Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Vô minh      obscurité fondamentale    ignorance    無明    Avidyā
Tên khác của phiền năo. Nghĩa là không có trí tuệ, không thấy biết một cách đúng như thật, tức trạng thái tinh thần mờ tối đối với sự vật, không thông suốt chân lư và không thể lư giải rơ ràng sự tướng hoặc đạo lư, cũng tức là không thấu, không hiểu, không rơ sự thật, lấy ngu si làm tự tướng.
Kinh Tạp A hàm, đức Phật định nghĩa: “Thế nào là vô minh? Nếu chẳng biết kiếp trước, chẳng biết kiếp sau, chẳng biết cả kiếp trước lẫn kiếp sau; chẳng biết trong, chẳng biết ngoài, chẳng biết cả trong lẫn ngoài; chẳng biết nghiệp, chẳng biết báo, chẳng biết nghiệp báo; chẳng biết Phật, chẳng biết Pháp, chẳng biết Tăng; chẳng biết Khổ, chẳng biết Tập, chẳng biết Diệt, chẳng biết Đạo; chẳng biết nhân, chẳng biết pháp sinh khởi bởi nhân; chẳng biết thiện, bất thiện, có tội, không tội, tập, không tập; hoặc kém, hoặc hơn; nhiễm ô, hoặc thanh tịnh; phân biệt duyên khởi, tất cả đều chẳng biết; đối với sáu xúc nhập xứ không giác tri như thật, đối với các pháp này không thấy không biết, không hiện quán, bị si ám, không có minh, tối mù mịt, đó gọi là vô minh".

Vô minh lậu              無明漏    avidyāsrava
Một trong ba lậu. C̣n gọi là Vô minh phiền năo.
Chỉ cho phiền năo khiến chúng sanh hữu t́nh trôi lăn trong ba cơi.
Vô minh là gốc rễ căn bản khiến chúng sanh bị luân hồi sanh tử trong ba cơi không gián đoạn.

Vô ngại trí              無礙智    Asanga-jñāna
Trí tuệ của Phật, thông đạt tự tại, hễ phát tâm là biết liền, không nhờ phương tiện, không cần suy nghĩ, rơ suốt không ngại.

Vô ngă      Impersonnalité    Impersonality    無我    anātman, anātmaka, nirātman, ni-rātmika, nairātmya
Ngă (ta) tức là vĩnh viễn bất biến (thường), độc lập tự tồn (nhất), là sở hữu chủ trung tâm (chủ), có năng lực chi phối (tể). Nghĩa là: Ta là cái chủ tể thường nhất, vĩnh viễn không thay đổi, tồn tại một cách độc lập, tức là cái linh hồn hoặc bản thể có thật.
Phật giáo không chấp nhận có một cái Ngă như thế, gọi là Vô ngă.
Vô ngă là một trong những giáo nghĩa căn bản của Phật giáo.
Phật giáo nói Vô ngă với mục đích phủ định quan niệm cho rằng vạn pháp có thật thể và có linh hồn tồn tại bất biến trong sinh mạng chúng sinh.
Trong Phật giáo, Vô ngă có hai loại:
1. Nhân vô ngă: con người do vay mượn năm uẩn hoà hợp mà thành, tuyệt đối không có một cái (ngă) chủ thể tồn tại thường hằng, bất biến.
2. Pháp vô ngă: các pháp do nhân duyên hoà hợp mà sanh, luôn luôn thay đổi, tuyệt đối không có một chủ tể thường hằng.
Phật giáo không thừa nhận có một cái ‘ngă’ là chủ thể thường hằng hoặc một ‘thực thể’ tồn tại bất biến. Phật giáo chủ trương tất cả các pháp là Vô ngă, và kiến lập ‘Chư pháp vô ngă’ làm một trong ba dấu ấn chứng nhận chánh pháp.
Các Kinh A-hàm đều nói 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới đều là giả hữu, không có thật thể, không tồn tại một cái ngă.
Vả chăng, để đối trị với bốn quan niệm điên đảo (tứ điên đảo) tịnh, lạc, ngă và thường của thế gian, Đức Phật dạy bốn niệm xứ (tứ niệm xứ) bất tịnh (thân), khổ (thọ), vô ngă (pháp) và vô thường (tâm).
Trong các bộ phái Phật giáo, th́ bộ phái Vātsī-putrīya (Độc-tử bộ) chủ trương trong sinh mạng có một cái ‘ngă không phải đồng nhất cũng không phải thoát ly năm uẩn’, tức là chủ trương ngă và pháp đều có thật, cho nên bị phê phán và gọi tên là ‘ngă pháp câu hữu tông’. Bộ phái Sarvāsti-vādin (Thuyết nhất thiết hữu bộ) th́ chấp nhận con người không có ngă, nhưng lại chủ trương tất cả các pháp là có thật, cho nên bị phê phán và gọi tên là ‘pháp hữu ngă vô tông’.
Đến thời kỳ Phật giáo đại thừa th́ cho rằng con người không có ngă mà các pháp cũng không có ngă, chủ trương ‘nhân vô ngă, pháp vô ngă’.
‘Nhân vô ngă, pháp vô ngă’ cũng c̣n gọi là ‘nhân không, pháp không’.
Kinh điển Phật giáo nguyên thuỷ thường dùng từ ‘vô ngă’, nhưng Phật giáo đại thừa đa phần dùng từ ‘không’. Cho nên cần biết rằng, ‘không’ tức là ‘vô ngă’.
Đại Trí độ luận nói: ‘Tất cả các pháp đều vô ngă. Trong các pháp không có chủ tể, không có tác giả, không biết, không thấy, không có người sinh ra, không có người tạo nghiệp… tất cả đều thuộc nhân duyên; v́ phụ thuộc vào nhân duyên cho nên không được tự tại, v́ không được tự tại cho nên vô ngă, không thể nào nắm bắt được cái tướng của ngă’.


Vô sở đắc          nothing to be attained    無所得    aprāptitva
Các pháp đều do nhân duyên mà sanh ra, vốn không có tự tính, v́ không tự tính nên không có tướng quyết định có được, gọi là vô sở đắc.

Vô sở hữu xứ      Troisième des quatre royaumes du monde du sans-forme    The third region in the realm of formlessness.    無所有處    ākiñcanyāyatana
Cảnh giới không có tâm sở hữu. Là tầng trời thứ 3 trong 4 tầng trời cơi Vô sắc.

Vô thường      Impermanent    Impermanent    無常    Anitya
Tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh, tuỳ thuộc 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt mà biến hoá đổi dời trong từng sát na, xưa có nay không, nay có sau không, chẳng lúc nào thường trụ, v́ thế nên gọi chung là Vô thường.

Xem bài Vô thường


Vô uư thuyết              無畏說    
Vô úy thuyết: nói mà không hề do dự, sợ hăi; nói với sự xác tín, kiên quyết. Khi Tôn giả Xá-lợi-phất ca ngợi đức Phật rằng: «Trong quá khứ, trong tương lai, cũng như trong hiện tại, không thể có một (…) ai tối thắng hơn đức Thế Tôn…»; th́ bấy giờ đức Thế Tôn ấn chứng rằng lời nói của tôn giả Xá-lợi-phất thật sự là tiếng nói không sợ hăi, là tiếng rống của sư tử.

Vô úy      Absence de crainte    Fearlessness    無畏    Vaiśāradya, Abhaya
Không hề sợ hăi điều ǵ. Chỉ cho Phật và Bồ tát khi nói pháp có đủ tự tín, không hề sợ hăi điều ǵ, mạnh mẽ và an ổn.



Vô úy thí      Don de courage    Gift of fearlessness    無畏施    Abhayadăna
Cho sự không sợ hăi. Danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm, bởi Bồ tát luôn luôn xuất hiện vào những lúc chúng sinh gặp sự nguy hiểm, khổ đau để kịp thời cứu giúp, khiến chúng sinh thoát khỏi sự sợ hăi.

Người giữ giới, không có tâm giết hại, khiến người và vật không không sợ hăi, hoặc khi người và vật gặp tai nạn, ḿnh che chở cho họ khỏi sợ hăi.

Vô vi      inconditionné    Non-active    無為    asaṃskṛta
Không tạo tác, tức chẳng phải do nhân duyên tạo ra, là pháp tuyệt đối thường trụ, ĺa sinh diệt biến hoá. Vốn là tên khác của Niết bàn, nhưng đời sau, ngoài Niết bàn c̣n lập nhiều Vô vi, do đó có các thuyết như 3 vô vi, 6 vô vi, 9 vô vi.

Xả      Équanimité        捨    Upekṣā
1. Gọi đủ là hành xả: Buông bỏ, tức không vướng mắc, không bám víu vào bất thứ ǵ.
2. Cũng gọi là Xả thụ, Bất khổ bất lạc thu (Aduḥkhāsukha-vedanā): Chỉ cho cảm giác ấn tượng của ư thức không khổ, không vui, là một trong ba loại cảm thụ.

Xá Lợi      Relique    Relic    舍利    Śarīra
Là những hạt, những viên hoặc những mảnh xương cốt c̣n lại sau khi hỏa táng.
Trước đây người ta không tin là có xá-lợi Phật. Măi đến năm 1898, ông W.C. Peppé, người Pháp, tiến hành khảo cổ tại vùng Pīprāvā, phía nam nước Népal, đă t́m thấy một cái hộp bằng đá khá lớn, trong đó có chứa hai cái b́nh bằng đá và vài dụng cụ bằng đá khác như tách trà… Hai h́nh đá một lớn một nhỏ đều có chứa những viên xá-lợi. B́nh đá nhỏ dạng h́nh cầu, chia thành hai phần thượng hạ. Nữa phần trên có h́nh tay cầm, khắc niên đại của vua A-dục bằng lối văn tự Brahmī, và người ta đă đọc được nội dung của nó như sau: “Đây là xá-lợi của Đức Phật. Phần xá-lợi này do bộ tộ Śākya, nước Śrāvastī phụng thờ”. Kết quả của việc khảo cổ này đă chứng minh những ǵ được ghi lại trong Kinh Trường A-hàm và rải rác ở những kinh khác về việc phân chia xá-lợi của Phật thành tám phần cho tám quốc gia cổ đại Ấn Độ sau khi Phật nhập niết-bàn là hoàn toàn sự thật.
Kinh ghi: “Sau khi Đức Thích tôn nhập niết-bàn ở rừng Śāla, thành Kuśinagara, xá-lợi của Phật được phân thành tám phần đựng trong tám tháp chia cho tám quốc gia phụng thờ, tháp thứ chín là cái b́nh, tháp thứ mười là tháp tro, tháp thứ mười một là tháp tóc, thờ tóc Thế Tôn khi c̣n tại thế (Trường A-hàm, kinh Du hành).
Theo Bồ-tát xử thai kinh, quyển 3, phẩm Vô thường, xá-lợi có hai loại: Toàn thân xá-lợi và toái thân xá-lợi. Toàn thân xá-lợi là sau khi chết, toàn thân không bị thối rữa, tự nhiên khô cứng lại thành thân kim cương bất hoại. Toái thân xá-lợi là một phần c̣n lại của cơ thể sau khi hỏa táng.
Theo Dục Phật công đức kinh th́ di cốt của Phật gọi thân cốt xá-lợi, c̣n giáo pháp của Phật thuyết gọi là pháp thân xá-lợi. Những xá-lợi này sẽ hiển thị sau khi Đức Phật diệt độ, giáo pháp và giới luật của Phật thuyết sẽ tồn tại măi ở thế gian, làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh.
Theo Pháp uyển châu lâm, quyển 40 th́ xá-lợi có ba loại: Xá-lợi xương màu trắng, xá-lợi tóc màu đen, nhục xá-lợi màu đỏ.
Từ xưa đến nay, tín đồ Phật tử vẫn thường lưu truyền và lễ bái ba loại xá-lợi của Phật là xá-lợi đảnh đầu, xá-lợi răng và xá-lợi ngón tay.
Kinh Kim quang minh, quyển 4, phẩm Xả thân, ghi rằng: “Xá-lợi là kết quả của quá tŕnh huân tu giới, định, tuệ, rất khó đạt được, cho nên nó là ruộng phước điền tối thượng”.
Luận Đại trí độ, quyển 59, nói: “Cúng dường xá-lợi Phật, cho dù nhỏ như hạt cải, cũng được phước báo vô lượng vô biên”. Luận này cũng cho biết, xá-lợi là kết quả tu tập sáu pháp ba-la-mật mà thành.
Tựu trung, xá-lợi là kết quả tự nhiên của quá tŕnh tu tập giới, định, tuệ và đạt được giải thoát. Tuy nhiên, quán sát hành động của chư Phật, chư Bồ-tát, chư vị Tổ sư… th́ xá-lợi được trang nghiêm bằng sự đại dơng mănh, phát ra sự đại thệ nguyện và tăng cường tâm ḿnh bằng sự đại từ bi, để bảo vệ chánh pháp và cứu độ chúng sanh.

Ư sinh thân              意生身    mano-maya-kāya
Cũng nói là ư thành thân.
Thân thể được tác thành bởi ư. Quan điểm Hữu bộ Tỳ-bà-sa (Vaibhāṣika): thân trung hữu hay trung ấm (antarābhava) của loài người nguyên thủy (agrakalpa), thân biến hóa thuộc Sắc và Vô sắc giới, thảy đều là thân do nghiệp lực của tâm ư tác thành, tức không do nghiệp thân, khẩu, hay dị thục hay do dâm dục mà có. Đây chỉ thân c̣n chịu bất tư nghị biến dịch sinh tử của A-la-hán, Bích-chi-Phật và Bồ-tát địa thứ tám trở lên.

Ư sinh thân c̣n chỉ cho thân trung hữu (thân trung gian), tức thân biến hoá của loài người vào thời kỳ mới h́nh thành thế giới và thân của chúng sinh ở Sắc giới, Vô sắc giới.

Kinh Tạp A-hàm, quyển 34, ghi: "Chúng sinh mạng chung ở nơi này, nương ư sinh thân, sinh nơi khác. Ngay lúc ấy, nhân v́ ái mà thủ, nhân v́ ái mà trụ, nên nói là hữu dư". 'Nương ư sinh thân', tức là thân trung hữu, hay c̣n gọi là thân trung ấm.

Kinh Trung A-hàm, quyển 43, cho rằng, chúng sinh từ Sơ thiền Sắc giới cho đến Bốn Hữu đỉnh thiên Vô sắc giới đều có thân do Ư hành sinh.

Thành Duy thức luận, nói: 'Do lực của bi và nguyện mà thân mạng được cải chuyển không có phần hạn xác định, do đó gọi là biến dịch. V́ diệu dụng được chiêu cảm hoàn toàn được tư trợ bởi nguyện và định vô lậu, nên nói là bất tư nghị, hoặc cũng được gọi là ư thành thân, v́ tùy theo ư nguyện mà được tác thành. Như Khế kinh nói, cũng như lấy thủ làm duyên, lấy nghiệp hữu lậu làm nhân tiếp nối hậu hữu để sản sinh ba hữu. Cũng vậy, do vô minh tập địa làm duyên, nghiệp vô lậu làm nhân, phát sinh ba loại ư thành thân của A-la-hán, Độc giác, và Bồ-tát đă đắc tự tại".

Kinh Lăng-già, quyển 3, ghi: "Ba loại ư thành thân (manomayakāya): 1. Tam-muội lạc ư thành thân (samādhisukhasamāpattimanomaya), thân do ư tác thành đạt được do chứng đắc an lạc của các thiền, 2. Giác pháp tự tính ư thành thân (dharmasvabhāvābodha-manomaya), ư thành thần đạt được do giác ngộ tự tính của các pháp, 3. Chủng loại câu sinh vô tác hành ư thành thân (nikāyasahasaṃskārakriyāmanomaya), thân ư thành do sự nghiệp tác thành tùy theo bộ loại (chúng sinh).


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22