Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Ba la di          grave offenses    波羅夷    Pārājika
Là một trong những giới luật mà các tỳ kheo và tỳ kheo ni phải giữ. Là giới căn bản, quan trọng bậc nhất trong giới luật. Người tu hành phạm giới này th́ mất tư cách tỳ kheo, tỳ kheo ni, không có phần trong đạo quả, sẽ bị giáo đoàn trục xuất, không được ở chung với tăng và sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục.

Ba la mật      Perfection    Perfection    波羅蜜    pāramitā
Được dịch nghĩa là Đáo bỉ ngạn (zh. 到彼岸) tức là đến bờ giải thoát, Sự cứu cánh (zh. 事究竟) hay Đức tính hoàn hảo.

Ba loại Thiền      Trois démarches de méditations        三種禪    
Những pháp thiền nhằm đáp ứng ba loại căn cơ:
1. Như tu Ngũ đ́nh tâm quán, Tứ niệm xứ quán.v.v… Gọi là Tiểu thừa thiền.
2. Như tu Chỉ quán, Pháp giới quán, Duy Thức quán… Gọi là Đại thừa thiền.
3. Tham công án thoại đầu mà phát khởi nghi t́nh từ nghi đến ngộ chẳng có năng quán sở quán. Gọi là Tổ Sư Thiền.

Bà la môn       Brahmane    Brahman    婆羅門    Brāhmaṇa
Là tăng lữ ở địa vị cao nhất trong bốn giai cấp ở Ấn độ cổ, giai cấp học giả. Là giai cấp lũng đoạn tất cả tri thức ở Ấn độ xưa, tự nhận là giai cấp hơn hết trong xă hội.

Bát chánh đạo      Noble Sentier Octuple    Noble Eightfold Path    八正道    Aṣṭāṅgika-mārga
Con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ (sa. duḥkha), là chân lư cuối cùng của Tứ diệu đế.

Bát Chánh Đạo bao gồm:
1. Chánh kiến : Ǵn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lư vô ngă.
2. Chánh tư duy : Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ư nghĩa của bốn chân lư một cách không sai lầm.
3. Chánh ngữ : Không nói dối hay không nói phù phiếm.
4. Chánh nghiệp Tránh phạm giới luật.
5. Chánh mệnh : Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật) như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện.
6. Chánh tinh tiến : Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7. Chánh niệm : Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ư;
8. Chánh định : Tập trung tâm ư đạt bốn định xuất thế gian.


Bát công đức thuỷ          waters with eight attributes    八功德水    
Nước có đầy đủ 8 thứ công đức thù thắng. C̣n gọi là Bát vị thuỷ, Bát chi đức thuỷ, Bát định thuỷ.
Nước trong thế giới Tịnh độ của chư Phật có 8 thứ công đức: Trong trẻo, mát mẻ, đủ các vị ngon, mềm mại, thấm nhuần, an hoà, trừ được đói khát, nuôi lớn thiện căn.

Bát nhă      Sagesse    Wisdom    般若    prajñā
Dịch ư là tuệ, trí tuệ, minh, hiệt tuệ (tuệ sáng). Tức là trí tuệ chân thực nhờ tu tâm chính đạo và quán chiếu (nh́n sâu) vào các pháp mà có. Trí tuệ cao sâu, thấy suốt hết thảy sự vật và đạo lư.

Bát-nhă ba-la-mật          perfection of wisdom    般若波羅蜜    prajñā-paramitā
Trí tuệ đến bờ kia, tức là đại trí tuệ của Bồ-tát, soi rơ thực tướng các pháp, cùng suốt biên tế của hết thảy trí tuệ, vượt bờ sống chết bên này mà qua đến bờ Niết-bàn bên kia.

Biến dị sinh tử              變易生死    
Chỉ cho sự tự do tự tại lựa chọn sống chết của bậc thánh nhân và bồ-tát đă siêu việt luân hồi, c̣n gọi là Vô vi sinh tử, Bất tư ngh́ biến dị sinh tử, Biến dịch thân…
Chư vị A-la-hán, Bích-chi Phật cùng với hàng Bồ-tát đại lực, lấy “hữu phân biệt nghiệp” vô lậu làm nhân, Vô minh trụ địa làm duyên, mà chiêu cảm được quả báo thân thù thắng vi diệu vượt ngoài tam giới. Thân quả báo này, do sức mạnh bi nguyện vô lậu, trước hết cải chuyển thân thô phân đoạn sinh tử thành ra thân vô hữu h́nh sắc vi diệu, hạn định thọ mạng... cho nên gọi là biến dị thân; lại do định lực vô lậu, nguyện lực trợ cảm, diệu dụng khó lường, cho nên gọi là bất tư ngh́ thân; lại nữa, thân này là dùng ư nguyện đại bi mà thành, nên gọi là ư thành thân, vô lậu thân, siêu việt tam giới thân; lại nữa, thân này do định lực vô lậu mà chuyển thành, vốn đă khác với thân thô phân đoạn của nó trước đây, giống như do biến hoá mà được, nên gọi là biến hoá thân.
A-la-hán, Bích-chi Phật cùng với Bồ tát đại lực đă đoạn hết phiền năo hoặc chướng của Tứ trụ địa, không c̣n trở lại thọ thân phân đoạn sanh tử trong tam giới, v́ đă thọ thân biến dị ngoài tam giới, nhưng quư Ngài lại dùng cái thân biến dị này để hồi nhập vào trong tam giới, trải qua thời gian dài tu Bồ tát hạnh, nhằm đến quả vị Vô thượng bồ-đề.
Căn cứ Pháp tướng tông, có bốn hạng người có thể thọ quả báo thân biến dị sinh tử, đó là: 1, Hàng Thánh giả vô học của Nhị thừa đă hồi tâm về với Đại thừa, sau khi đắc Niế- bàn, th́ có thể trực tiếp thọ quả báo thân biến dị. 2, Hàng Thánh giả hữu học chuyển hướng Đại thừa, sau khi đến vị trí sơ địa cũng được thọ thân biến dị. 3, Hàng Bồ-tát phát triển ḷng bi, từ hàng bát địa trở lên, thọ thân biến dị này. 4, Hàng Bồ-tát phát triển nhất thiết trí, từ sơ địa trở lên, thọ thân biến dị này.
Pháp tánh tông th́ cho rằng, Vô học nhị thừa và Chủng tánh Bồ-tát trở lên, đắc tuỳ ứng mà thọ thân biến dị.
Cứ Tam luận tông, Gia tường đại sư Cát Tạng, trong Thắng man bảo quật, quyển trung, nói: Biến dị sinh tử và Phân đoạn sinh tử khác nhau ở chỗ: Thân phân đoạn sinh tử có đầy đủ sắc h́nh sai khác và hạn định thọ mạng dài ngắn; c̣n thân biến dị sinh tử do niệm niệm tương tục của tâm thức mà trước biến sau khác, thân đó, h́nh sắc và thọ mạng đều không có hạn định.
Đại thừa nghĩa chương, quyển 8, cũng nêu lên ba nghĩa của biến dị sinh tử, tức là: 1, lấy cái sinh diệt vi tế làm thành biến dị sinh tử. 2, lấy thân pháp tính duyên với vô lậu mà đạt được biến thành thân biến dị sinh tử. 3, Pháp thân Như lai tạng thực chứng.
Đại thừa nghĩa chương, quyển 8, lại đem biến dị sinh tử phân ra làm hai loại: 1, Biến dị sinh tử của thức, tức báo thân thọ được do lục thức duyên với vô lậu pháp. Có ba, thân của A-la-hán và Bích-chi Phật, thân của hàng Chủng tính giải hạnh, và thân của Bồ-tát sơ địa trở lên. 2, Biến dị sinh tử của vọng thức, báo thân thọ được do thức thứ bảy (A-đà-na thức) duyên với pháp vô lậu. Cũng có ba, thân của Bồ-tát trước khi lên sơ địa, thân của Sơ địa trở lên, và thân của Bát địa trở lên.

Biệt báo           distinct karmic reward    別報    
Quả báo riêng biệt; c̣n viết là Măn nghiệp. sự vận hành liên quan đến hiện nghiệp phát sinh tương đối nhanh thành nhiều chi tiết khác nhau giữa các loài chúng sinh, như sự khác nhau của người sinh ra được giàu có và người nghèo, đẹp và xấu... Điều này khác xa với quả báo chung, như chủng tộc người được sinh ra... , gọi là Tổng báo. C̣n có nghĩa tương tự là Y báo.

Biệt báo nghiệp          particularizing karma    別報業    
Xem "Biệt báo"

Biệt cảnh           distinct states; special objects    別境    vibhāvanā
Là ư tưởng, hay tâm hành sinh khởi tùy theo nhiều đối tượng hoặc nhân duyên mà tâm thức hướng đến. Một loại Tâm sở hữu pháp đặc biệt sinh khởi không nhất thiết thông qua các thức mà chỉ tùy thuộc nhiều vào "Tâm vương" trong những hoàn cảnh đặc biệt là: loại tâm sở hữu pháp chỉ ghi nhận những đối tượng đặc biệt. Bổ sung cho Tâm sở biến hành. Theo Pháp tướng tông, nhóm phần tử nầy rơi vào phạm trù chung "Tâm sở". Biệt cảnh bao gồm 5 phần tử, đó là: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.

Biệt cảnh tâm sở               別境心所     
Xem "Biệt cảnh"

Biệt giải thoát luật nghi vô biểu              別解脫律儀無表    prātimokṣa-saṃvara
Nhờ sự xa lánh tội lỗi nơi thân, khẩu của riêng từng giới mà đạt được thể vô biểu. Như đệ tử Phật nhờ thọ tŕ các phẩm bậc giới luật, 5 giới, 10 giới, 250 giới, 348 giới, v.v… mà đạt được thể vô biểu.

Biệt giáo       Enseignement particulier    Separate teaching    別教    
Một trong bốn giáo hoá pháp: Tạng, Thông, Biệt, Viên, do tông Thiên Thai thành lập. Giáo lư riêng của Nhất thừa. Khía cạnh siêu việt của Nhất thừa, hoàn toàn siêu việt cả ba thừa.
Biệt giáo tuyên nói ư chỉ trong các kinh Đại thừa riêng cho hàng Bồ tát, như kinh Hoa nghiêm v.v...

Biệt tướng      Caractéristique particulière    Distinctive characteristics    別相    bheda
Tiếng riêng, một trong hai tướng, đối lại với "Tổng tướng". Hết thảy các pháp đều vô thường, vô ngă, đó là tổng tướng, tức là tướng trạng tổng quát. Nhưng, hết thảy các pháp cũng đều có tướng đặc thù riêng, như ẩm ướt là tướng của nước, cứng chắc là tướng của đất, nóng là tướng của lửa v.v... đó là biệt tướng.

Căn bản phiền năo              根本煩惱    mūla-kleśa
C̣n gọi Bản hoặc, Căn bản hoặc. Gọi tắt là Phiền năo.
Chỉ cho 6 loại phiền năo có gốc rễ từ nhiều đời nhiều kiếp, nằm sâu trong tâm thức của chúng sinh, rất khó đoạn trừ, đó là tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến. Trong đó, ác kiến lại được phân ra làm 5 loại, gọi là Ngũ lợi sử, c̣n 5 phiền năo kia gọi là Ngũ độn sử. Hợp cả hai lại gọi chung là 10 phiền năo, 10 sử hay 10 tuỳ miên. Ngoài ra, căn cứ sự có mặt của nó trong 3 cơi người ta cộng chung lại thành 88 sử hoặc 98 sử.
Những phiền năo phát sinh từ căn bản phiền năo, cũng có tác dụng làm ô nhiễm tâm và ô nhiễm tâm sở, được gọi là Tuỳ phiền năo hay Tuỳ hoặc (những phiền năo phụ thuộc).

Cảnh giới              境界    Viṣaya
1. Đối tượng của cảm giác, của nhận thức nhờ sáu thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư.
2. Thật tướng của các pháp được các bậc tu chứng nh́n thấy, chứng nghiệm được, gọi là cảnh giới giác ngộ. Mỗi người tuỳ theo chỗ tu tập của ḿnh mà đạt được một cảnh giới riêng nhất định mà người chưa giác ngộ, hoặc giác ngộ chưa tới, không thể cảm nhận được. Cũng khó thể chia sẻ cho người khác biết được cảnh giới giác ngộ của ḿnh, bởi ngôn ngữ không thể diễn tả một cách trung thực và toàn vẹn những ǵ người giác ngộ chứng nghiệm được.
Kinh Vô lượng thọ ghi: "Tỳ kheo bạch Phật: Ư nghĩa này quá sâu rộng, không phải cảnh giới của con". Kinh Nhập lăng già, ghi: "Trí chứng được bên trong Ta c̣n bỏ, th́ vọng giác đâu phải là cảnh giới".

Cận phần định              近分定    sāmantaka-samādhi
phương tiện nhập môn cho tám Định căn bản.
Định căn bản có tám loại: Tứ tĩnh lự (Tứ thiền) và Tứ vô sắc định, cho nên Cận phần định cũng có tám loại.


Cận sự nam               優婆塞     Upāsaka
Tức ưu-bà-tắc, cư sĩ nam, Phật tử tại gia đă quy y Tam bảo và thọ tŕ năm giới, luôn gần gũi, thân cận hộ tŕ Tam bảo nên gọi là Cận sự.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22