Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Không tuệ              空慧    
Trí tuệ quán chiếu lư không của các pháp, tức là tuệ giác có được nhờ chứng nhập tánh không của các pháp.

Không vô biên xứ      Sphère de l'infini de l'espace    Sphere of the infinity of space    空無邊處    Ăkăsanantăyatana
Tầng trời thứ nhất trong 4 tầng trời của cơi Vô sắc. Chúng sinh ở cơi này v́ nhám chán h́nh sắc nên không có sắc uẩn, chỉ có 4 uẩn thọ, tưởng, hành, thức.

Kiến đạo              見道    darśana-mārga、dṛṣṭi-mārga
C̣n gọi là Kiến đế đạo, Kiến đế. Là một trong những kết quả của sự tu học, đưa người tu đến một vị trí trong ḍng Thánh quả. Kiến đạo, Tu đạo, và Vô học đạo được gọi là Tam đạo.
Nhờ quán chiếu Tứ diệu đế ngay trong đời hiện tại mà đạt được trí tuệ không phiền năo (Trí vô lậu), gọi là Kiến đạo. Đây là giai vị tu hành quán chiếu và thấy được lư Tứ đế. Người trước khi Kiến đạo th́ gọi là phàm phu, khi thấy được Bốn sự thật, gọi là Kiến đạo, từ đó về sau đă trở thành Thánh giả.
V́ Kiến đạo nên các phiền năo được đoạn trừ, cho nhên những phiền năo được đoạn trừ trong giai đoạn này được gọi là Kiến hoặc.
Sau khi Kiến đạo, đối với sự tướng, hành giả phải tiếp tục nỗ lực tu tập cụ thể, gọi là Tu đạo.
Phật giáo Nguyên thuỷ gọi những Thánh giả Dự lưu hướng (hướng đến, trên đường đi đến quả Dự lưu) là Kiến đạo. Phật giáo Phát triển gọi những vị Sơ địa là Kiến đạo.

Kiến hoặc              見惑    darśana-mārga-prahātavyānuśaya
Gọi đủ là Kiến đạo sở đoạn hoặc. Cũng gọi là Kiến phiền năo, Kiến chướng. Chỉ cho những phiền năo được đoạn diệt khi tiến lên giai vị Kiến đạo, tức là khi thấy chân lư, thấy Bốn sự thật (tứ đế) th́ những phiền năo này được đoạn trừ. Gồm 10 thứ: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến (xem mục Ngũ lợi sử), Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi (xem mục Ngũ độn sử). 10 thứ phiền năo, kiến hoặc này c̣n được gọi là Thập sử.
Theo Luận Câu-xá, trong ba cơi đều có những Kiến hoặc, và đều nhờ sự quán chiếu, giác ngộ về Tứ diệu đế mà đoạn trừ, mỗi cơi có nhận thức chưa đúng đắn về Tứ diệu đế khác nhau, nên phát sinh những kiến hoặc khác nhau, tổng cộng trong ba cơi có 88 phần phiền năo, gọi là 88 sử kiến hoặc.
Ở Dục giới cần phải đoạn trừ tất cả 32 sử, đó là: 10 sử (5 lợi sử và 5 độn sử) nơi Khổ đế; 7 sử nơi Tập đế và Diệt đế (trừ thân kiến, biên kiến và giới cấm thủ kiến); 8 sử nơi Đạo đế (trừ thân kiến, biên kiến). Ở Sắc giới và Vô sắc giới hoàn toàn không có sân hận, nên 10 sử chỉ c̣n lại 9 sử, vị chi trong Tứ đế tổng cộng có 56 sử cần phải đoạn trừ như sau: 9 sử nơi Khổ đế, 6 sử nơi Tập đế, 6 sử nơi Diệt đế, 7 sử nơi Đạo đế.

Kiến phần                  
Kiến phần : Chủ thể nắm bắt (grāhaka: năng thủ) đối tượng là kiến phần.
Kiến phần c̣n gọi là Năng thủ phần, là tác dụng năng duyên của 8 thức tâm vương, là chủ thể nhận biết sự vật ; cũng là tác dụng chủ thể soi sáng các đối cảnh sở duyên (tức Tướng phần – đối tượng của nhận thức).
Kiến là thấy biết, là công năng phân biệt nhận biết của thức khi tiếp xúc đối tượng, cảnh tướng, như tấm gương chiếu rọi muôn vật. Ví dụ, nhăn thức th́ phân biệt và nhận biết sắc, nhĩ thức th́ phân biệt và nhận biết âm thanh, tỷ thức th́ phân biệt và nhận biết mùi hương…
Kiến phần có 5 nghĩa :
- Chứng kiến danh kiến : Kiến phần của trí căn bản, nghĩa là trí căn bản tự thấy chứng, tự thấy nên gọi là Kiến.
- Chiếu chúc danh kiến: Nghĩa này thông cả căn, tâm (tức 6 căn 6 thức), v́ căn, tâm có đủ nghĩa soi sáng nên gọi là Kiến.
- Năng duyên danh kiến: Nghĩa này thông cả Tự chứng phần,Chứng tự chứng phần và Tự chứng phần năng duyên, v́ 3 phần này đều là năng duyên nên gọi là Kiến.
- Niệm giải danh kiến: Hiểu và nhớ được nghĩa lí nói ra một cách rơ ràng nên gọi là Kiến.
- Suy đạc danh kiến: V́ tâm có khả năng suy lường tất cả cảnh giới nên gọi là Kiến.

Kiến sở đoạn              見所斷    darśana-prahātavya
Sự ô nhiễm được diệt trừ do sự thấy chân lư.
Ngay khi đạt đến điểm cao của sự quán sát về bốn Thánh đế, một cách trực tiếp, và liên tục, mười sáu sát-na tâm khởi lên, nhận thức bản chất hiện thực trong bốn Thánh đế. Đó là giai đoạn vào kiến đạo, chứng Dự lưu hướng (Śrota-āpatti-pratipannaka). Ở đây, những phiền năo ô nhiễm hoạt động do ảnh hưởng nhận thức sai lầm về bản chất tồn tại được diệt trừ. Những phiền năo ấy được gọi là phiền năo kiến sở đoạn hay kiến sở đoạn hoặc (darśanaprahātavya-kleśa). Đó cũng gọi là những phiền năo do mê lư.
Về tác nhân tâm lư ô nhiễm chủ yếu, tức căn bản phiền năo hay tùy miên (kleśa, anuśaya), có sáu: tham (rāga), sân (pratigha), mạn (māna), vô minh (avidyā), kiến (dṛṣṭi) và nghi (vicikitsā). Trong đó, kiến hay quan điểm triển khai thành 5: hữu thân kiến (satkāyadṛṣṭi), tà kiến (mithyadṛṣṭi), biên chấp kiến (antagrāha-dṛṣṭi), kiến thủ kiến (dṛṣṭiparāmarśa-dṛṣṭi), giới cấm thủ (śīlavrataparāmarśa-dṛṣṭi). Mười phiền năo này, do tác động bởi nhận thức sai lầm về bốn Thánh đế trong ba giới tồn tại khác nhau nên chúng hoạt động như là 88 chức năng tâm lư khác nhau. Phân bố như sau: A. Dục giới, 1. Mê lầm khổ đế, có đủ 10 phiền năo; 2. Mê tập đế, có 7 (trừ thân kiến, biên kiến, giới cấm thủ); 3. Mê diệt đế, có 7 (như tập đế), 4. Mê đạo đế có 8 (trừ thân kiến, biên kiến). Cộng: 32. Sắc và Vô sắc giới đều có 28 (trong mỗi đế trừ sân). Tổng cộng 88. Tất cả dứt sạch một lần khi nhận thức được bốn Thánh đế, gọi là Kiến sở đoạn hay Kiến đạo sở đoạn.

Kiên cố lâm              堅固林    Śāla
Rừng cây Sa-la, c̣n gọi là Kiên lâm, Song thọ lâm, Hạc lâm. Theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3, th́ cây Sa-la vốn không tàn rụi sơ xác trong cả bốn mùa, v́ vậy mà dịch là Kiên cố.

Kim cang thừa              金剛乘    Vajra-yāna
C̣n gọi là Đăn-đặc-la phái (Tāntrika), Mật giáo.
Một trường phái tu học có ít nhiều ảnh hưởng Phật giáo, hoặc là một loại h́nh Phật giáo bị biến thái v́ những lư do nội tại lẫn ngoại tại. Một trường phái h́nh thành từ những vay mượn giáo lư Phật giáo và những tín ngưỡng dân gian cùng những tôn giáo ngoại đạo khác, tạo thành một hệ thống tín ngưỡng phức tạp, xa rời Phật giáo chính thống.
Kim cang thừa hay Mật giáo lấy Mật pháp và Chú pháp của Veda trong Hậu kỳ Bà-la-môn giáo làm ư nghĩa trọng yếu, h́nh thành vào khoảng thế kỷ đầu Tây lịch, đến thế kỷ thứ 5, thứ 6 Tây lịch lại h́nh thành thêm Ấn khế (mudrā) và Mạn-đà-la (maṇḍala).
Cơ sở để Mật giáo xác lập là Kinh đại nhậtKinh Kim cang đỉnh xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ thứ 7 Tây lịch. Bấy giờ, Mật giáo lấy Đại Nhật Như Lai (Mahāvaircana) làm chủ và thêm vào Đại Uy Đức Minh Vương (Yamāntaka), Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Amogha-pāśa) làm Chư tôn đặc hữu, đồng thời lấy Phật giáo truyền thống và chư tôn của Bà-la-môn giáo kết hợp tổ chức thành hệ thống hoá Mạn-đà-la, chế định các nghi thức, sử dụng Ấn khế và Minh chú để tổ chức trong các nghi quỹ.
Xem bài chi tiết ở đây


Lưỡng túc tôn              兩足尊    Dvipadottama
Cũng gọi Vô thượng lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn.
Tôn hiệu của đức Phật. Đấng có đầy đủ phước đức và trí tuệ, hiểu và thực hành đi đôi (giải hạnh tương ưng).
Ngoài ra, v́ Phật có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, thành tựu các pháp vô học vô lậu như Tận trí, Vô sinh trí và các pháp bất cộng như 10 lực, 4 vô sở uư, nên tôn xưng Ngài là bậc tôn quư nhất trong các loài chúng sinh 2 chân ở cơi người và cơi trời.

Lậu      infections     Leak    漏    Āsrava
Tên khác của phiền năo. Nghĩa đen của chữ 'lậu' có nghĩa ṛ rỉ, tiết ra ngoài. V́ chúng sinh sống trong phiền năo, cho nên từ 6 căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... thường tiết ra những tội lỗi, khiến phải sống chết trôi lăn trong 3 cơi, do đó mà phiền năo được gọi là Lậu.

Lục đạo      six mauvaises voies    six destinies    六道    
Cũng gọi Lục thú.
Sáu đường mà chúng sinh đi tới để thụ sinh tuỳ theo nghiệp đă tạo.
1. Địa ngục.
2. Ngạ quỷ.
3. Súc sinh.
4. A tu la.
5. Người.
6. Trời.
Trong 6 đường này, 3 đường trước gọi là 3 đường ác, 3 đường sau gọi là 3 đường lành.

Lục căn      Six portes sensorielles    Six sense-organs    六根    Ṣaḍ indriyāṇi
Căn là h́nh thể của sự sống.
Có sáu căn:
1. Mắt (nhăn),
2. Tai (nhĩ),
3. Mũi (tỹ),
4. Lưỡi (thiệt),
5. Thân,
6. Ư


Lục dục thiên              六欲天    
Trong ba cơi, Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, th́ Dục giới có tất cả sáu tầng trời, gọi là Sáu tầng trời cơi Dục, gồm : Tứ vương thiên, Đao-lợi thiên, Dạ-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hoá lạc thiên và Tha hoá tự tại thiên.

Cộng đồng của sáu cơi trời này đều có chung một đặc chất đó là hưởng thụ dục lạc.

Tứ vương thiên và Đao-lợi thiên ở trên đỉnh núi Tu-di, nên gọi là Địa cư thiên. Bốn cơi trời c̣n lại trụ giữa hư không, ẩn trong mây, nên gọi là Không cư thiên.

1. Tứ vương thiên, Catur-mahārājika-devāḥ, c̣n gọi là Tứ đại vương thiên, Tứ thiên vương thiên. Bốn cơi trời này nằm ở bốn phía của núi Tu-di. Mỗi cơi trời có một vị vua, phía Đông là Tŕ quốc thiên, phía Nam là Tăng trưởng thiên, phía Tây là Quảng mục thiên, phía Bắc là Đa văn thiên; bốn thiên vương này thống lănh thiên chúng.
Bao quanh núi Tu-di c̣n có bảy lớp núi vàng, và mỗi núi cũng có bốn vị thiên vương cai quản thiên chúng bốn phía, cho nên, trong các tầng trời cơi Dục th́ Tứ vương thiên rộng lớn hơn cả.
Tứ vương thiên cách mặt nước biển bốn vạn do-tuần, cách trời Đao-lợi cũng bốn vạn do-tuần.
Về mặt thời gian th́ cứ một ngày một đêm của cơi trời này bằng năm mươi năm ở cơi nhân gian. Thọ mạng của họ là 500 tuổi.

2. Đao-lợi thiên, Trayastriṃśat-deva. Đao-lợi là dịch âm của từ Trayastriṃśat, dịch ư là tam thập tam. Deva là thiên. Đao-lợi thiên c̣n gọi là Tam thập tam thiên, bởi tầng trời này gồm có ba mươi ba cơi nằm trên đỉnh núi Tu-di. Đế-thích là chúa tể của ba mươi ba tầng trời này, trụ ở trung ương, trong thành Thiện kiến, bốn phía c̣n lại, mỗi phía có tám tầng trời (gọi là bát thành).
Bốn góc của đỉnh núi có bón ngọn núi cao 500 do-tuần, do Kim cang thủ dược-xoa cư trú bên trong để bảo hộ chư thiên. Đế-thích thiên cư trú trong thành Thiện kiến, bên ngoài thành bốn mặt đều có vườn ngự uyển, đó là nơi dân chúng cơi trời vui chơi.
Đao-lợi thiên cách mặt biển lớn tám vạn do-tuần, cách Dạ-ma thiên cũng tám vạn do-tuần.
Tuổi thọ của dân chúng cơi trời này là một ngàn năm. Một ngày đêm của cơi trời này bằng một trăm năm của cơi nhân gian.

3. Dạ-ma thiên, Suyamā-deva, c̣n gọi là Thiện thời thiên, Thời phần thiên. Cơi trời này nằm giữa hư không, cách mặt biển 16 vạn do-tuần, cách cơi trời Đâu-suất 16 vạn do-tuần, thường hưởng thọ khoái lạc. Một ngày một đêm ở cơi này bằng 200 năm ở cơi nhân gian, tuổi thọ hai ngàn tuổi.

4. Đâu-suất thiên, Tuṣita-deva, c̣n gọi là Tri túc thiên. Cơi trời này nằm giữa hư không, cách mặt biển 32 vạn do-tuần, cách cơi Hoá lạc cũng 32 do-tuần. Đối với năm dục, thiên chúng cơi này biết đủ và dừng lại, không mong cầu thêm nữa. Một ngày đêm ở cơi này bằng 400 năm ở cơi nhân giân, tuổi thọ 4000 ngàn tuổi.

5. Hoá lạc thiên, Nirmāṇarati-deva, cơi này nằm giữa hư không, cách mặt biển 64 vạn do-tuần, cách cơi Tha hoá tự tại cũng 64 vạn do-tuần. Dân chúng cơi này thường tự biến hoá ra năm thứ dục trần để tự vui thích. Một ngày đêm ở cơi này bằng 800 năm ở cơi nhân gian, tuổi thọ 8000 tuổi. Nam nữ nh́n nhau mỉm cười là thoả măn dục vọng, không cần xúc chạm hay giao hợp.

6. Tha hoá tự tự thiên, Paranirmitavaśavatin-deva, tức Ma vương thiên, thường biến hoá, giả dạng người khác để tự tại hưởng thụ dục lạc. Cơi này nằm giữa hư không, cách mặt biển 120 vạn do-tuần. Một ngày đêm ở cơi này bằng 1600 năm ở cơi nhân gian, thọ mạng một vạn sáu ngàn tuổi.

Chúng sanh ở sáu tầng trời cơi dục đều do giữ giới, tu tập thiền định thế gian hoặc hành thập thiện mà sanh về đó.


Lục ḥa          Six points of harmony    六和    
Sáu phương pháp của đức Phật dạy cho Tăng chúng cư xử ḥa hợp với nhau trong tổ chức :
1. Thân ḥa đồng trụ: Sống chung với nhau vui vẻ.
2. Khẩu ḥa vô tranh: Lời nói nhu hoà, không tranh căi.
3. Ư ḥa đồng duyệt: Tâm ư luôn vui vẻ với nhau, không phải vui bề ngoài.
4. Giới ḥa đồng tu: Cùng nhau giữ ǵn giới pháp, bảo vệ cho nhau, che chở cho nhau, không để ai phạm giới.
5. Kiến ḥa đồng giải: Vui vẻ chia sẻ hiểu biết cho nhau, cùng nhau thảo luận Phật pháp trong tinh tần cầu học.
6. Lợi ḥa đồng quân: Chia đều cho nhau những lợi ích có được, không giữ cho riêng ḿnh.

Lục thức              六識    
1. Nhăn thức
2. Nhĩ thức
3.Tỷ thức
4.Thiệt thức
5. Thân thức
6. Ư thức.

Lục thành tựu              六成就    
Cũng gọi là Lục chủng thành tựu.
Các kinh Phật nói đều được mở đầu bằng phần Tựu chung: "Như thị ngă văn nhất thời Phật tại... dữ chúng tỳ kheo..." (Như vậy tôi nghe một thời Phật ở tại... cùng với chúng tỳ kheo...), căn cứ vào phần Tựa chung này mà 6 thứ thành tựu được thiết lập, đó là:
1. Tín thành tựu (Như thị): Tức chỉ cho sự tin tưởng của tôn giả A nan. Biển lớn Phật pháp chỉ có ḷng tin mới vào được, tin nhận pháp ấy là do đức Phật nói mà không c̣n nghi ngờ.
2. Văn thành tựu (ngă văn): Chính tôn giả A nan nghe đức Phật thuyết pháp, chứ không phải nghe ai nói lại.
3. Thời thành tựu (nhất thời): Chỉ cho thời gian thuyết pháp. Khi đấng Pháp vương mở ra pháp hội, chúng sinh nào có nhân duyên mà cảm được, th́ Phật liền hiện thân đáp ứng, cảm và ứng cùng lúc, không mất thời cơ.
4. Chủ thành tựu (Phật): Chỉ cho người thuyết pháp. Phật là bậc chủ tŕ việc thuyết pháp giáo hoá thế gian và xuất thế gian.
5. Xứ thành tựu (tại): Chỉ nơi thuyết pháp, một địa điểm rơ ràng, có thật, kiểm chứng được, chứ không phải nói ở đâu đó mà con người không biết, không kiểm chứng được.
6. Chúng thành tựu (chúng): Chỉ cho chúng nghe pháp, là những người mà ai cũng biết.

Lục thông              六通    ṣaḍ abhijñāḥ
Sáu phép thần thông, biểu hiện năng lực trí tuệ của chư Phật và Bồ tát.
1. Thân như ư thông, Phạm ṛiddhi viṣaga-jñānaṃ, c̣n gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ư muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi... tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ư muốn, không hề chướng ngại.
2. Thiên nhăn thông, Phạm divyaṃ-cakṣuḥ-jñānaṃ: nh́n thấy tất cả mọi h́nh sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nh́n thấy mọi h́nh tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
3. Thiên nhĩ thông, Phạm divyaṃ-śrotraṃ-jñānaṃ: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
4. Tha tâm thông, Phạm paracitta-jñānaṃ: biết hết tất cả mọi ư nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
5. Túc mệnh thông, Phạm purvanivasānusmṛiti-jñānaṃ, c̣n gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân ḿnh và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rơ, nhớ rơ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên ǵ, làm ǵ...
6. Lậu tận thông , Phạm āsravakṣaya-jñānaṃ: lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cơi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cơi, không c̣n sinh tử luân hồi trong ba cơi, được giải thoát hoàn toàn.
Căn cứ Luận câu xá quyển 27, trong 6 phép thần thông trên, 5 phép thần thông đầu th́ mọi người đều có thể đạt được, duy nhất phép thần thông thứ 6 th́ chỉ có những bậc thánh mới có thể đạt được.

Lục trần          six data fields    六塵    guṇas
Cũng gọi Ngoại trần (bụi bên ngoài), Lục tặc (sáu tên giặc bên ngoài).
Đó là sáu cảnh: Màu sắc, Âm thanh, Mùi hương, Vị ngon ngọt, Xúc chạm dịu êm, và các Pháp. Sáu trần cảnh này như bụi bặm làm nhơ bẩn chân tính, ô nhiễm tâm linh, nên gọi là Trần. V́ 6 trần này ở bên ngoài tâm, nên gọi là Ngoại trần. V́ chúng giống như bọn trộm cướp, chiếm đoạt tất cả pháp lành nên gọi là Lục tặc.

Liễu đạt              了 達    
Hiểu rơ một cách triệt để. Biết rơ, thấu rơ. Liễu ngộ thông đạt cả sự và lư.
Mật Am ngữ lục ghi: "親 悟 親 證、 了 達 三 祇 劫 空、 不 被 諸 塵 所 轉" – Tự ḿnh ngộ lấy, tự ḿnh chứng lấy, thấu rơ ba tăng ḱ kiếp rỗng không, chẳng bị trần cảnh khuấy động.
Pháp hoa kinh, Đề-bà-đạt-đa phẩm, ghi: 'Thâm nhập thiền định, thấu rơ các pháp'.
Hoa nghiêm kinh, quyển 37, ghi: 'Thấu rơ ba cơi đều do tâm mà có, 12 nhân duyên cũng như vậy'.

Liễu nghĩa              了義    nītārtha
Nghĩa của các pháp được trực tiếp hiển bày một cách rơ ràng.
Giáo lư của đức Phật được trực tiếp tŕnh bày một cách rơ ràng, tường tận, gọi là Liễu nghĩa giáo. Như các kinh Đại thừa nói sinh tử, niết bàn không hai, không khác. Những kinh điển nói đạo lư này, gọi là kinh Liễu nghĩa, do đức Phật nói.



Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22