Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Nhị thừa      deux véhicules    two vehicles    二乘    paramārtha-yāna
Thừa (yāna), là công cụ vận chuyển như xe cộ, thuyền bè... Giáo pháp của Phật giống như thuyền bè đưa chúng sinh qua biển sinh tử có hai loại khác nhau, nên gọi là Nhị thừa.
1. Tiểu thừa và Đại thừa: Giáo pháp do Phật giảng dạy suốt cuộc đời của Ngài có thể phân thành hai loại là Tiểu thừa và Đại thừa. Những giáo pháp Phật dạy cho hàng Thanh văn, Duyên giác gọi là Tiểu thừa; giáo pháp Phật dạy cho hàng Bồ tát tu hành thành Phật gọi là Đại thừa.
2. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa: Trong giáo pháp Tiểu thừa phân thành hai loại: 1, Nếu trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, y theo lư Tứ đế tu tập mà đạt được giác ngộ, gọi là Thanh văn thừa; 2. Không được trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, tự ḿnh quán chiếu lư 12 nhân duyên mà đạt được giác ngộ, gọi là Duyên giác thừa.
3. Nhất thừa và Tam thừa: Trước khi đức Phật giảng kinh Pháp hoa, đức Phật đă phương tiện dẫn dắt cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát tu tập chứng quả theo ba cách khác nhau, gọi là Tam thừa. Đến thời kỳ thích hợp, Phật giảng kinh Pháp hoa, trong pháp hội này, đức Phật đem cả ba thừa đă giảng trước đây quy về một mối, để đưa tất cả chúng sinh đều thành Phật, gọi là Phật thừa, hay Nhất thừa.

Nhị thiền      Deuxième niveau d'expérience méditative    Second meditation    二禪    Dvitīya-dhyāna
Tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm.
Người chứng Nhị thiền tâm định trong sáng, cảm nhận hỷ lạc, nên gọi là Định sinh hỷ lạc.

Nhị thiền thiên          second meditation heaven    二禪天    Dvitīya-dhyāna
Cơi trời của những người tu chứng Nhị thiền, là tầng trời thứ hai trong cơi Sắc. Tầng này lại được chia làm 3 cơi là: Trời Thiểu quang, Trời Vô lượng quang và Trời Quang âm.
Người ở cơi Nhị thiền tuy đă ĺa 2 tâm sở tâm và tứ thô động của Sơ thiền, có thể tránh khỏi đại hoả tai của kiếp mạt, nhưng v́ vẫn c̣n có niệm hỉ lạc nên không tránh khỏi đại thuỷ tai của kiếp mạt.

Nhân quả      causalité     cause and effect    因果    hetu-phala
Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả.
Phật giáo cho rằng, tất cả các pháp đều y cứ vào nguyên lư nhân quả để sinh thành và hoại diệt.
Nhân là cái có năng lực phát sinh. Quả là cái kết quả được phát sinh. Như vậy, có nhân chắc chắn phải có quả, có quả chắc chắn phải có nhân. Do nhân mà sinh ra quả, nhân quả rơ ràng.
Thập pháp giới gồm cả mê và ngộ cũng không nằm ngoài mối quan hệ nhân quả. Chẳng hạn, ngoại giới khách trần và chủ thể nội tâm của chúng sanh cũng hỗ tương làm nhân duyên cho nhau ; do chúng sanh vô minh mà khởi lên ngă kiến, ngă kiến lại duyên với khách thể của ngoại giới, khách thể hấp dẫn khiến cho chúng sanh khởi lên tham dục, do tham dục dẫn đến hành động xấu ác, do hành động xấu ác dẫn đến tái sinh và hứng chịu những thống khổ, do thống khổ lại chất chồng thêm vô minh. Cái này cái kia làm nhân duyên, quả báo cho nhau, nhân quả hỗ tương qua lại.
Nhân quả có thể phân ra như sau : Nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian, nhân quả mê giới, nhân quả ngộ giới.
Căn cứ Tứ diệu đế mà nói th́, Khổ đế và Tập đế là cặp nhân quả của mê giới, nhân quả thế gian ; Diệt đế và Đạo đế là cặp nhân quả của ngộ giới, nhân quả xuất thế gian.
Đứng về mặt thời gian mà nói th́, nhân quả chi phối cả ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai. Đứng về mặt không gian mà nói th́, ngoại trừ Pháp vô vi, tất cả vạn sự vạn vật đều bị chi phối bởi luật nhân quả. Phật và Bồ-tát cũng như vậy.
Đứng trên lập trường cơ bản và thực tiễn của tôn giáo mà nói th́, Đại thừa hay Tiểu thừa đều có những cơ sở lư luận và phân loại cụ thể về giáo lư nhân quả. Tựu trung, Tiểu thừa đem mối quan hệ nhân quả phân ra làm Sáu nhân, Bốn duyên, Năm quả, đặc biệt coi trọng hành vi và nhận thức của con người, nhằm giải quyết các vấn đề như phiền năo, nghiệp do đâu mà sinh, làm thế nào để đoạn trừ… Đại thừa th́ coi Duyên khởi chính là trạng thái hỗ tương của các mối quan hệ nhân quả, lấy Bốn duyên, Mười Nhân, Năm quả làm nội dung chủ yếu cho mối quan hệ nhân quả đó, đồng thời thuyết minh A-lại-da là trung tâm hành vi và nhận thức của con người.
Ngoài ra, các tông phái Phật giáo đều nói rơ thiện nhân thiện quả, ác nhân ác quả và giải thích, hễ nghiệp nhân thiện th́ chắc chắn đưa tới quả báo thiện, nghiệp nhân ác th́ chắc chắn có quả báo ác. Tuy nhiên, do hai nghiệp thiện và ác chiêu cảm quả báo hạnh phúc và khổ đau hệ thuộc pháp vô kư, có tính chất phi thiện phi ác, cho nên thiện nhân đưa tới thiện quả, ác nhân đưa tới ác quả cũng gọi là thiện nhân lạc quả, ác nhân khổ quả. Như vậy, hễ có nghiệp nhân thiện, ác th́ chắc chắn có cái quả báo khổ hoặc vui, lư nhân quả nghiễm nhiên, không hề sai khác, gọi là nhân quả báo ứng.

Nhân quả ứng báo      causalité     cause and effect    因果應報    hetu-phala
Cũng gọi là Nhân quả ứng báo, Nhân quả nghiệp báo, Nhân ác nghiệp báo.
Gieo nhân th́ được quả, lú ấy rất rơ ràng, không sai lầm. Nghĩa là tất cả mọi sự vật đều bị pháp tắc nhân quả chi phối; hễ nhân lành th́ ắt sinh quả lành, gọi là Thiện nhân thiện quả; c̣n nhân ác th́ chắc chắn mang lại quả ác, gọi là Ác nhân ác quả, không hề sai trật.

Niết bàn      Nirvāṇa    Nirvāṇa    涅槃    Nirvāṇa
Niết-bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt. Phật giáo dùng từ này để biểu thị trạng thái lửa phiền năo thiêu đốt đă bị dập tắt hoàn toàn, là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ, cảnh giới hoàn toàn không có khổ đau. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử (mê giới), cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo, cho nên được xếp vào một trong những pháp ấn, gọi là Niết-bàn tịch tĩnh.

Tuỳ theo trạng thái Niết-bàn đạt được mà người ta chia ra nhiều loại Niết-bàn khác nhau. Niết-bàn không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, tư duy phân biệt, nhưng nó là một trạng thái có thật, và ai cũng có thể đạt được, nhờ vào sự diệt trừ một cách hoàn toàn những phiền năo. Nếu đă trừ diệt hoàn toàn những nguyên nhân của khổ, tức diệt hết phiền năo ngay trong đời này, ngay nơi thân thể và cuộc sống này, th́ gọi là Hữu dư y Niết-bàn. Nếu đă diệt trừ hoàn toàn nguyên nhân của khổ và không c̣n dư báo của khổ, tức phiền năo đă diệt hết và báo thân này cũng hết, gọi là Vô dư y Niết-bàn.
Niết-bàn là thực tại, là thấy được Thực tướng của các pháp. Thực tướng của các pháp là tính không, là pháp do nhân duyên sinh ra, bởi thế Niết bàn và sinh tử thế gian không có sai khác.

Niệm          mindfulness, memory    念    smṛti
Niệm là ghi nhớ, tên một loại tâm sở (tác dụng của tâm). Tâm sở này ghi nhớ những đối tượng mà nó duyên theo một cách rơ ràng không để quên mất.
Ví dụ: Niệm Phật là ghi nhớ Phật ở trong ḷng, không bao giờ quên.
Niệm là một loại tâm sở pháp, là một trong năm loại tâm sở biệt cảnh. Ư nghĩa của nó là Hệ niệm, là buộc tâm chuyên chú vào một cảnh giới, ghi nhớ rơ ràng, không để quên mất. Thông thường, chúng ta hay nói là ‘hoài niệm’, tức là chỉ cho cái tâm nhớ về cảnh giới quá khứ. Nhưng chữ niệm ở đây, trong ư nghĩa của Phật giáo, nó thông cả ba đời, là nhớ nghĩ cảnh giới quá khứ mà khiến cho hiện tại được phân minh rơ ràng.
Niệm là một trong những phương pháp tu hành Phật pháp, như thực tập sổ tức quán (theo dơi và đếm hơi thở ra vào) gọi là an ban niệm; niệm Phật, Pháp, Tăng, Thí, Giới và Thiên gọi là Lục niệm; trong 37 phẩm trợ đạo có Tứ niệm xứ… đều là những pháp tu bằng niệm.
Để đạt được định th́ bắt buộc phải có niệm, do niệm mà dần đi vào định. Trong kinh có nói, tâm của chúng ta phiền năo tán loạn, khi nghĩ cái này khi nghĩ cái kia, không một sát-na dừng nghỉ, cho nên cần phải cho nó một đối tượng để cho nó duyên vào đó, để cột nó lại, khiến cho nó từ từ an trụ.
Phẩm loại túc luận nói ‘niệm là rơ tâm, nhớ tánh’. Câu-xá luận nói ‘niệm là nhớ rơ đối tượng không quên’. Thành duy thức luận định nghĩa: ‘Niệm là ǵ? Tự tính của nó là sự nhớ rơ không quên mất của tâm đối với cảnh đă từng quen thuộc. Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho định. Tức là thường xuyên ghi nhớ cảnh đă từng được tiếp nhận không để cho quên mất, có thể dẫn đến định. Đối với cảnh mà thể và loại của nó chưa hề được tiếp nhận, niệm hoàn toàn không phát khởi. Giả sử đối tượng đă từng được tiếp nhận nhưng không được ghi nhận rơ ràng, niệm cũng không phát sinh’.

Niệm phật      Méditer sur un bouddha     Be mindful of the meritorious virtues of the Buddha    念佛    Buddhānusmṛti
Niệm Phật, tiếng Phạn buddhānusmṛti (Pàli: buddhānussati), là một trong những pháp môn tu hành rất căn bản được Đức Thế Tôn chỉ dạy rất rơ ràng, hiện c̣n lưu lại trong các bản kinh rất cổ xưa, cả tạng Pàli và tạng Hán, gồm có ba cách: một là nhớ nghĩ pháp thân Phật, hai là quán tưởng tướng hảo và công đức của Phật, ba là xưng niệm danh hiệu của Phật. Trong đó, theo lư mà niệm Phật th́ gọi là pháp thân niệm Phật (c̣n gọi là thật tướng niệm Phật); trong tâm luôn nhớ nghĩ đến h́nh tướng và công đức của Phật gọi là quán tưởng niệm Phật; miệng luôn xưng danh hiệu Phật gọi là tŕ danh niệm Phật, xưng danh niệm Phật.
Trong văn bản gốc kinh A-di-đà bằng tiếng Phạn, th́ chữ “niệm Phật” có nguyên ngữ ban đầu là buddhamanasikāra, sau được viết thành buddhānusmṛti. Chữ manasikāra có nghĩa là tác ư. Chữ smṛti có nghĩa là ức niệm. Theo đó, người ta đă dịch buddhamanasikāra (hoặc buddhānusmṛti) thành “niệm Phật”, hoặc “tŕ danh niệm Phật”.

Oán tắng hội khổ              怨憎會苦    Apriya-saṃprayoga-duḥkha
Cũng gọi Phi ái hội khổ, Oán tăng ố khổ.
Ghét nhau mà phải gặp nhau, phải sống chung với nhau... là khổ. Là 1 trong 8 cái khổ.
Theo kinh Phân biệt thánh đế trong Trung A hàm quyển 7, khi thân tâm chúng sinh tiếp xúc với những trần cảnh mà ḿnh không ưa thích th́ sẽ dẫn đến khổ đau.
C̣n theo Đại thừa nghĩa chương quyển 3 th́ có 23 loại Oán tăng hội khổ là nội và ngoại. Nội oán tắng hội khổ là quả báo trong 3 đường ác; ngoại oán tắng hội khổ là các duyên như dao, gậy...

Phương tiện       Moyen pratique        方便    Upāya
Phương tiện cũng thường nói là «phương tiện quyền xảo»: sự khéo léo của khả năng thuyết giáo, hướng dẫn thích hợp tùy theo căn tánh mỗi chúng sanh để đưa đến địa vị của Phật thừa.
Bồ-tát đạo được thực hành trên một nền tảng song đối, đó là đại trí và đại bi hay đại hạnh. Với đại trí, Bồ tát học tập quán sát để nh́n thấu suốt bản tính chân thực của vạn hữu, nghĩa là học hỏi vô biên Phật pháp, không bao giờ biết mệt mỏi nhàm chán. Nhưng Bồ tát đạo không phải là con đường mong cầu lợi ích riêng cho ḿnh, mà hướng đến sự giải thoát và giác ngộ của hết thảy chúng sinh. Do đó, song song với sự học tập và quán sát để thành tựu đại trí, Bồ tát cũng phát khởi tâm nguyện đại bi. Tâm nguyện ấy, nếu không do phương tiện trí th́ không thể thành tựu được. Bởi v́ sự thành tựu đại trí, tức thành tựu nhất thiết trí, thấy rơ chân tướng của vạn hữu, Bồ tát thấy rằng thế giới này xuất hiện như h́nh ảnh của chiêm bao, như bóng dáng trong nắng quái, như bọt nước, như làn chớp, v.v... và sự thành tựu ấy có thể dẫn đến tư tưởng nhàm chán thế gian, thúc đẩy ước vọng từ bỏ thế gian để một ḿnh thủ chứng Niết-bàn. Cho nên, sau khi đă chứng đạt đến trí tuệ thực chứng tánh không của thế giới, Bồ tát tu tập để phát hiện phương tiện trí. Với phương tiện trí, nghĩa là khả năng sử dụng phương tiện khéo léo, Bồ tát thấy mặc dù thế gian vốn trống rỗng, không thực chất, nhưng do nhân duyên, các pháp cùng tương quan mà hiện khởi. Do hiểu biết sâu xa nguyên lư duyên khởi như vậy, Bồ tát không hề nhàm chán thế gian, để chứng nhập Niết-bàn không sinh không diệt.

Phạm hạnh      pratique brahmanique         梵行    brahma-caryā
Hạnh thanh tịnh. Người tại gia hay người xuất gia mà có thể tu tập hạnh ly dục, sống đời thanh tịnh th́ được tôn xưng là bậc phạm hạnh. Kinh Tăng nhất a hàm ghi: "Nếu người nào giữ đầy đủ giới luật, không trái phạm, th́ người đó được gọi là bậc tu hành thanh tịnh, đạt được phạm hạnh".

Phạm thiên      Brahma    brahma heaven    梵天    Brahmā、Brahma-deva
Trong tư tưởng Ấn độ, Phạm được xem là nguồn gốc của muôn vật, là thần sáng tạo ra vũ trụ vạn hữu, cùng với Siva và Viṣṇu, gọi chung là Tam đại thần của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo.

Phạm thiên vương          great brahman heaven    梵天王    Mahābrahamā
Đại Phạm thiên, chúa tể của tầng trời Sơ thiền thuộc Sắc giới.
Trong triết học Ấn độ, Phạm thiên vương có tên là Thi-khí (Śikhin), c̣n gọi là Ta-bà thế giới chủ (Chúa tể của thế giới Ta-bà), hay Thế chủ thiên (Thiên chúa của cơi đời).
Trong Phật giáo, Đại phạm thiên là người rất kính tin Chánh pháp. Mỗi khi gặp Đức Phật ra đời, Đại phạm thiên chính là người đầu tiên thỉnh Phật chuyển pháp luân. Ông thường đứng hầu bên tay phải của Phật, tay cầm phất trần màu trắng.

Phẫn              怒    krodha
Tên một loại tâm sở.
Đối với hoàn cảnh không thuận theo ḷng ḿnh th́ phát khởi sự cáu gắt, bực tức, dẫn đến hành động bạo lực. Tâm lư phẫn sinh ra từ tâm lư sân, nó làm cho sự giận dữ thêm mănh liệt, nhưng chỉ trong chốc lát rồi thôi, không lâu dài.

Phật giáo      Bouddhisme        佛教    Buddhaśāsana
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới.
Phật giáo được một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ-đàm (悉達多瞿曇, siddhārtha gautama) sáng lập khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên.
Phật-đà (buddha), có nghĩa là "người tỉnh thức", là danh hiệu Tất-đạt-đa Cồ-đàm có được sau khi tỉnh thức, giác ngộ được Pháp (法, dharma), nguyên lư của vạn vật.

Phật nhăn      oeil de bouddha        佛眼    buddha-cakṣus
Con mắt của chư Phật, nh́n thấy thật tướng của các pháp và nh́n chúng sinh bằng tâm Từ Bi. Chư Phật có đầy năm con mắt: nhục nhăn, thiên nhăn, huệ nhăn, pháp nhăn và Phật nhăn, cho nên không có việc ǵ không thấy, không có việc ǵ không biết, không có việc ǵ không nghe; thấy và nghe hỗ tương nhau, không cần phải tư duy, nh́n thất tất cả mọi vấn đề. Kinh Vô lượng thọ nói: "Phật nhăn có đầy đủ năng lực nh́n thấy và hiểu rơ pháp tính". Pháp Hoa văn cú nói: "Phật nhăn nh́n thông suốt và hoàn hảo, bởi nó bao gồm cả bốn con mắt kia". Kinh Pháp Hoa nói: "Này Xá lợi phất! Ta dùng Phật nhăn để xem xét, thấy chúng sinh trong sáu đường đều bần cùng, thiếu phước, chẳng có trí tuệ".

Phật tử      enfants de bouddha    Son of Buddha    佛子    buddha-putra
1. Những người thọ giới pháp và thực hành theo lời Phật dạy, thừa kế gia nghiệp của Phật, tức là tu tập thành Phật để làm lợi ích cho chúng sinh, không để cho hạt giống Bồ đề dứt mất.
2. Phật thương tất cả chúng sinh như cha mẹ thương con, cho nên chúng sinh là con của Phật. Vả lại, chúng sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, v́ thế gọi chúng sinh là Phật tử.

Phật tính      Bouddha nature     Buddha-nature    佛性    Buddha-dhātu
Cũng gọi Như lai tính, Giác tính, Chân pháp tính, Như lai tạng.
Phật có nghĩa là giác ngộ. Hết thảy chúng sinh đều có khả năng tính giác ngộ, gọi là Phật tính. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tức là đều có khả năng thành Phật. Tính này không thay đổi, dù cho chúng sinh có trôi lăn trong sinh tử luân hồi theo nhân quả, th́ Phật tính của chúng sinh vẫn không thay đổi, chỉ cần dứt hết phiền năo th́ tính Phật tự nhiên hiển bày.

Phật trí          Buddha's wisdom    佛智    Buddha-jñāna
Trí tuệ của Phật, cũng gọi là trí tuệ chứng ngộ chân lư pháp giới. Trí tuệ này trùm khắp cả mười phương không gian, biến khắp cả thời gian ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai, là trí tuệ hoàn toàn viên măn, tối thắng nhất và không có trí tuệ nào cao hơn, c̣n gọi là Nhất thiết trí. Chư Phật y vào trí tuệ này mà phát khởi tâm từ bi không giới hạn, khai sáng nên sự nghiệp vĩ đại là nhiếp hoá pháp giới chúng sinh.
Phật trí là kết quả của sự tu tập, không thể nghĩ lường, trí tuệ của phàm phu không thể nào suy lường, đoán biết được. Bởi v́ trí tuệ của phàm phu có giới hạn, không hoàn hảo, mà Phật trí th́ hoàn toàn viên măn, rộng lớn vô biên. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ ghi rằng: Trí tuệ của Như lai bao la như biển cả, sâu rộng vô bờ bến, hàng Nhị thừa không thể suy lường, duy chỉ có Phật với Phật mới hiểu được nhau’. Kinh Pháp hoa nói: Trí tuệ của chư Phật thậm thâm vô lượng. Cửa trí tuệ này rất khó hiểu, rất khó vào.

Phỉ báng chính pháp      calomnier le Dharma bouddhique         誹謗正法     saddharma-pratikṣepa
C̣n gọi là Báng pháp, Phá pháp, Đoạn pháp.
Phá hoại, phỉ báng chính pháp do Phật nói, chủ yếu là chê bai kinh điển Đại thừa, cho rằng kinh điển Đại thừa không phải Phật nói. Chẳng hạn không tin những kinh Đại thừa như Bát nhă, Pháp hoa, Vô lượng thọ... lại c̣n đặt điều dèm pha, chỉ trích. Những người như thế sẽ tự ḿnh đoạn hết tất cả căn lành, chắc chắn đoạ vào địa ngục lớn.
Theo Kinh Vô lượng quyển thượng th́ Đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ những chúng sinh niệm Phật, nhưng không cứu độ được người phạm tội Ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp. Kinh Bồ tát thiện giới cho rằng phỉ báng chính pháp là 1 trong 8 tội nặng nhất của Bồ tát. Kinh Phạm vơng th́ cho rằng phỉ báng Tam bảo là 1 trong 10 tội nặng nhất của Bồ tát.
Nói chung, phỉ báng chính pháp có 2 loại:
1. Không tin Tam bảo, không tin kinh điển Phật dạy, đem lời Phật dạy ra phân tích theo ư ḿnh với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ chính pháp.
2. Không tin kinh điển Đại thừa là do chính Phật nói, lại đặt điều dèm chê; hoặc thấy người đọc tụng, biên chép, thực hành các kinh Đại thừa th́ sinh ḷng khinh dễ, ghen ghét...


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22