Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Searh text

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Search by letter
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Search by category:
BouddhasSutraName-LocationTerms

Bilingual
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14 

Fourth meditation        Quatrième niveau d'expérience méditative    Tứ thiền    四禪    Catvāri dhyāna
  Đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đă cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Tứ thiền xả bỏ diệu lạc đă chứng trước đây, gọi là Xả thanh tịnh, chỉ nhớ nghĩ tu dưỡng công đức, gọi là Niệm thanh tịnh, do đó mà có được cảm nhận chẳng phải khổ chẳng phải vui. Tất cả những hoạt động và cảm thụ vừa nói trên đều diễn ra trong trạng thái thiền định "Tâm nhất cảnh tính".

fragmentary samsāra            Phân đoạn sinh tử    分段生死    
limited birth-and-death

  Chỉ cho sự sống chết của phàm phu phải chịu trong tam giới, c̣n gọi là Phần đoạn sinh tử, Hữu vi sinh tử.
Chúng phàm phu do kiến hoặctư hoặc mà bị sanh tử trong tam giới, lục đạo. Phàm phu luân hồi trong lục đạo là do cái nhân đă tạo nghiệp trong quá khứ, rồi theo cái nghiệp ấy mà có thọ mạng hạn định lâu hay mau, thân thể lớn hay nhỏ, sang hay hèn… cho nên gọi là Phân đoạn. Theo Thắng man bảo quật, quyển trung, ghi: “Nói Phân đoạn sinh tử có nghĩa là h́nh sắc sai khác, thọ mạng dài ngắn bất đồng vậy” (Đại chính 37, 48c). Đại thừa nghĩa chương, quyển 8, th́ cho rằng Phân đoạn sinh tử có hai loại, tức là phân đoạn ác đạo chịu quả báo trong tam đồ và phân đoạn thiện đạo thọ quả báo ở nhân thiên. Cũng sách này chia phân đoạn ác đạo ra làm ba loại, đó là: 1, Sanh tử của phàm phu phải chịu, do ác nghiệp làm nhân, tứ trụ làm duyên. 2, Sanh tử của hàng Bồ tát thập trụ phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, tứ trụ làm chính duyên, bi nguyện làm tuỳ trợ. 3, Sanh tử của hàng Chủng tánh lên đến sơ địa Bồ tát, lấy ác nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, trú trụ làm tùy trợ.
Lại chia phân đoạn thiện đạo ra làm ba loại, đó là: 1, Sanh tử của hàng phàm phu nhị thừa cho đến thập trụ Bồ tát phải chịu, là do lấy thiện nghiệp làm nhân, tứ trụ làm duyên. 2, Sanh tử của Bồ tát chủng tánh giải hạnh phải chịu, lấy thiệp nghiệp làm nhân, tứ trụ làm chính duyên, bi nguyện làm tuỳ trợ. 3, Sanh tử của Địa thượng Bồ tát trở lên phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, tứ trụ làm tuỳ trợ.


Gift of fearlessness        Don de courage    Vô úy thí    無畏施    Abhayadăna
  Cho sự không sợ hăi. Danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm, bởi Bồ tát luôn luôn xuất hiện vào những lúc chúng sinh gặp sự nguy hiểm, khổ đau để kịp thời cứu giúp, khiến chúng sinh thoát khỏi sự sợ hăi.

Người giữ giới, không có tâm giết hại, khiến người và vật không không sợ hăi, hoặc khi người và vật gặp tai nạn, ḿnh che chở cho họ khỏi sợ hăi.

Go; act; do            Hành    行    Saṃskāra
Go; act; do; perform; action; conduct; functioning; the deed; whatever is done by mind, mouth, or body, i.e. in thought, word, or deed. It is used for ayana, going, road, course; a march, a division of time equal to six months; also for saṁskāra, form, operation, perfecting, as one of the twelve nidānas, similar to karma, action, work, deed, especially moral action, cf. 業.


  Nguyên nghĩa là tạo tác, sau chuyên thành nghĩa biến hoá đổi dời.
1. Tạo tác: Cùng nghĩa với "nghiệp", tức là chi "hảnh" trong 12 duyên khởi. Đó là 3 nghiệp thân, khẩu, ư đời quá khứ chiêu cảm quả báo hiện tại. Cũng tức là tất cả hành động của thân và tâm.
2. Biến hoá đổi dời: Tức là pháp hữu vi, bởi v́ các pháp hữu vi là do nhân duyên tạo thành, đều là pháp vô thường, biến hoá, đổi dời, cùng nghĩa với chữ "hành" trong "chư hành vô thường" và "hành uẩn" trong 5 uẩn.

Hành, viết theo tiếng Phạm Caryā, Carita, th́ có hai nghĩa:
1. Động tác, hành vi.
2. Chỉ cho sự tu hành hoặc phương pháp tu hành đạt đến cảnh giới giác ngộ. Như chữ "hành" trong "Hành giải tương ứng" (sự hiểu biết và thực hạnh đi đôi với nhau)...

Hành, nếu viết theo tiếng Phạm Gamana, th́ có nghĩa là đi, là bộ hành.

good and virtuous friend        ami de bien     Thiện tri thức    善知識    Kalyāṇa-mitra
  Bạn lành, tức chỉ cho người chính trực, có đức hạnh, có năng lực dẫn dắt người khác hướng về chính đạo. Trái lại, người bạn dẫn dắt ta đi vào tà đạo th́ gọi là Ác hữu.

good and virtuous friend        ami néfaste ou ami du mal    Ác tri thức    悪知識    pāpa-mitra
  Bạn xấu, tức là kẻ ác đức nói các pháp ác, pháp tà kiến khiến người ta bị hăm vào đường ma.
Kinh Trường A hàm nêu lên 6 loại bạn xấu: nói những lời dối trá, thích những chỗ vắng vẻ kín đáo, dụ dỗ người khác, bàn mưu tính kế lấy của người khác, mưu đồ lợi riêng, thích vạch lỗi lầm của người khác.

grave offenses            Ba la di    波羅夷    Pārājika
  Là một trong những giới luật mà các tỳ kheo và tỳ kheo ni phải giữ. Là giới căn bản, quan trọng bậc nhất trong giới luật. Người tu hành phạm giới này th́ mất tư cách tỳ kheo, tỳ kheo ni, không có phần trong đạo quả, sẽ bị giáo đoàn trục xuất, không được ở chung với tăng và sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục.

Great Assembly        Grande Assemblée    Đại chúng    大眾     Mahāsaṃgha
  Số đông các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, chư thiên... tập họp ở một nơi để tu tập, nghe pháp, tụng kinh, bố tát...

great brahman heaven            Phạm thiên vương    梵天王    Mahābrahamā
  Đại Phạm thiên, chúa tể của tầng trời Sơ thiền thuộc Sắc giới.
Trong triết học Ấn độ, Phạm thiên vương có tên là Thi-khí (Śikhin), c̣n gọi là Ta-bà thế giới chủ (Chúa tể của thế giới Ta-bà), hay Thế chủ thiên (Thiên chúa của cơi đời).
Trong Phật giáo, Đại phạm thiên là người rất kính tin Chánh pháp. Mỗi khi gặp Đức Phật ra đời, Đại phạm thiên chính là người đầu tiên thỉnh Phật chuyển pháp luân. Ông thường đứng hầu bên tay phải của Phật, tay cầm phất trần màu trắng.

great brahman heaven        Maha-brahma    Đại phạm thiên    大梵天    Mahā-brahma
  Tên gọi khác: Đại phạm thiên vương, Đại phạm thiên, Phạm thiên, Phạm vương... Có khi c̣n gọi là Ta-bà thế giới chủ (chúa tể của thế giới Ta-bà), Thi-khí, Thế chủ thiên (Thiên chúa của của đời).

Đại phạm thiên vương là vua của chư thiên cơi Sơ thiền Sắc giới. Sơ thiền có ba tầng trời là Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại phạm thiên. Đại phạm thiên làm chủ cả ba tầng trời này.

Trong triết học Bà-la-môn giáo tại Ấn độ, Đại phạm thiên là đấng tạo vật của thế giới này, là Thiên chúa tối cao của đạo Bà-la-môn.

Nhưng trong Phật giáo, Đại phạm thiên chỉ là một trong những chúng sanh ở cơi trời, có ḷng kính tin Tam bảo và là một hộ pháp đắc lực. Theo kinh Đại tập, trong quá khứ, chư Phật đă từng giao sứ mạng bảo hộ Bốn thiên hạ cho Đại phạm thiên và Đế-thích thiên. Ngoài ra, theo kinh Đại bi ghi chép, khi Đức Thế tôn sắp nhập Niết-bàn, Ngài đă phá trừ tà kiến cho Đại phạm thiên, để ông trở thành một đệ tử của Phật. Đức Thế tôn cũng giao trọng trách bảo hộ ba ngàn đại thiên thế giới và bảo vệ Phật pháp cho Đại phạm thiên. Do đó, trong kinh sách Phật giáo, Đại phạm thiên và Đế-thích thiên là hai vị thiên thần hộ tŕ Phật pháp và giữ ǵn sự lợi ích cho nhân dân trong ba ngàn đại thiên thế giới.

Great compassion        Grande compassion    Đại bi    大悲    mahākaruṇā
  Bi nghĩa là thương xót và cứu giúp những người đau khổ. Chư Phật và Bồ tát thấy chúng sanh đau khổ ḷng xót thương vô hạn, không nở để chúng sinh ch́m đắm trong sinh tử, bị muôn thứ khổ đau bức bách, nên liền phát nguyện cứu vớt tất cả chúng sanh, gọi là Đại bi tâm. Kinh Niết bàn nói: 'Ba đời chư Phật đều lấy đại bi làm gốc, nếu không có tâm đại bi th́ không thể gọi là Phật'.
Tâm đại bi mẫn của Phật và Bồ-tát (đại bi mẫn t́nh thương xót vô cùng to lớn).
Đại bi là một trong 18 năng lực đặc biệt của Phật (xem mục Bất cộng pháp).
Đại bi cũng chính là Bi tâm trong Bốn tâm vô lượng (Tứ vô lượng tâm từ - bi – hỷ - xả), như trong Kinh Hoa nghiêm nói : ‘có 10 loại tâm đại bi’ ; Kinh Bảo vũ cũng nói : ‘Phật có 32 tâm đại bi’.
Đại bi có các nghĩa sau đây :
Luận Đại tỳ-bà-sa nói : ‘Nhổ sạch những ǵ làm tăng tưởng nỗi khổ nạn của chúng sanh th́ gọi là Đại bi ; nghĩa là, bạt trừ mọi khổ đau từ trong cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, khiến cho giải thoát ra ngoài, an trí chúng ở vào cảnh giới trời người hưởng thọ an vui.
Lại nữa, kéo chúng sanh ra khỏi bùn lầy gọi là Đại bi ; nghĩa là, chúng sanh hữu t́nh đang bị ch́m đắm trong bùn lầy phiền năo, Phật đưa cánh tay chánh pháp kéo chúng sanh ra khỏi bùn lấy ấy, rồi đem chúng an trí vào trong Thánh đạo để chứng Đạo quả.
Lại nữa, trao cho chúng sanh hữu t́nh nghĩa và lợi gọi là Đại bi ; nghĩa là, Phật dạy chúng sanh đoạn ba ác hạnh, tu ba diệu hạnh, gieo trồng hạt giống tôn quư, giàu sang, hạnh phúc th́ gặt hái được hoa trái đại tôn quư, đại giàu sang, hạnh phúc, h́nh sắc xinh đẹp, mọi người ai cũng ưa nh́n, da dẻ mịn màng, tươi sáng và thanh tịnh, hoặc làm Luân vương, hoặc làm Đế thích, hoặc làm Phạm vương, hoặc làm Phạm chí, cho đến có thể sanh lên trời Hữu đảnh, hoặc lại gieo trồng hạt giống Tam thừa, dẫn đến Bồ-đề Niết-bàn… Tất cả mọi việc làm trên đều nhờ vào oai lực của Tâm đại bi.
Gọi là Đại bi v́ t́nh thương này có năm thứ to lớn sau đây :
1. Tài sản lớn : V́ tâm này lấy sự thành tựu đại phước đức, đại trí tuệ làm tư lương.
2. Hạnh tướng lớn : V́ tâm này có năng lực ở trong ba thứ khổ mà bạt trừ hết mọi thống khổ.
3. Sở duyên lớn : V́ tâm này lấy chúng sanh trong ba cơi làm đối tượng thương yêu.
4. B́nh đẳng lớn : V́ tâm này xa ĺa ư niệm phân biệt oán thân, thương yêu và làm lợi ích trùm khắp chúng sanh hữu t́nh.
5. Thượng phẩm lớn : Tâm này là tâm tối thượng.
Tâm đại bi và Tâm bi có 8 loại khác nhau :
1. Tự tánh khác : Tâm đại bi lấy vô si (tức trí tuệ) làm thể ; Tâm bi lấy vô sân làm thể.
2. Hạnh tướng khác : Hạnh tướng của Tâm đại bi là ba thứ khổ ; hạnh tướng của Tâm bi là khổ khổ.
3. Sở duyên khác : Tâm đại bi lấy ba cơi làm đối tượng ; Tâm bi chỉ có ở Dục giới.
4. Y địa khác : Tâm đại bi nương vào Tứ thiền, Tâm bi nương vào Tứ tĩnh lự.
5. Y thân khác : Tâm đại bi nương vào thân Phật ; Tâm bi nương vào thân Nhị thừa.
6. Chứng đắc khác : Tâm đại bi ĺa phiền năo hoặc ở trời Hữu đỉnh mà chứng đắc ; Tâm bi ĺa phiền năo hoặc ở Dục giới mà chứng đắc.
7. Cứu tế khác : Tâm đại bi có năng lực cứu tế thành tựu mọi việc ; Tâm bi chỉ hy vọng là cứu tế được mà thôi.
8. Ai mẫn khác : Tâm đại bi là tâm thương yêu b́nh đẳng ; Tâm bi chỉ cứu giúp chúng sanh hữu t́nh đau khổ ở Dục giới.

Great Compassion Mantra        Mantra de la Grande Compassion    Chú Đại Bi - Đại Bi Tâm Đà La Ni    大悲咒    Maha Karunika citta Dharani
  Theo kinh Mahakarunikacitta, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokiteśvara Bodhisatva) đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhăn vô ngại đại bi tâm đà ra ni. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam Mô A rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn tŕ. Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa (na ma bà tát đa). Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca la đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da.Giá ra gía ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê lị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ Bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn tŕ. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dủ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn tŕ. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn tŕ bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ. Ta bà ha. Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.
Án. Tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha. (3 lần)

great enlightenment        Grand Eveil     Đại giác    大覺    
The supreme bodhi, or enlightenment, and the enlightening power of a Buddha.


  Chỉ sự giác ngộ của Đức Phật. Cũng gọi là Chính giác, Đại ngộ. Phàm phu th́ chẳng có giác ngộ. Thanh văn, Bồ tát có giác ngộ, nhưng sự giác ngộ đó chưa lớn. Duy chỉ có Phật là giác ngộ được thật tướng của các pháp, triệt để thấy suốt nguồn gốc của các pháp, cho nên gọi là Đại giác.
Mặt khác, Thanh văn tuy có thể tự ḿnh tu tập đạt được giác ngộ (tự giác), nhưng không thể giúp người khác giác ngộ (giác tha); Bồ tát có tự giác và cũng có khả năng giác tha, nhưng chưa đạt đến viên măn; duy chỉ có Phật là tự giác, giác tha đều đạt đến viên măn, cho nên gọi là Đại giác.

Great kindness        Amour universel    Đại từ    大慈    mahā-maitrī
It is love, universal love, to hope and to share joy to all beings.

  Từ có nghĩa là ban tặng niềm vui, cho người khác niềm vui. Đại từ là t́nh thương rộng lớn, mong muốn ban cho tất cả chúng sanh niềm vui.

Great Vehicle        Grand Véhicule    Đại thừa    大乘    Mahāyāna
  Thừa (yāna), là công cụ vận chuyển như xe cộ, thuyền bè... Đại thừa dụ cho giáo pháp của Đức Phật như chiếc xe lớn, có khả năng chuyên chở chúng sanh từ bờ phiền năo đến bờ giải thoát.
Trong các Kinh A hàm, Đại thừa là từ dùng để tôn xưng những lời dạy của đức Phật.
Sau khi Phật nhập Niết-bàn một thời gian, Phật giáo ở phương bắc Ấn độ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt nên tự xưng là Phật giáo Đại thừa, hay Phật giáo phát triển; trong khi đó, để chỉ cho Phật giáo ở phương nam Ấn độ, vốn sinh hoạt khép kín trong cộng đồng tăng lữ, ít đổi mới và không hoà nhập với thời đại, người ta gọi là Phật giáo Tiểu thừa, hay Phật giáo nguyên thuỷ. Đứng về phương diện phát triển của tư tưởng sử mà nhận xét, th́ Tiểu thừa là nền tảng của tư tưởng Đại thừa.

heart, mind, spirit, motive, sense, mentality, idea            Tâm    心    citta
心 hṛd, hṛdaya 汗栗太 (or 汗栗馱); 紀哩馱 the heart, mind, soul; citta 質多 the heart as the seat of thought or intelligence. In both senses the heart is likened to a lotus. There are various definitions, of which the following are six instances: (1) 肉團心 hṛd, the physical heart of sentient or nonsentient living beings, e. g. men, trees, etc. (2) 集起心 citta, the ālayavijñāna, or totality of mind, and the source of all mental activity. (3) 思量心 manas, the thinking and calculating mind; (4) 緣慮心; 了別心; 慮知心; citta; the discriminating mind; (5) 堅實心 the bhūtatathatā mind, or the permanent mind; (6) 積聚精要心 the mind essence of the sutras.

  ① Tim, đời xưa cho tim là vật để nghĩ ngợi, cho nên cái ǵ thuộc về tư tưởng đều gọi là tâm. Như tâm cảnh 心境, tâm địa 心地, v.v. Nghiên cứu về chỗ hiện tượng của ư thức người gọi là tâm lí học 心理學. Phật học cho muôn sự muôn lẽ đều do tâm người tạo ra gọi là phái duy tâm 唯心. Nhà Phật chia ra làm nhiều thứ, nhưng rút lại có hai thứ tâm trọng yếu nhất: 1) vọng tâm 妄心 cái tâm nghĩ ngợi lan man sằng bậy, 2) chân tâm 真心 cái tâm nguyên lai vẫn sáng láng linh thông, đầy đủ mầu nhiệm không cần phải nghĩ mới biết, cũng như tấm gương trong suốt, vật ǵ qua nó là soi tỏ ngay, khác hẳn với cái tâm phải suy nghĩ mới biết, phải học hỏi mới hay. Nếu người ta biết rơ cái chân tâm (minh tâm 明心) ḿnh như thế mà xếp bỏ sạch hết cái tâm nghĩ ngợi lan man sằng bậy đi th́ tức th́ thành đạo ngay. (Từ điển Thiều Chửu)

Xem bài nói về Tâm


hell        enfer    Địa ngục    地獄    naraka
  Một trong Ngũ thú (Ngũ đạo, năm đường chúng sinh đi đến) hay Lục thú (Lục đạo, sáu đường chúng sinh đi đến), hay Thập giới (mười cơi chúng sinh tồn tại). Là nơi chịu đau khổ của chúng sinh tạo các nghiệp ác, như giết hại, trộm cướp, gian dâm...
Theo kinh Trường A hàm quyển 19 và phẩm Nê lê (nê lê là đọc theo tiếng Phạm, có nghĩa là địa ngục) trong kinh Đại lâu thán quyển 2, th́ địa ngục ở chung quanh biển lớn, ở khoảng giữa núi Đại kim cương và núi núi Đại kim cương thứ hai.
Kinh Địa tạng c̣n cho biết trong núi Thiết vi cũng có địa ngục.

Hidden essence of boudha        Nature cachée de bouddha    Ẩn một Như lai tạng    隱沒如來藏    
Every being has an essence of Buddha but it is hidden by the factors of disturbances.

  Một trong 10 loại Như lai tạng. C̣n gọi là Ẩn phú Như lai tạng. Tức pháp thân Như lai bị phiền năo che lấp khiến ẩn mất.

Hindrance            Nghiệp chướng    業障    Karmāvaraṇa
The screen, or hindrance, of past karma, hindering the attainment of bodhi.

  Chướng ngại do nghiệp ác đă làm. Nghiệp ác làm trở ngại sự tập. Kinh Niết bàn nói: "Năm tội cực ác khiến chúng sinh đoạ vào địa ngục vô gián là nghiệp chướng nặng nề nhất". Luận Câu xá nói: "Thứ nhất hại mẹ, thứ hai hại cha, thứ ba hại A la hán, thứ tư phá hoà hợp tăng, thứ năm làm thân Phật chảy máu, đó là năm thứ nghiệp chướng nặng nề nhất". Kinh Hoa nghiêm nói: "Nêú chúng sinh nào nh́n thấy được đức Phật, dù chỉ một lần, th́ bao nhiêu nghiệp chướng đều tiêu trừ hết".

Hungry ghost        esprits affamés    Ngạ quỷ    餓鬼     preta
hungry spirits, one of the three lower destinies. They are of varied classes, numbering nine or thirty-six, and are in differing degrees and kinds of suffering, some wealthy and of light torment, others possessing nothing and in perpetual torment; some are jailers and executioners of Yama in the hells, others wander to and fro amongst men, especially at night. Their city or region is called 餓鬼城; 餓鬼界. Their destination or path is the 餓鬼趣 or 餓鬼道.


  Quỷ đói. Là một trong 3 đường ác, một trong 5 hay 6 đường mà chúng sinh sẽ đi đến tuỳ theo nghiệp của ḿnh đă tạo. C̣n có tên là Quỷ đạo, Quỷ thú, hay Ngạ quỷ đạo. Loài quỷ này thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14