Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Sự quán              事觀    
Quán chiếu bề ngoài, chỉ thấy các pháp trên mặt hiện tượng, chưa thấy được bản chất.

Sa la thụ       bosquet de shala        娑羅樹    śāla
Cây sa-la, tiếng Phạm là śāla, tiếng Pāli là sāla, tiếng Tây tạng là sa-li-ljon-pa. C̣n gọi là cây tát-la, cây tô-liên. Dịch ư là cây kiên cố, hoặc cây cao viễn. Tên khoa học là Shorea Robusta, thuộc họ cây long năo hương. Thân cây cao mà cong (kiều mộc), mọc nhiều ở vùng nhiệt đới, như Ấn độ, Bangladesh… Cây cao khoảng 10 trượng (100 feet); lá h́nh bầu dục dài, đầu lá nhọn, dài khoảng 16-25cm, rộng khoảng 10-16cm; hoa nhỏ, màu vàng lợt; trái có hạt có thể ép lấy dầu; gỗ rất cứng, có thể làm vật liệu kiến trúc, cũng có thể làm khí cụ và đóng thuyền…
Theo lịch sử Phật giáo, trong 7 đức Phật quá khứ, th́ đức Phật thứ 3 là T́-xá-phù (Vessabhu) đă thành đạo dưới gốc cây này. Kinh Đại bản trong Trường A-hàm, quyển 1 ghi: “Đức Phật T́-xá-bà ngồi dưới gốc cây sa-la thành chính giác tối thượng”. Kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự, ghi: “Đức Phật Tuỳ Diệp lúc đắc đạo thành Phật Ngài ngồi dưới cây sa-la”.
Rừng cây sa-la ngoài thành Câu-thi-na (Kuśinagara) là nơi đức Thích tôn nhập bát-niết-bàn. Kinh Du hành trong Trường A-hàm quyển 4 đă ghi: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở ngoài thành Câu-thi-na, trong rừng cây sa-la, Ngài nằm giữa hai cây mà vào niết-bàn”.
Theo phẩm Ứng tận hoàn nguyên của kinh Đại bát-niết-bàn hậu phần, quyển thượng, th́: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn nằm nghỉ trên giường báu ở trong rừng sa-la, vào lúc nửa đêm, Ngài nhập Tứ thiền, vắng lặng tuyệt đối, rồi vụt chốc vào bát-niết-bàn. Sau khi Đại giác Thế Tôn vào niết-bàn, quanh chỗ Ngài nằm bốn phía đông tây nam bắc đều có cây sa-la một gốc hai nhánh, bấy giờ đều hợp lại thành một rủ xuống che trùm giường báu của Như Lai, v́ quá thảm thương, chỉ trong chốc lát những cây sa-la đều biến thành màu trắng, giống như bạch hạc, cành lá hoa quả và vỏ cây đều nứt ra rơi xuống đất, rồi dần dần khô héo”.

Sám hối      quatre formes de naissance     Repent    懺悔    Kṣamayati
Thấy được lỗi lầm ḿnh đă gây tạo, cảm thấy ăn năn và mong được tha thứ. Tức là, khi ḿnh làm điều tội lỗi hay phạm phải những điều sai lầm ḿnh cần phải sám hối th́ tội lỗi mới tiêu trừ và trở lại thanh tịnh.
Kinh Phật v́ trưởng lăo Thủ-ca giảng về sự sai biệt của nghiệp, nói rằng: ‘Người nào tạo trọng tội th́ phải tự trách ḿnh, ăn năn sám hối, thệ nguyện không bao giờ tái phạm. Sám hối như vậy th́ có thể nhổ được gốc rễ của nghiệp’.
Kinh niết-bàn, ghi rằng: ‘Nếu đại vương biết sám hối, ḷng cảm thấy hỗ thẹn với lỗi lầm ḿnh đă tạo th́ tội lỗi sẽ tiêu diệt, đại vương sẽ trở lại thanh tịnh như xưa’.
Từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay, sám hối luôn luôn được coi là một trong những pháp tu hành quan trọng của người học Phật. Ngoại trừ trường hợp sám hối riêng lẽ thực hiện tùy lúc, trong đời sống tu học có định kỳ thực hiện nghi thức sám hối đều đặn, tức là mỗi nửa tháng cử hành lễ bố-tát (sám hối và tụng giới) một lần, mỗi năm một lần tổ chức lễ tự tứ (tự ḿnh nói lên lỗi lầm của ḿnh đă phạm và xin người khác chỉ cho ḿnh lỗi lầm đă phạm để sám hối) một lần sau ba tháng an cư.
Phương pháp sám hối thực tiễn cụ thể th́ tùy theo thời đại, phong tục, tông phái… mà có đôi chút khác nhau, chứ không có một định chế bắt buộc. Một cách tổng quát, theo Luật tông, có hai cách sám hối sau đây:
1. Chế giáo nghi: Cách thức sám hối những tội lỗi vi phạm giới luật, chỉ giành riêng cho người xuất gia. Có ba phần:
a. Tội pháp sám: Đứng trước đại chúng gồm có bốn người trở lên để sám hối.
b. Đối thủ sám: Đứng trước người thầy của ḿnh, hay trước một vị tăng thanh tịnh để sám hối.
c. Tâm niệm sám: Hướng về Đức Phật Thế Tôn tự ăn năn sám hối.
2. Hóa giáo nghi: Cách thức sám hối những hành vi sai trái liên quan đến thiện ác, giành cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
Thiên thai tông c̣n lập ra các pháp sám hối thực tiễn hơn: Sự sám (phân biệt tùy lúc sám hối); Lư sám (quán thật tướng, thể ngộ tính chất của tội lỗi cũng có Tánh không); Tác pháp sám hối (y theo giới luật mà thực hành sám hối); Thủ tướng sám hối (quán tưởng tướng hảo của Phật, chừng nào thấy tướng hảo xuất hiện th́ tội lỗi tiêu trừ); Vô sanh sám hối (niệm thật tướng, ngộ được tội vốn vô sanh). Trong các phương pháp sám hối trên, Lư sám hoặc Vô sanh sám được dùng làm trung tâm, tổ chức thành phương pháp thực tiễn là ‘Pháp hoa tam-muội sám nghi’, đề xướng việc thực hành sám hối sáu căn.
Do phương pháp và tính chất sám hối có nhiều loại, cho nên văn sám hối cũng có nhiều bài. Trong Phật giáo đại thừa, văn sám hối thường được sử dụng nhiều nhất là bài kệ trong kinh Hoa nghiêm:
‘Con xưa vốn tạo bao ác nghiệp,
Đều do vô thủy tham, sân, si,
Từ thân miệng ư phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối’.
Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết-ma sớ, quyển 4, ghi rằng, muốn thực hành sám hối cần phải hội đủ 5 điều kiện:
1. Thỉnh mười phương chư Phật, Bồ tát chứng minh
2. Tụng kinh chú
3. Nói lên cái tội mà ḿnh đă phạm
4. Lập lời thề không tái phạm
5. Đúng như giáo pháp chứng minh cho.
Viên giác kinh lược sớ sao, quyển 12, cho biết, trong truyền thống Phật giáo Nam truyền, muốn sám hối phải thỉnh đại tăng Tỳ-kheo làm chứng, khi đối trước đại tăng phải làm đủ 5 pháp:
1. Để lộ vai bên phải
2. Gối phải quỳ xuống đất
3. Chắp tay
4. Nói lên tội ḿnh đă phạm
5. Lễ sát chân đại tăng.
Nếu trường hợp không có đại tăng th́ không cần thực hành pháp thứ 5.
Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh, quyển thượng, cho biết, khi thực hành sám hối thành công, người ấy sẽ đắc được cái tướng ba nghiệp thiện, hào quang sáng rực cả pḥng, ngửi được mùi hương lạ vô cùng đặc biệt, thân thể và tâm ư đều được an lạc, nhẹ nhàng, hoặc nằm mộng thấy Phật và Bồ-tát đến lấy tay xoa đầu, nói : ‘Lành thay! Nay con đă được thanh tịnh, v́ vậy Ta đến để chứng minh cho con!’
Đại thừa bổn sanh tâm địa quán kinh, quyển 3, cũng nói ‘Nếu người nào thực hành sám hối đúng như pháp th́ phiền năo chắc chắn tiêu trừ. Giống như thế gian bị kiếp hỏa hủy hoại, thiêu cháy đến tận núi Tu-di, làm khô hết biển cả, sám hối đúng như pháp cũng sẽ đốt cháy hết mọi phiền năo, sám hối đúng như pháp sẽ văng sanh đến cơi trời, sám hối đúng như pháp sẽ đắc được an lạc của Tứ thiền, sám hối đúng như pháp th́ cảm được được mưa báu ngọc ma-ni, sám hối đúng như pháp th́ được thọ mạng lâu dài như kim cương, sám hối đúng như pháp sẽ đưa đến cung thương lạc, sám hối đúng như pháp sẽ thoát khỏi ngục tù ba cơi, sám hối đúng như pháp sẽ làm nở đóa hoa bồ-đề, sám hối đúng như pháp sẽ thấy được Phật…’

Sát na          a moment    刹那    kṣaṇa
Từ ngữ chỉ đơn vị thời gian cực ngắn như chớp mắt, giây lát...

Sân khuể      colère     anger    瞋恚    pratigha
Sự tức giận. Đối với những người làm trái ư ḿnh mà nổi giận, oán ghét, khiến tâm minh bực bội không yên, th́ gọi là sân.
Sân là chướng ngại rất lớn đối với người tu học Phật pháp, bởi sự tu tạo công đức rất khó, mà chỉ cần một niệm sân hận nổi lên th́ đốt cháy hết cả rừng công đức, cho nên các kinh luận thường hay cảnh giác.

Sinh y              生依    upādi
Căn bản của sự sống, hay sinh y, là năng lực duy tŕ ḍng tương tục của căn thân không để đứt đoạn.

Tư trạch lực              思擇力    
Nhờ tư duy đúng đắn (chánh tư duy) mà có sức mạnh giản trạch, từ bỏ mọi việc ác, làm mọi việc lành, gọi là Tư trạch lực (khả năng chọn lựa dứt khoát, mạnh bạo nhờ có tư duy đúng đắn).
Kinh ghi: Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo: Các Thầy nên biết rằng, chư vị Đa văn Thánh đệ tử phải nên tư duy như sau: Tất cả mọi việc làm xấu ác từ nơi thân, hiện tại, tương lai sẽ đưa đến quả báo dị thục; nếu như thân ta làm mọi việc ác th́ hiện tại ta tự huỷ đi danh dự của ḿnh, cũng bị những người khác, chư thiên, quỷ thần và chư Phật quở trách, cũng bị các vị có trí, đồng phạm hạnh dùng pháp hiền trách ta, như vậy tiếng xấu sẽ truyền khắp thiên hạ, thân hoại mạng chung chắc chắn đoạ vào đường ác, sanh vào địa ngục. Do suy nghĩ, tư duy chân chính như vậy nên biết được mọi việc làm xấu ác từ nơi thân, hiện tại, tương lai chắc chắn sẽ thọ quả báo dị thục, do đó nỗ lực siêng năng đoạn trừ mọi việc ác từ nơi thân và cũng siêng năng nỗ lực đem thân làm mọi việc lành. Đối với khẩu hành và ư hành cũng như thế, phải nên siêng tu thân, khẩu, ư diệu hành. Nếu suy nghĩ được như vậy th́ là có nhân tư trạch, nhờ tư trạch, trụ tư trạch mà đoạn trừ được pháp ác bất thiện, tu các pháp thiện, gọi là Tư trạch hay Lực, hay Tư trạch lực.

Tương tức              相即    
Gọi đầy đủ là Tương tức tương nhập. Chỉ cho tính tương quan tương duyên của vạn vật. Không có hiện tượng nào (người hay vật) có thể tự ḿnh sinh khởi và tồn tại độc lập. Cái này phải nương vào cái kia mà sinh khởi và tồn tại; cái này ở trong cái kia, các pháp dung nhiếp nhau, một là tất cả, tất cả là một gọi là tương tức tương nhập.

Tương tức tương nhập              相即相入    
Tương tức và tương nhập.
Tương tức: cái này tức là cái kia, chính là cái kia, không chính là sắc, sắc chính là không.
Tương nhập: cái này có trong cái kia, cái kia có trong cái này, dung chứa lẫn nhau.
Tất cả các hiện tượng, một trái núi, một đám mây, một hạt bụi đều có tính chất tương tức tương nhập. Cái này bao trùm cái kia. Cái kia nằm trong cái này. Phật đă nói một cách rất đơn giản mà uyên thâm: "Cái này có v́ cái kia có" (Trung A Hàm).

Tương tức là kết luận đương nhiên của vô ngă quán. Khi tương tức trở thành một tuệ giác, không chỉ thuần là một ư niệm, th́ khổ đau được chuyển hóa. Khi chứng nhập tương tức th́ vượt thoát sinh tử. Tương tức và tương nhập là hai ư niệm của Hoa Nghiêm. Tương tức nghĩa là cái này là cái kia (inter-are), tương nhập nghĩa là cái này đi vào cái kia (inter-penetration). Trong nhận thức tương tức, tương nhập th́ đám mây nằm trong bông hoa và bông hoa nằm trong đám mây. Điều này có thể quán chiếu. Màng lưới Đế Thích (Indra nest) gồm những hạt châu lóng lánh nối kết với nhau, là h́nh ảnh tuyệt diệu của tính tương tức, tương nhập.


Tướng phần                  
Tướng phần : Tướng là tướng trạng, là tướng trạng của cảnh giới (cũng chính là tướng trạng của sự vật ngoại giới ánh hiện lên trong nhận thức chủ quan). Chẳng hạn, nhăn thức duyên lấy sắc cảnh mà phân biệt nhận biết tướng trạng của sắc là hiển sắc hay h́nh sắc…, nhĩ thức duyên lấy âm thanh mà phân biệt nhận biết âm thanh ưa thích hay không ưa thích…, tỷ thức duyên lấy mùi hương mà phân biệt nhận biết mùi hương thơm hay thúi…, thiệt thức duyên lấy mùi vị mà phân biệt nhận biết vị ngọt hay chua…, thân thức duyên lấy sự xúc chạm mà phân biệt nhận biết cứng hay mềm…, thức thứ sáu duyên lấy các pháp, từ đó mà có sắc, tâm…, thức thứ bảy duyên lấy kiến phần của thức tám mà phân biệt tướng trạng ngă, pháp, thức thứ tám duyên lấy chủng tử, năm căn, khí giới, cũng như các tướng trạng mà nó đă cất giữ.
Tướng phần (nimitta-bhāga) là tín hiệu của nhận thức.
Tướng được nắm bắt (grāhya: sở thủ) là tướng phần.

Tất đàn              悉檀    Siddhānta
Tất đàn có nghĩa là thành tựu. Luận Đại trí độ tŕnh bày Bốn loại tất đàn, tức bốn pháp đưa đến sự thành tựu cho chúng sinh trong giáo lư của Phật.
Xem mục: Tứ tất đàn.

Tầm tứ      signifie pensée conceptuelle    discursive thought and investigation    尋伺    vitarka-vicāra
Tầm tứ là từ dịch nghĩa của từ tiếng Phạm vitarka-vicāra, xưa dịch là ‘giác quán’, là tên gọi chung của hai tâm sở Tầm và Tứ. Tầm là tác dụng của tư duy, truy t́m để hiểu được danh nghĩa (tên gọi và ư nghĩa của tên gọi đó) của các pháp ở dạng thức đơn giản. Tứ (hay đọc là Từ) là tác dụng của tư duy ở dạng thức tinh tế hơn, đào sâu vào vấn đề để hiểu rơ hơn về danh nghĩa của các pháp, nó không có mặt trong tất cả các tâm, cũng không khởi lên trong mọi lúc, tính của nó rất chậm chạp, nhưng đi sâu vào bản thân của đối tượng để hiểu đối tượng, và nó cùng có mặt một lúc với ‘tầm’ để phát huy tác dụng của ngôn ngữ.
Luận Câu xá xếp Tầm và Tứ vào mục Bất định địa pháp, là hai tâm sở trong 75 pháp. Duy thức th́ xếp nó vào trong 4 pháp bất định, là hai trong 100 pháp.

Tập khí              習氣    vāsanā
Điều có được do thói quen. Tính nết đă quen.

C̣n gọi là Phiền năo tập, Dư tập, Tàn khí.

Gọi tắt là Tập.

Tàn dư của phiền năo c̣n tiềm phục.

Đại trí độ luận, quyển 27, ghi: ‘Phiền năo tập c̣n gọi là Phiền năo tàn khí. Thân nghiệp và khẩu nghiệp không phát sinh theo trí tuệ mà phát sinh theo phiền năo. Nếu một người không có khả năng biết được tâm người khác, chỉ thấy người đó khởi phiền năo, th́ sẽ sinh tâm bất tịnh. Nhưng thật ra, đó là thứ phiền năo không có thật, mà chỉ là phiền năo do thói quen lâu ngày, cho nên thấy nó khởi như là nghiệp. Giống như một người bị trói chân lâu ngày, khi đă được cởi trói rồi, bước chân đi vẫn c̣n khập khiễng y như c̣n bị trói. Lại giống như đem chiếc áo ngâm trong bồn sữa, lâu ngày th́ sữa thấm cả áo, đến khi đem áo giặt sạch, dù áo không c̣n dính sữa, nhưng mùi sữa vẫn c̣n. Cũng vậy, tâm của Thánh nhân, bụi bặm phiền năo đă được lấy nước trí tuệ tẩy sạch cả rồi, nhưng cái tập khí phiền năo vẫn c̣n sót lại. Như vậy, các bậc Thánh hiền dù đă đoạn trừ hết phiền năo nhưng cái tập của phiền năo vẫn chưa trừ được. Giống như tôn giả Nan-đà vẫn c̣n tập dâm dục, dù đă đắc quả A-la-hán, nhưng khi ngồi trong đại chúng có cả nam và nữ, th́ mắt tôn giả trước hết lại thấy người nữ, dùng ngôn ngữ để thuyết pháp cho người nữ’.

Đoạn luận trên giải thích căn bản phiền năo tuy đă đoạn trừ hết rồi mà cái thói quen hay cái năng lực của nó vẫn c̣n tiềm phục lưu lại thêm một thời gian nữa, gọi là Tập khí. Giống như khi ḿnh tắt cái quạt máy, nguồn điện đă cắt rồi (căn bản phiền năo đă đoạn trừ hết rồi), mà cái quạt vẫn c̣n quay thêm một hồi nữa mới dừng hẳn (tập khí).

Trong kinh điển Phật có nói tôn giả Nan-đà c̣n dâm tập, Xá-lợi-phất và Ma-ha Ca-diếp c̣n sân tập, T́-lăng-ca-bà-bạt c̣n mạn tập, Ma-đầu-bà-tư-trá c̣n khiêu hí tập, Kiều-phạm-bát-đề c̣n ngưu nghiệp tập… là chỉ cho những thói quen c̣n sót lại của nghiệp chứ không phải các tôn giả c̣n có những nghiệp đó.

Câu-xá luận quang kí, quyển 1, nói rằng Bất nhiễm ô vô tri (không biết rằng ḿnh không có nhiễm ô) là Tập khí.

Tổng quát, có ba loại tập khí.

1. Danh ngôn tập khí : chủng tử trực tiếp của từng pháp hữu vi cá biệt. Danh ngôn có hai: Một, danh ngôn biểu nghĩa, đó là sự sai biệt của âm thanh chuyển tải ư nghĩa. Hai, danh ngôn hiển cảnh, tức tâm, tâm sở pháp nhận thức đối tượng cá biệt. Tùy theo hai danh ngôn mà chủng tử được huận tập thành để làm nhân duyên cho từng pháp hữu vi cá biệt.

2. Ngă chấp tập khí : đó là chủng tử của ngă và ngă sở được chấp thủ một cách bất thực. Ngă chấp có hai: Một, câu sinh ngă chấp, loại kiến chấp về ngă và ngă sở bị đoạn trừ bởi tu đạo. Hai, phân biệt ngă chấp, lọai kiến chấp ngă, ngă sở bị đoạn trừ bởi kiến đạo.

Tùy theo chủng tử được huân tập thành hai loại ngă chấp này mà có sự sai biệt ta và nó trong các hữu t́nh.

3. Hữu chi tập khí: đó là chủng tử của nghiệp dẫn đến dị thục trong ba cơi. Hữu chi có hai: Một, thiên hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái. Hai, bất thiện, nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hữu chi mà có sự sai biệt của các cơi do bởi nghiệp dị thục.

Nên biết, tập khí ngă chấp và hữu chi là tăng thượng duyên cho quả sai biệt.

Tỉ khâu ni, T́ kheo ni      nonne bouddhiste    nun    比丘尼     bhiksuni
Người nữ xuất gia theo Phật giáo đă thọ giới cụ túc (c̣n gọi là giới tỳ kheo ni, gồm 348 giới).

Tỉ khâu, T́ kheo      Moine bouddhiste    Buddhist monk    比丘    Bhikkhu, Bhikṣu
Người nam xuất gia theo Phật giáo đă thọ giới cụ túc (250 giới), đầy đủ 5 ư nghĩa: 1. Khất sĩ (đi xin ăn để đơn giản đời sống cho thanh tịnh và để gần gũi với tín đồ mà giáo hoá, tạo cho tín đồ cơ hội gieo trồng phước điền); 2. Phá giặc phiền năo (tham, sân, si, mạn, nghi...); 3. Ra khỏi nhà thế tục và nhà tam giới (ra khỏi 3 cơi); 4. Giữ giới thanh tịnh; 5. Làm cho chúng ma sợ hăi.

Tịnh độ      Terre pure    Pure land     淨土    Sukhāvatī
Tịnh độ là thế giới trong sạch, không có những điều xấu xa, hoàn toàn thanh tịnh. Nhiếp đại thừa luận chép rằng: "Thế giới mà chúng sinh sống trong đó không có năm điều xấu xa (ngũ trược), th́ gọi là Tịnh độ". Đó là thế giới của chư Phật, là quốc độ của chư Phật, như Tịnh độ của Phật A di đà ở phương Tây, Tịnh độ của Phật Dược Sư ở phương Đông...

Tứ độ      Terres quatre    Four lands    四土    Buddha-kṣetra
Cũng gọi Tứ Phật độ, Tứ chủng Phật độ. Chỉ cho 4 cơi Phật.
1. Phàm thánh đồng cư độ, cũng gọi Nhiễm tịnh đồng cư độ, Nhiễm tịnh quốc: Cơi nước trong đó phàm phu người, trời cùng ở chung với các bậc thánh Thanh văn và Duyên giác.
2. Phương tiện hữu dư độ, cũng gọi Phương tiện độ, Hữu dư độ: Chỉ cho nơi cư trú của các bậc A la hán, Bích chi Phật và hàng Bồ tát Địa tiền. V́ các bậc này tu đạo phương tiện, đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, cho nên gọi là Phương tiện; nhưng Vô minh căn bản vẫn c̣n sót lại, ngăn che thực tướng Trung đạo, cho nên gọi là Hữu dư.
3. Thực báo vô chướng ngại độ, cũng gọi Thực báo độ, Quả báo độ: Nơi sinh về của các vị Bồ tát đă dứt bỏ được 1 phần vô minh. Nhờ tu hành đạo chân thực mà được quả báo sinh về cơi nước tự tại vô ngại này, nên gọi là Thực báo vô chướng ngại độ.
4. Thường tịch quang độ, cũng gọi Lư tính độ: Chỗ ở của Phật đă hoàn toàn dứt trừ vô minh căn bản, tức nơi cư trú của Phật đă chứng được quả Diệu giác rốt ráo, là cơi Phật thường trụ (pháp thân), tịch diệt (giải thoát) và quang minh (bát nhă).

Tứ điên đảo              四顛倒    viparyāsa
Bốn nhận thức sai lầm, điên đảo.
Có hai loại:
1. Bốn thứ điên đảo của phàm phu, gọi là bốn thứ điên đảo hữu vi: Đối với các pháp hữu vi vốn bị sinh tử, vô thường chi phối mà nhận chấp sai lầm, điên đảo, cho rằng có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Tức là, chúng sanh phàm phu mê muội, không hiểu biết tướng chân thật của các pháp, thế gian vốn Vô thường mà cho là Thường, Khổ đau mà cho là Lạc, Vô ngă mà cho là có Ngă, Bất tịnh mà cho là Tịnh.
2. Bốn thứ điên đảo vô vi: chỉ cho những người khi nghe Phật nói bốn thứ điên đảo hữu vi th́ phát sinh chánh kiến, biết rơ các pháp hữu vi là Vô thường, Vô ngă, Vô lạc, Bất tịnh, nhưng đối với pháp vô vi, tức là đối với niết-bàn vốn là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh lại khởi lên nhận thức sai lầm, cho rằng niết-bàn cũng Vô thường, Vô ngă, Vô lạc, Bất tịnh.
Đoạn trừ bốn thứ điên đảo hữu vi là các bậc Nhị thừa. Đoạn trừ tám thứ điên đảo hữu vi và vô vi là các bậc Bồ-tát.

Tứ ác đạo              四惡道     
C̣n gọi là Tứ ác thú.
Là bốn chỗ sống xấu ác và khổ đau, gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la.
Chúng sanh tạo những nghiệp ác nên đi đến những thế giới, những hoàn cảnh mà môi trường sinh sống toàn là khổ đau.

Tứ châu              四洲    Catvāro-dvīpāḥ
Quan niệm về thế giới của Ấn độ xưa.
Chỉ cho 4 châu lớn. Ở giữa thế giới là núi Tu di, chung quanh núi Tu di có 7 lớp núi và 7 lớp biển, giữa khoảng lớp núi Thất kim và núi Đại thiết vi là lớp Hàm hải (biển mặn), trong đó có 4 châu lớn, nằm ở 4 phương:
1. Đông thắng thân châu, Pūrva-videha: Cũng gọi Đông phất bà đề. V́ người sinh sống ở đây có thân h́nh thù thắng nên gọi là Thắng thân. Địa h́nh châu này giống như h́nh bán nguyệt, khuôn mặt con người cũng có h́nh bán nguyệt.
2. Nam thiệm bộ châu, Jambu-dvīpa: Cũng gọi Nam diêm phù đề. Thiệm bộ, Jambu, là cây bồ đào, châu này lấy tên cây bồ đào làm tên châu. Địa h́nh như cái thùng xe, khuôn mặt người ở đâu cũng thế.
3. Tây ngưu hoá châu, Apara-godānīya: Cũng gọi Tây cù da di. V́ dùng ḅ, dê làm tiền tệ mua bán, trao đổi, nên có tên Tây ngưu hoá châu. Địa h́nh châu này như trăng tṛn, khuôn mặt người cũng thế.
4. Bắt cu lô châu, Uttara-kuru: Cũng gọi là Bắc uất đơn việt. Câu lô có nghĩa là nơi thù thắng, v́ đất đai ở châu này thù thắng hơn 3 châu nói trên nên được đặt tên là Bắc câu lô châu. Địa h́nh châu này vuông vức, khuôn mặt người cũng thế.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22