Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Trạo hối cái              掉悔蓋    auddhatya-kaukṛtya-āvaraṇa
Một trong 5 triền cái (5 thứ phiền năo).
Trạo cử chỉ cho tâm dao động bất an; Hối là tâm hối hận lo buồn đối với việc đă làm. V́ 2 thứ phiền năo này làm cho tâm mất yên tĩnh, thường gây chướng ngại Thánh đạo, cho nên gọi là Cái (che lấp). Hợp chung 2 phiền năo Trạo cử và Truy hối làm một cái, v́ thường làm chướng ngại thiền định, cho nên gọi Trạo hối cái.

Trầm thủy               沈水    agaru, aguru, kālāguru, kṛṣṇāgaru
Tức trầm thủy hương, trầm hương. Loại cây này gỗ rất thơm, bỏ vào nước th́ ch́m, nên gọi là trầm thủy.

Trần sa              塵沙    
Gọi đủ là Trần sa hoặc. Là 1 trong 3 thứ phiền năo: Kiến tư hoặc, Vô minh hoặc và Trần sa hoặc, gọi chung là Tam hoặc.
Trần sa hoặc là một thứ phiền năo làm trở ngại trí tuệ nhận thấy sự việc thuộc chân lư thế tục, khiến cho Bồ tát giáo hoá chúng sinh cảm thấy không được tự tại. Nó có mặt trong và ngoài ba cơi, phải dùng phương pháp 'giả quán', một trong ba pháp quán, mới có thể phá trừ được nó. Phiền năo này nhiều vô số lượng, nhiều hơn số cát ở sông Hằng, cho nên gọi là Trần sa hoặc. Bởi v́ phiền năo này có khả năng làm trở ngại sự giáo hoá của Bồ tát, khiến không được tự do, tự tại nên c̣n có tên là Đạo chướng hoặc.

Triền              纏    paryava-sthana
Tên gọi khác của phiền năo, có nghĩa là trói buộc, ràng buộc.
V́ phiền năo có năng lực trói buộc và khiến cho thân tâm của con người không được tự tại, nên gọi là triền.

Triền cái              纏蓋     
Triền là trói buộc, ràng buộc, quấn chặt.
Cái là che đậy, che lấp, phủ mờ.
Triền cái là tên gọi chỉ cho các phiền năo có khả năng trói buộc và che mờ tâm tính. Thường th́ chỉ cho năm thứ phiền năo: tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử và nghi ngờ, gọi là ngũ triền cái.

Tu đạo              修道    bhavanā-mārga
Tu đạo, Tiếng Phạm là bhavanā-mārga, c̣n gọi là Hữu học đạo. Là giai đoạn thứ hai trong ba giai đoạn tu tập (Tam đạo: Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo).
Sau khi đoạn trừ hoàn thành tất cả mọi phiền năo, mê lầm về mặt lư luận (tức Kiến hoặc, những kiến thức sai lầm), chứng vị Kiến đạo, hành giả sẽ tiến đến giai đoạn tu tập để đoạn trừ tất cả các phiền năo, mê hoặc nơi sự tướng (tức Tu hoặc, những phiền năo như tham, sân, si, mạn, nghi), gọi là Tu đạo.
Tuỳ theo tŕnh độ và năng lực tu hành của mỗi người mà phân ra nhiều giai đoạn Tu đạo khác nhau.
Theo Phật giáo Tiểu thừa, sau khi đạt được địa vị Kiến đạo, phát khởi được trí tuệ không c̣n phiền năo (Trí vô lậu), sơ chứng chân lư Tứ diệu đế, và ở trong chân lư này mà nỗ lực tu tập thêm lên, gọi là giai đoạn Tu đạo. Cuối cùng của quá tŕnh Tu đạo là đoạn trừ hết 81 phẩm phiền năo trong 3 cơi. Trong Tứ hướng Tứ quả (tức 4 giai đoạn hướng đến 4 quả Thánh và 4 quả Thánh), Tu đạo đương với Dự lưu quả, Nhất lai hướng (hướng đến, đi đến quả vị Tư đà hàm), Nhất lai quả, Bất hoàn hướng (hướng đến, đi đến quả vị A na hàm), Bất hoàn quả, A la hán hướng (hướng đến, đi đến của vị A la hán).
Theo Phật giáo Đại thừa, sau khi khi chứng Sơ địa trụ tâm cho đến quả vị Kim cang vô gián đạo của Thập địa là giai đoạn Tu đạo.

Tu hoặc              修惑    bhāvanā-mārga-prahātavya-kleśa

Gọi đủ là Tu đạo sở đoạn hoặc. C̣n gọi là Tư hoặc. Chỉ cho những phiền năo như tham, sân... v́ mê lầm nơi sự mà người tu khi đạt đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ được.
Theo Luận Câu-xá, 4 thứ phiền năo tham, sân, si, mạn và vô minh, khi tiếp xúc với các cảnh, sắc, thanh, hương, vị, xúc th́ khởi lên tham đắm, ghét bỏ, kiêu căng và mê muội, gọi là Tu hoặc. Bởi v́ Tu hoặc khởi lên khắp trong 3 cơi 9 địa, do đó rất khó đoạn trừ, cho nên mỗi địa đều chia nhỏ làm 9 phẩm: Thượng thượng, thượng trung, thượng hạ, trung thượng, trung trung, trung hạ, hạ thượng, hạ trung, hạ hạ, tất cả có 81 thứ, gọi là Bát thập nhất phẩm Tu hoặc mà Nhị quả Tư đà hàm, Tam quả A na hàm, Tứ quả A la hán phải lần lượt đoạn trừ.

Tu sở đoạn hoặc              修所斷惑    bhavanamārga-prahātavya-anuśaya
Sự ô nhiễm được diệt trừ do sự tu tập phát triển.
Sau khi đoạn trừ phiền năo nhờ thấy chân lư (Kiến sở đoạn) tiếp tục tu tập, lần lượt diệt trừ các phiền năo do mê sự, được gọi là Tu sở đoạn hoặc (bhāvana-prahātavya-kleśa), và lần lượt chứng các quả Thánh, cho đến diệt trừ hoàn toàn các phiền năo th́ chứng quả A-la-hán (Arhattva-phala). Đại thừa Duy thức, Thành duy thức 9 (Đại 31, tr. 50a 5ff), ghi: «Qua quá tŕnh nỗ lực không ngừng, khi trí vô phân biệt (nirvikalprajñā) phát sinh, nhận thức được chân như (bhūtatathatā), lúc ấy Bồ Tát bước vào giai đoạn thông đạt (prativedhavastha). Do mới bắt đầu soi sáng lư tánh, nên gọi là kiến đạo. Đối tượng quán sát ở đây cũng là bốn Thánh đế, nhưng được quán sát theo nghĩa chân không (śūnyatā) cho nên lư thể của Thánh đế là chân như… Lúc đó Bồ Tát bắt đầu chứng nhập Sơ địa (Pramuditā). Sau đó là giai đoạn tu đạo, trải qua cho hết mười địa.»

Tuệ      Sagesse, Sapience    Wisdom    慧    Prajñā, jñāna
Cũng đọc là Huệ. Âm Hán đọc là Bát nhă.
1. Trí sáng. Lanh lẹ, sinh ra đă có tính sáng láng hơn người gọi là tuệ căn 慧根, có trí sáng láng chứng minh được pháp gọi là tuệ lực 慧力, lấy trí tuệ làm tính mạng gọi là tuệ mệnh 慧命, lấy trí tuệ mà trừ sạch được duyên trần gọi là tuệ kiếm 慧劍, có con mắt soi tỏ cả quá khứ, hiện tại, vị lai gọi là tuệ nhăn 慧眼.
2. Chỉ riêng cho Trí bát nhă: Một thứ trí tuệ thấy rơ thực tướng của các pháp (thấy rơ 5 uẩn là không), tỏ ngộ được tự tính, thấy được tự tâm, đạt đến giác ngộ giải thoát, vượt qua tất cả mọi khổ đau ách nạn.

Tuỳ miên          disposition    隨眠    Anuśaya
Âm thầm đi theo.
Tên khác của phiền năo.
Theo Duy thức tông, Tuỳ miên là tên của hai loại chủng tử phiền năo chướng và sở tri chướng.
Tuỳ có nghĩa là đi theo chúng sanh hữu t́nh, không tách rời chúng sanh hữu t́nh; miên là phiền năo tiềm phục, nằm sâu kín bên trong, vi tế, khó nhận biết, như trạng thái của người đang ngủ. Tuỳ miên là những phiền năo nằm sâu kín bên trong tâm và đi theo chúng sanh hữu t́nh từ đời này qua đời khác.
Phiền năo theo đuổi con người ta làm cho rơi vào trạng thái mờ mịt, nặng nề; trạng thái hoạt động của các phiền năo âm thầm, nhỏ nhiệm khó biết được, cùng với đối cảnh và tâm, tâm sở tương ứng ảnh hưởng lẫn nhau mà thêm lớn mạnh (tuỳ tăng), v́ nó trói buộc (tuỳ phược) con người nên gọi là Tuỳ miên. Có 6 thứ: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, gọi là Lục tuỳ miên (6 phiền năo căn bản). Trong đó, Tham được chia ra Dục tham và Hữu tham thành ra 7 Tuỳ miên. Ác kiến được chia ra Thân kiến, Biên kiến, Tà kiền, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến thành 10 Tuỳ miên. Ngoài ra, những phiền năo này lại thêm những phần nhỏ nhiệm khó thấy, th́ thành 98 thứ Tuỳ miên.

Tuỳ phiền năo              隨煩惱    upakleśā
Những phiền năo phát sinh từ phiền năo căn bản, phụ thuộc phiền năo căn bản. C̣n gọi là Tuỳ hoặc, Chi mạt hoặc.
Căn cứ Luận Câu xá, quyển 21, Tuỳ phiền năo có hai nghĩa:
1. Chỉ cho tất cả các phiền năo theo tâm sinh khởi mà rối loạn, năo loạn chúng sinh hữu t́nh.
2. Chỉ cho các phiền năo khác nương theo phiền năo căn bản mà sinh khởi.
Trong luận này nêu ra 19 thứ Tuỳ phiền năo và chia làm 3 phần:
1. Đại phiền năo địa pháp: Chỉ cho phóng dật (buông thả), giải đăi (lười biếng), bất tín (không tin nhân quả), hôn trầm (mờ tối, nặng nề), và trạo cử (cử chỉ thô động, không yên).
2. Đại bất thiện địa pháp: Chỉ cho vô tàm (không biết thẹn), vô quư (không biết xấu hổ).
3. Tiểu phiền năo địa pháp: Chỉ cho phẫn (giận), phú (che dấu), khan (bỏn sẻn), tật (ganh ghét), năo (buồn bực), hại, hận, siểm (nịnh hót), cuống (nói láo), kiêu (kiêu sa, kiêu căng), thuỵ miên (buồn ngũ) và ác tác (tâm hối hận sau khi làm điều ác).
Cứ theo Luận Thành duy thức, Tuỳ phiền năo có 20 loại, được chia làm 3 loại:
1. Tiểu tuỳ phiền năo: Gồm phẫn, hận, phú, năo, tật, khan, cuống, siểm, hại và kiêu.
2. Trung tuỳ phiền năo: Gồm vô tàm, vô quư.
3. Đại tuỳ phiền năo: Gồm trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đăi, phóng dật, thất niệm, tán loạn và bất chính tri.

Uất kim hương hoa               欝金香華     Kuṅkumaṃ
Hương của hoa Uất kim. Một loài hoa có rễ h́nh cầu, dùng để nấu thuốc nhuộm, hoa để làm hương, mọc ở vùng Kashmir, Bắc Ấn Độ.

Vị định               味定    āsvādana-samādhi, āsvādana-samāpatti
Sự thưởng thức các vị ngọt của các Định, c̣n gọi là Vị đẳng chí. Vị đẳng chí, là khi Định có vị ngọt. Nghĩa là, hành giả đam mê trạng thái hỷ lạc của Định mà ḿnh chứng đắc, bị ngưng trệ trong đó, không tiến lên được.

Vọng tưởng      Illusion    forget thoughts, mistaken thought or conceptualization    妄想    vikalpa
Cũng gọi: Phân biệt, Vọng tưởng phân biệt, Hư vọng phân biệt, Vọng tưởng điên đảo.
Đồng nghĩa: Vọng niệm, Vọng chấp.
Tức phân biệt tướng các pháp với tâm hư vọng điên đảo, cũng có nghĩa là do tâm chấp trước nên không thấy biết được sự vật một cách như thật.

Kinh Lăng già quyển 2 nêu ra 12 thứ vọng tưởng như sau:
1. Ngôn thuyết vọng tưởng: Phân biệt các thứ âm thanh hát xướng, ngâm vịnh, chấp giữ và đắm say chúng, cho rằng chúng có tự tính.
2. Sở thuyết sự vọng tưởng: Những việc mà phàm phu nói ra, xét đến cùng chỗ tự tính của chúng th́ chỉ bậc Thánh mới biết chứ phàm phu không rơ; phàm phi chỉ nương vào các việc ấy mà phát sinh ra lời nói thôi.
3. Tướng vọng tưởng: Tuỳ việc mà khỏi lên cái thấy, đối với tất cả pháp tướng, tính toán, chấp trước một cách hư dối.
4. Lợi vọng tưởng: Đắm trước các thứ tài lợi ở thế gian, v́ không biết rằng những tài lợi ấy là hư dối, nên khởi tâm tham đắm.
5. Tự tính vọng tưởng: Chấp trước các pháp, khởi lên cái thấy có tự tính, rồi cho tự tính ấy là đúng, không phải tự tính ấy là sai.
6. Nhân vọng tưởng: Đối với các pháp do nhân duyên sinh, khởi lên kiến chấp có, không... vọng tưởng phân biệt mà h́nh thành cái nhân của sự sinh tử.
7. Kiến vọng tưởng: Đối với pháp 5 uẩn, sinh khởi các tà kiến chấp trước, phân biệt, có - không, một - khác...
8. Thành vọng tưởng: Đối với giả danh thực pháp, so đó cháp trước Ngă và Ngă sở mà khởi lên ngôn thuyết, thành Quyết định luận.
9. Sinh vọng tưởng: Vọng chấp tất cả pháp, hoặc có hoặc không, đều từ duyên khởi mà sinh phân biệt.
10. Bất sinh vọng tưởng: Vọng chấp tất cả pháp đều có sẵn tự thể, không nhờ nhân duyên mới sinh.
11. Tương tục vọng tưởng: Đối với tất cả các pháp, chấp trước chúng hệ thuộc lẫn nhau, nối tiếp lẫn nhau, không có gián đoạn.
12. Phược bất phược vọng tưởng: Đối với tất cả pháp, v́ t́nh sinh dính mắc, th́ thành trói buộc, nếu ĺa vọng tưởng th́ sẽ không bị trói buộc, phàm phu không rơ, cho nên ở trong chỗ không trói buộc, không cởi mà sinh chấp trước.

Vô ưu thụ              無憂樹    Aśoka
Cây Vô ưu, tức cây A-du-ca, tiếng Phạm là aśoka, tiếng Pāli là asoka: Thực vật họ đậu. C̣n được gọi là cây A-du-kha, A-thúc-ca.
Cây này có tên khoa học là Jonesia asoka. Thân cây thẳng đứng, lá giống lá hoè, hoa màu hồng, rất đẹp. Cây mọc nhiều ở vùng Hi-mă-lạp sơn, Tích lan, Mă lai…
Theo lịch sử Phật giáo, Đức Thích tôn đă đản sinh ở dưới gốc cây này. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả, quyển 1, ghi: “Phu nhân nh́n thấy trong vườn ngự có một cây lớn, tên là Vô ưu, hoa nở rất đẹp và mùi hương rất thơm, cành lá rất tươi tốt, Ngài bèn đưa tay phải lên định hái một đoá hoa, th́ Bồ tát từ từ đản sanh phía bên hông phải”.
Tham khảo thêm: Kinh Đại bát-niết-bàn, quyển 32; Luận Đại trí độ, quyển 10; Đại đường Tây vực kí, quyển 6; Phiên Phạm ngữ, quyển 9; Phiên dịch danh nghĩa tập, quyển 3…

Vô công dụng      Sans effort    Without effort    無功用    An-ābhoga
Hay Vô công, Phạn an-ābhoga, dịch ư là không cần dụng công nữa, tức là không cần phải tạo tác thêm nữa, v́ đă có tác dụng tự nhiên. Cũng có nghĩa là không cần mượn thân, khẩu, ư mà vẫn có thể nắm vững nguyên tắc của đạo một cách tự tại. Từ Bồ-tát Bát địa trở xuống, mặc dù ở trong cảnh giới Chân như, nhưng chưa được tự tại. Từ Bồ-tát Bát địa trở lên, v́ đă thuần khiết vô lậu, nên rất tự tại, gọi là Vô công dụng đạo. Lại nữa, từ Bát địa trở lên đă nắm vững Vô công dụng trí, tự tại lợi sanh, gọi là Vô công dụng địa. Tuy nhiên, nếu căn cứ quả vị Phật mà nói, th́ từ Bát địa trở lên vẫn c̣n thuộc Hữu công dụng, chỉ có quả vị Phật mới là Vô công dụng.

Vô dư niết bàn      Nirvāṇa sans reliquat    Nirvāṇa without remainder    無餘涅槃    Nirupadhiśeṣa-nirvāṇa
C̣n gọi là Vô dư y niết-bàn.
Chỉ cho sự đoạn trừ hoàn toàn phiền năo chướng, diệt hết hoàn toàn quả khổ dị thục h́nh thành thân năm uẩn, hiển hiện niết-bàn hoàn toàn không có chỗ sở y.
Đại trí độ luận, quyển 31, nói: ‘Cảnh giới Vô dư niết-bàn là sự xả bỏ hoàn toàn năm uẩn, năm uẩn không c̣n hoà hợp, vĩnh viễn không c̣n thọ sanh trở lại’.
Đại t́-bà-sa luận, quyển 32, nói: ‘Sự tương tục của sắc thân, tâm, tâm sở pháp hoặc của thân, căn, giác đă đoạn trừ hoàn toàn, mọi phiền năo đă đoạn trừ vĩnh viễn, gọi là Vô dư y niết-bàn giới’.
Vô dư y là chỉ cho sự không c̣n y vào hai thứ: 1, Không c̣n y vào phiền năo (đă sạch hết phiền năo); 2, Không c̣n y sinh thân (không c̣n thân tái sinh).
Trung luận, quyển 3, nói: ‘Diệt hết nghiệp và phiền năo, đạt được tâm giải thoát, không c̣n tàn dư thân thể, tức là đạt Vô dư niết-bàn’.
Du-già sư địa luận, quyển 86, cho biết duyên do v́ sao mà gọi là Vô dư y niết-bàn. Luận nói: ‘Lại nữa, do diệt trừ hoàn toàn ba tướng trạng của các hành nên gọi là Vô dư y niết-bàn. Một là, v́ đă diệt trừ hoàn toàn các hành sinh khởi từ trước; hai là, đă diệt trừ hoàn toàn tự tính hoại diệt của các hành; ba là, đă diệt trừ vĩnh viễn tất cả phiền năo’.
Thành duy thức luận, quyển 13, nói ‘Niết-bàn vô dư y, tức chân như đă xuất ly khổ sinh tử, phiền nào đă hoàn bị diệt tận không c̣n, dư y cũng diệt, mọi thứ khổ bị dập tắt, nên được gọi là Niết-bàn’.



Vô kí      neutre        無記    Avyākrita
Một trong 3 tính. Sự vật có tính thể trung dung, không ghi lại dấu ấn thiện, cũng không ghi lại dấu ấn ác, đồng thời chiêu cảm quả báo thiện hay ác không thể xác định được gọi là Vô kư.
Luận Câu-xá, ghi: 'Vô kư có nghĩa là, không thể xác định được tính chất thiện hay bất thiện. Thuyết khác nói, đối với quả dị thục (vipāka), chúng không xác định, nên gọi là Vô kư'.
Đại thừa nghĩa chương, ghi: 'Có hai cách hiểu về Vô kư. Thứ nhất là, đối với sự phân biệt quả báo, nghiệp này có tính chất trung dung, không thể xác định được quả báo là lạc hay khổ, cho nên gọi là Vô kư. Thứ hai là, đối với nghiệp trung dung, không thể xác định được là thiện hay ác, nên gọi là Vô kư'.

Vô lượng nghĩa xứ tam muội      samadhi du lieu des Sens infinis    The anantanirdeśapratiṣṭhāna samādhi    無量義處三昧    anantanirdeśapratiṣṭhāna-samādhi
Tam muội mà đức Phật đă vào khi Ngài muốn nói kinh Pháp hoa. Vô lượng là rất nhiều pháp môn tu tập, tức vô lượng nghĩa; Nghĩa xứ là chỗ nương của vô lượng nghĩa, tức Thực tướng. Tam muội Tược tướng vô tướng là chỗ sinh ra vô lượng pháp nghĩa, gọi là Vô lượng nghĩa xứ tam muội.

Vô lậu      Sans perturbation mentale        無漏    Anāsravaḥ
Lậu là ṛ rỉ, tên khác của phiền năo. Các phiền năo tham, sân... ngày đêm từ cửa của 6 căn mắt, tai... ṛ rỉ ra không ngừng. Lậu cũng có nghĩa là rơi rớt, lọt xuống, phiền năo có khả năng khiến cho con người lọt xuống 3 đường ác, cho nên gọi là Lậu. Các pháp thanh tịnh, xa ĺa phiền năo nhiễm ô, được gọi là Vô lậu, như Niết bàn, Bồ đề và tất cả pháp có năng lực đoạn trừ phiền năo trong 3 cơi đều thuộc về vô lậu.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22