của giáo nghĩa, sau chỉ những lời Đức Phật ấn chứng cho các đệ tử trong tương lai.
4. Kệ tụng, Phạn gāthā, c̣n gọi là cô khởi, toàn bộ đều dùng kệ tụng để ghi lại những lời dạy của Đức Phật. Thể loại này khác với thể ứng tụng ở chỗ ứng tụng chỉ tóm lược nghĩa chính của văn trường hàng, c̣n kệ tụng th́ ghi lại toàn bộ nội dung pháp thoại.
5. Cảm hứng ngữ, Phạn udāna, c̣n gọi là tự thuyết. Đức Phật không đợi có người thưa hỏi pháp mới nói, mà tự ngài khai thị thuyết pháp cho đệ tử.
6. Như thị ngữ (Bổn sự), Phạn itivṛttaka, ghi lại hành trạng kiếp trước của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, hoặc những kinh được mở đầu bằng câu “Phật như thị thuyết”.
7. Bổn sinh, Phạn jātaka, ghi lại những hạnh đại bi trong những tiền kiếp Đức Phật đă tu hành.
8. Phương quảng, Phạn vaipulya, tuyên thuyết giáo nghĩa sâu rộng, uyên áo.
9. Vị tằng hữu, Phạn adbhuta-dharma, ghi lại những sự việc hy hữu của Đức Phật cùng với các đệ tử của Ngài.
10. Nhân duyên, Phạn nidāna, ghi lại nhân duyên Đức Phật thuyết pháp, giáo hoá, như phẩm tự của các kinh.
11. Thí dụ, Phạn avadāna, lấy h́nh ảnh thí dụ để làm sáng tỏ ư nghĩa của pháp.
12. Luận nghị, Phạn upadeśa, Đức Phật hoặc các đại đệ tử luận nghị, quyết trạch thể tánh của các pháp, phân biệt rơ ràng nghĩa lư của nó.

twelve sense fields        douze entrées    Thập nhị xứ    十二處    dvādaśa āyatanani
  Cũng gọi Thập nhị nhập, Thập nhị nhập xứ.
12 pháp nuôi lớn tâm và tâm sở. Xứ, Phạm āyatana, có nghĩa là nuôi nấng, sinh trưởng. Thập nhị xứ gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu xứ trước gọi là 6 căn, tức cơ quan cảm giác thuộc về chủ quan, là chỗ nương tựa của tâm, tâm sở, được gọi là Lục nội xứ (6 chỗ bên trong); sáu xứ sau là 6 cảnh, tức các đối tượng của nhận thức thuộc về khách quan, là chỗ mà tâm, tâm sở duyên theo, được gọi là Lục ngoại xứ (6 chỗ bên ngoài).

Two hindrances            Nhị chướng    二障    
The two hindrances:(1) (a) 煩惱障 The passions and delusion which aid rebirth and hinder entrance into nirvana; (b) 智障 or所知障, worldly wisdom e.g. accounting the seeming as real, a hindrance to true wisdom. (2) (a) 煩惱障 as above; (b) 解脱障 hindrances to deliverance. (3) (a)理障 hindrances to truth; (b) 事障 hindrances of the passions, etc.

  2 thứ chướng ngại.
1. Phiền năo chướng và sở tri chướng.
- Phiền năo chướng: Do chấp ngă mà sinh ra, v́ tất cả các phiền năo (các hoặc) tham, sân, si... phát nghiệp liên tục, phiền nhiễu thân tâm loài hữu t́nh, khiến phải sinh tử măi trong 3 cơi, 5 đường, gây chướng ngại cho quả Niết bàn, nên gọi là Phiền năo chướng.
- Sở tri chướng, cũng gọi là Trí chướng: Do chấp pháp mà sinh ra, v́ các hoặc tham, sân, si... khiến loài hữu t́nh trở nên ngu si, mê muội, ngăn trở diệu trí bồ đề, làm cho chúng sinh không thấy rơ được sự tướng, và thực tính của các pháp, v́ thế gọi là Sở tri chướng.

2. Phiền năo chướng và Giải thoát chướng.
- Phiền năo chướng: Như đă nói ở trên.
- Giải thoát chướng, cũng gọi Bất nhiễm vô tri định chướng, Định chướng, Câu giải thoát chướng. Giải thoát là tên khác của định Diệt tận. V́ pháp này gây trở ngại cho bậc Thánh vào định Diệt tận, cho nên gọi là Giải thoát chướng (chướng ngại sự giải thoát).

3. Nội chướng và Ngoại chướng.
- Nội chướng: Ba độc tham, sân, si.
- Ngoại chướng: Những chướng ngại bên ngoài.

two kinds of attachment to self            Nhị ngă chấp    二我執    
The two reasons for clinging to the idea of the self: (a) 具生我執 the natural, or instinctive cleaving to the idea of a self, or soul; (b) 分別我執 the same idea developed as the result of (erroneous) reasoning.

  Chỉ cho Câu sinh ngă chấp và Phân biệt ngă chấp.
1. Câu sinh ngă chấp: Đối với thân do 5 uẩn giả hoà hợp, vọng chấp là thực ngă, ngă chấp này sinh ra cùng một lúc với thân, nên gọi là Câu sinh ngă chấp.
2. Phân biệt ngă chấp: Do chấp trước thực ngă, nên phân biệt rằng ta có khả năng làm các việc thiện, việc ác... từ đó khởi chấp trước, tức nương vào sức phân biệt của chính ḿnh mà sinh ra chấp trước, gọi là Phân biệt ngă chấp.

two kinds of meditation            Nhị quán    二觀    
  Sự quán và Lư quán.
Lư quán: quán chiếu lư tánh của các pháp, tức nh́n vào bên trong để thấy được thực tướng của các pháp.
Sự quán: quán chiếu bề ngoài, chỉ thấy các pháp trên mặt hiện tượng, chưa thấy được bản chất.

two vehicles        deux véhicules    Nhị thừa    二乘    paramārtha-yāna
  Thừa (yāna), là công cụ vận chuyển như xe cộ, thuyền bè... Giáo pháp của Phật giống như thuyền bè đưa chúng sinh qua biển sinh tử có hai loại khác nhau, nên gọi là Nhị thừa.
1. Tiểu thừa và Đại thừa: Giáo pháp do Phật giảng dạy suốt cuộc đời của Ngài có thể phân thành hai loại là Tiểu thừa và Đại thừa. Những giáo pháp Phật dạy cho hàng Thanh văn, Duyên giác gọi là Tiểu thừa; giáo pháp Phật dạy cho hàng Bồ tát tu hành thành Phật gọi là Đại thừa.
2. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa: Trong giáo pháp Tiểu thừa phân thành hai loại: 1, Nếu trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, y theo lư Tứ đế tu tập mà đạt được giác ngộ, gọi là Thanh văn thừa; 2. Không được trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, tự ḿnh quán chiếu lư 12 nhân duyên mà đạt được giác ngộ, gọi là Duyên giác thừa.
3. Nhất thừa và Tam thừa: Trước khi đức Phật giảng kinh Pháp hoa, đức Phật đă phương tiện dẫn dắt cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát tu tập chứng quả theo ba cách khác nhau, gọi là Tam thừa. Đến thời kỳ thích hợp, Phật giảng kinh Pháp hoa, trong pháp hội này, đức Phật đem cả ba thừa đă giảng trước đây quy về một mối, để đưa tất cả chúng sinh đều thành Phật, gọi là Phật thừa, hay Nhất thừa.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14