Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Linh Thứu Sơn              靈鷲山    Gṛdhra-kūṭa
Tên chữ là Kỳ-xà-quật, Gṛdhra-kūṭa, ngọn núi nằm gần thủ đô Vương-xá của quốc vương Ma-kiệt-đà xưa.
Thành Vương-xá có 5 ngọn núi, th́ núi Linh Thứu là ngọn cao nhất. Núi có nhiều cây cối, không gian thanh tịnh, không khí trong lành, nên có rất nhiều Thánh nhân ẩn cư.
V́ Đức Phật thường lên núi này ngắm hoàng hôn và giảng nhiều bản kinh quan trọng mà ngọn núi này nổi danh.
‘Kỳ-xà’ (Gṛdhra) là một loại chim giống diều hâu, lông và cánh hơi đen, đầu trắng, là loài chim ăn thịt. Theo Huyền ứng âm nghĩa, quyển thứ 7, ghi chép, th́ đây là loài chim có linh tính, biết trước người chết. V́ vậy, khi biết có người sắp chết, chúng liền bay đến nhà người đó, đợi cho đến khi người chết được đem tống tang trong rừng th́ bay xuống mà ăn thịt, nên gọi là Linh thứu.
Theo Luận Đại trí độ, quyển 3, núi này có tên gọi như thế v́ hai lư do: 1. Trên đỉnh núi có một tảng đá nhô lên cao, nh́n giống đầu chim Thứu, nên người dân thành Vương-xá gọi là núi đầu chim Thứu (Thứu đầu sơn); 2. Phía nam thành Vương-xá có một khu rừng gọi là Thi-đà lâm, trong rừng này có một khu vực để người dân tống táng tử thi, v́ vậy chim Thứu thường đến đây ăn thịt tử thi, ăn xong chúng bay đến đậu trên đỉnh núi, bấy giờ người dân bèn gọi núi ấy là Thứu đầu sơn.
Đức Phật thường đến núi này và giảng nhiều bản kinh Đại thừa, như Kinh Thiện sinh, Kinh Vô lượng nghĩa, Kinh Diệu pháp liên hoa, Kinh Vô Lượng thọ…


Luân hồi      Cycle des renaissances        輪迴    saṃsāra
Là ṿng sinh tử liên tục, như bánh xe quay ṿng. Chúng sanh do tạo nghiệp (tham, sân, si), chết trong kiếp này, rồi lại sanh vào kiếp khác, hệt như cái bánh xe, cứ quay ṿng măi măi trong ba cơi.

Lư quán              理觀    
Quán chiếu lư tánh của các pháp, tức nh́n vào bên trong để thấy được thực tướng của các pháp.

Mạn      arrogance    identity    慢    Asmimāna
Mạn, đọc từ tiếng Phạm māna, là một loại tâm sở (tác dụng của tâm gọi là tâm sở). Nó ám chỉ cái tâm tự măn, cao ngạo, khi nào cũng thấy ḿnh tài giỏi hơn người khác và tỏ ư coi thường người khác. Nó cùng một loại với ‘kiêu’, nhưng không thực sự tương đồng. ‘Kiêu’ là tự cho ḿnh xinh đẹp, có huyết thống cao quư, có học thức… hơn người khác và tỏ ư tự hào. Cùng một cách như vậy, nhưng ‘mạn’ là cái tâm vọng tưởng về chính bản thân ḿnh, tức ḿnh không đẹp, không giỏi, không cao quư… mà tự cho ḿnh như thế, nghĩ ḿnh ưu tú hơn người, khi nào cũng muốn khoe khoang, ngạo mạn.
Duy thức tông xếp ‘mạn’ vào một trong 6 tâm sở căn bản phiền năo. C̣n Câu xá tông xếp nó vào một trong các pháp bất định địa.
Người ta đă chia ‘mạn’ ra thành những tâm lư nhỏ hơn, vi tế hơn, thành 7 mạn, 8 mạn, 9 mạn.
Luận Đại thừa ngũ uẩn chia ‘mạn’ ra thành 7 loại: 1. mạn; 2. quá mạn; 3. mạn quá mạn; 4. ngă mạn; 5. tăng thượng mạn; 6. ti mạn; 7. tà mạn.
Luận Đại t́ bà sa quyển 43 và 50, luận Câu xá quyển 19, giải thích nội dung 7 mạn như sau:
1. Mạn: Đối với người kém hơn ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người bằng ḿnh th́ nghĩ ḿnh bằng họ. Cái tâm lư này xem ra rất tự nhiên, không thể nói là xấu, thế nhưng, khi tâm lư này biểu hiện, nó thường có ư cao ngạo, v́ vậy mà không tốt.
2. Quá mạn: Đối với người bằng ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người hơn ḿnh, nghĩ ḿnh bằng họ.
3. Mạn quá mạn: Đối với người hơn ḿnh, nghĩ họ thua ḿnh.
4. Ngă mạn: Cho năm uẩn là ta, của ta.
5. Tăng thượng mạn: Chưa chứng quả mà tự cho ḿnh đă chứng quả, chưa đoạn trừ hết phiền năo mà nói ḿnh đă hết phiền năo.
7. Tà mạn: Không có đức độ, lại buông lung làm việc ác, mà tự cho ḿnh có đức độ.
Những người nào có tâm mạn nói trên, nếu không theo học với bậc thiện tri thức, không hành đạo xuất ly, th́ không bao giờ thoát khỏi sinh tử luân hồi.


Mạt pháp      derniers jours du Dharma    latter dharma    末法    saddharma-vipralopa
Thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, bấy giờ những lời dạy của Phật bị mất dần, không c̣n người hiểu và hành tŕ đúng chính pháp, cho đến lúc mất hết hoàn toàn. Đồng nghĩa với Mạt thế, Mạt đại.
Phật pháp tồn tại ở thế gian được chia làm ba thời kỳ: Chính pháp, tượng pháp và mạt pháp.
1. Chính pháp: Giáo pháp của Phật c̣n nguyên vị. Sau khi Phật nhập niết bàn, giáo pháp ở đời, nếu nương theo giáo pháp mà tu hành th́ liền được chứng quả, gọi là chính pháp.
2. Tượng pháp: Phật pháp không c̣n nguyên vị, chỉ tương tự mà thôi. Giai đoạn này, giáo pháp tuy có và người tu hành cũng nhiều nhưng không có người chứng quả.
3. Mạt pháp: Giáo pháp của Phật bị tà ma ngoại đạo lợi dụng, xen tạp vào; kinh điển được chú thích, giảng giải tuỳ tiện... làm mất hết hương vị chính pháp. Tuy có nhiều người đi tu, nhiều người quy y Tam bảo nhưng không có ai thực hành theo lời Phật dạy.

Mật giáo          esoteric Buddhism    密教    
Đối lại là Hiển giáo.
Hai bộ giáo pháp Thai tạng mạn đà là và Kim cang mạn đà la do Đại Nhật Như Lai giảng thuyết được gọi là Mật giáo. Đó là cảnh giới nội chứng pháp thân của Phật, thâm sâu, bí áo, cho nên gọi là Mật giáo. Hơn nữa, đối với người chưa được làm lễ Quán đỉnh th́ không thể truyền trao giáo pháp Hiển tông, cho nên gọi là Mật giáo.

Mâu ni              牟尼    Muni
Mỹ hiệu chỉ cho những bậc Thánh đă đoạn trừ hết phiền năo. Trong hàng Thánh giả đó, Đức Phật được tôn xưng là Đại Mâu ni.

Năng duyên              能緣    
Chủ thể có đủ tác dụng nhận thức gọi là 'Năng duyên'; c̣n khách thể (đối tượng) bị nhận thức gọi là 'Sở duyên'.
Duyên có nghĩa là nương tựa, nương nhờ, vin theo, tức là tâm thức không thể tự sinh khởi mà phải nương vào cảnh bên ngoài (khách thể, đối tượng) mới có thể phát sinh tác dụng. Theo Duy thức học Phật giáo, Năng duyên là Kiến phần (chủ thể nhận thức) và Sở duyên là Tướng phần (đối tượng nhận thức).
Chủ thể nhận thức (Năng duyên) gồm có ba phần: Kiến phần, Chứng phần, và Chứng tự chứng phần. Khi Năng duyên sinh ra tác dụng th́ Kiến phần duyên theo Tướng phần, Tự chứng phần duyên theo Kiến phần và Chứng tự chứng phần, c̣n Chứng tự tự chứng phần th́ duyên theo Tự chứng phần.

Ngũ độn sử      cinq passions illusoires     five afflictions that affect beginning practitioners    五鈍使    pañca-kleśa
Chỉ cho 5 loại phiền năo căn bản: tham, sân, si, mạn, nghi.
Năm thứ phiền năo này thường sai khiến tâm thần người tu hành, làm cho trôi nổi, lăn lộn trong 3 cơi nên gọi là Sử; và v́ rất khó trừ diệt nên gọi là Độn.

Ngũ đ́nh tâm quán      cinq méditations    five meditations and four bases of mindfulness    五停心觀     
Năm pháp quán dứt trừ phiền năo mê hoặc.
1. Bất tịnh quán (aśubhā-smṛti): Quán tưởng thân ḿnh và thân người nhơ nhớp để trừ bỏ ḷng tham muốn.
2. Từ bi quán (Maitrī-smṛti): Cũng gọi là Từ tâm quán. Quán tưởng ḷng thương xót để đối trị với phiền năo oán giận.
3. Duyên khởi quán (Iidaṃpratyayatā-pratītyasamutpāda-smṛti): Cũng gọi là Nhân duyên quán. Quán tưởng 12 duyên khởi thuận và nghịch để đối trị phiền năo ngu si.
4. Giới phân biệt quán (dhātu-prabheda-smṛti): Cũng gọi là Giới phương tiện quán, Tích giới quán, Phân tích quán, Vô ngă quán. Quán tưởng các pháp 18 giới đều do hoà hợp của đất, nước, lửa, giớ, không và thức mà có để đối trị chấp ngă.
5. Sổ tức quán (Ānāpāna-smṛti): Cũng gọi là An na ban na niệm, Tŕ tức niệm. Đếm số hơi thở ra, thở vào để đối trị tầm, tứ tán loạn, giữ cho tâm dừng yên một chỗ.

Ngũ biến hành              五遍行    
Năm tâm sở biến hành : xúc, tác ư, thọ, tưởng, tư. Năm loại tâm lư này có mặt khắp trong tất cả mọi trường hợp tâm thiện, bất thiện và vô kư, nên gọi là biến hành.

Ngũ biệt cảnh              五別境    
Năm tâm sở biệt cảnh : dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. Năm loại tâm lư này chỉ xuất hiện trong những trường hợp và cảnh vực sai biệt, duyên vào từng đối tượng cụ thể mà sinh khởi ; chúng thay đổi hoặc quyết định xuất hiện trong từng trường hợp nhưng chúng không tách rời nhau, nhất định hỗ trợ nhau, khi một cái khởi th́ tất có bốn cái kia.

Ngũ căn          five faculties    五根    Pañcendriyāṇi
Năm loại gốc rễ phát sinh ra pháp lành, dẫn vào Thánh đạo. Gồm Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn và Tuệ căn.

Ngũ cái      cinq voiles     Five coverings    五蓋     pañca āvaraṇāni
C̣n gọi là Ngũ triền cái.
Triền là trói buộc. Cái nghĩa là che lấp. Ngũ triền cái là 5 thứ phiền năo trói buộc, che lấp tâm tính, làm cho pháp lành không sanh ra được.
1. Tham dục cái (rāga-āvaraṇa): Tham đắm ngũ dục là tài sản, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ không biết nhàm chán nên tâm tính bị che lấp.
2. Sân khuể cái (pratigha-āvaraṇa): Đối trước cảnh trái ư, ḷng tức giận nổi lên làm che lấp tâm tính.
3. Hôn miên cái (styāna-middha-āvaraṇa): Cũng gọi là Thuỵ miên cái. Hôn trầm và buồn ngủ khiến tâm tính li b́, không thể tích cực hoạt động.
4. Trạo cử ác tác cái (auddhatya-kaukṛtya-āvaraṇa): Cũng gọi là Điệu hư cái, Trạo hối cái. Sự chao động của tâm, hoặc lo buồn, ân hận đối với những việc đă làm, khiến tâm tính bi che lấo.
5. Nghi cái (vicikitsā-āvaraṇa): Đối với giáo pháp do dự không quyết đoán, chưa có niềm tin đối với Tam Bảo và cả đối với sự tu tập của bản thân.

Ngũ chủng pháp sư      cinq sortes de maîtres du dharma     five kinds of authorities of the doctrine    五種法師    
5 bậc pháp sư hay 5 bậc thầy có khả năng hoằng dương Phật pháp.
1. Thụ tŕ pháp sư: Người có khả năng tiếp nhận, tin tưởng vững chắc và ghi nhớ, giữ ǵn không quên lời dạy của Như Lai được ghi chép trong kinh luận.
2. Đọc kinh pháp sư: Người có khả năng ngồi ngay thẳng, trang nghiêm, giữ tâm chính niệm, mắt xem kinh văn mà tụng đọc mạch lạc, rơ ràng.
3. Tụng kinh pháp sư: Người có khả năng tụng đọc thuộc ḷng kinh văn, không cần phải xem sách mà không nhầm lẫn.
4. Giải thuyết pháp sư: Người có khả năng truyền dạy, giảng giải chính xác kinh điển.
5. Thư tả pháp sư: Người có khả năng biên chép, phiên dịch kinh điển để lưu truyền rộng răi cho đời sau.

Ngũ dục      cinq désirs     five desires    五欲    pañca kāmāḥ
Năm đối tượng của sự tham muốn:
1. Tài dục: Tham muốn tiền của.
2. Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp.
3. Danh dục: Tham muốn danh vọng, địa vị, quyền lực.
4. Thực dục: Tham muốn sự ăn uống.
5. Thuỳ dục: Tham muốn sự ngủ nghỉ.
Năm đối tượng khác của sự tham muốn là:
1. Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp.
2. Thanh dục: Đắm say âm thanh, âm nhạc, lời khen...
3. Hương dục: Đắm say mùi thơm quyến rũ.
4. Vị dục: Tham muốn vị ngon ngọt.
5. Xúc dục: Ham thích sự xúc chạm mịn màng, trơn láng.

Ngũ giới      Cinq préceptes    Five precepts    五戒    Pañca śīlāni
Năm giới, năm nguyên tắc thực hành đạo đức.
1. Không giết hại
2. Không trộm cắp
3. Không quan hệ bất chính
4. Không nói dối
5. Không uống rượu.

Ngũ hạ phần kết              五下分結    pañca āvarabhāgiya-saṃyojanāni
Năm loại phiền năo trói buộc chúng sanh hữu t́nh ở Dục giới. Sở dĩ gọi là hạ phần là bởi v́ nó ở hạ giới, tức Dục giới, khác với thượng giới, tức là Sắc giới và Vô sắc giới.
Tên đầy đủ là Ngũ thuận hạ phần kết, gọi tắt là Ngũ hạ kết hoặc Ngũ hạ.
Câu-xá luận, quyển 21, ghi: "Năm hạ phần kết là ǵ? Đó là Thân kiến, Giới thủ kiến, Nghi, Dục tham, Sân khuể. Chúng được gọi là Thuận hạ phần (avarabhāgīya) bởi v́ chúng có liên hệ và thuận hợp với “phần ở phía dưới” (avarabhāga), tức chỉ cho Dục giới (Vibhā􀀀ā, 49, 2). Như vậy trong số này có hai kiết sử khiến cho người ta không thể vượt qua được Dục giới và ba kết sử khiến cho người ta phải trở lại Dục giới. Dục tham và sân khuể ngăn chận sự xuất ly Dục giới; thân kiến và hai loại kết sử c̣n lại làm cho những người đă xuất ly Dục giới phải trở lại ở đó; chúng không giống như viên cai ngục và các ngục tốt.
1. Dục kết: những phiền năo tham dục.
2. Sân kết: những phiền năo giận hờn.
3. Thân kiến kết: phiền năo ngă kiến, chấp ngă.
4. Giới thủ kết: phiền năo giữ ǵn những giới luật phi lư, vô đạo.
5. Nghi kết: phiền năo nghi ngờ chân lư.

Ngũ hối          five kinds of remorse    五悔    
Cũng gọi là Ngũ sám hối
Năm phương pháp sám hối để diệt trừ tội lỗi.
1. Sám hối: Ăn năn tội lỗi và tu tập những hành lành.
2. Khuyến thỉnh: Khuyển thỉnh chư Phật trong 10 phương quay bánh xe pháp cứu độ chúng sinh. Ngày nay có thể hiểu rộng là thỉnh chư tôn đức tăng ni hoằng pháp độ sinh.
3. Tuỳ hỉ: Vui mừng, khen ngợi những hành lành của người khác, thấy người khác tu tập ḿnh sinh tâm hoan hỷ.
4. Hồi hướng: Hồi hướng công đức tu tập được về quả vị giác ngộ.
5. Phát nguyện: Phát nguyện quyết tâm thành Phật.

Ngũ lợi sử      cinq points de vue erronés    five afflictions of advanced practitioners    五利使    pañca-dṛṣṭayaḥ
Cũng gọi là Ngũ nhiễm ô kiến, Ngũ tịch kiến, Ngũ kiến.
Lợi là sắc bén, Sử là sai khiến. Ngũ lợi sử là chỉ cho 5 thứ phiền năo do mê lư mà khởi, thường xui khiến chúng sinh tạo các nghiệp ác.
1. Thân kiến: Do không rơ cái lư thân ta là do sự hoà hợp của 5 uẩn mà có một cách giả tạm, nên mới chấp trước thật có thân ta (chấp ngă).
2. Biên kiến: Chấp trước 2 kiến giải cực đoan, cho rằng sau khi ta chết là dứt hẳn, hoặc sau khi ta chết sẽ c̣n măi không mất.
3. Tà kiến: Phủ định lư nhân quả, cho rằng chẳng có tội phúc, thiện ác ǵ hết. Đây là loại tà kiến nguy hiểm nhất trong các loại tà kiến.
4. Kiến thủ kiến: Cố chấp cái thấy biết hẹp ḥi kém cỏi của ḿnh mà không chịu mở rộng tầm nh́n để học hỏi những điều cao xa ưu việt.
5. Giới cấm thủ kiến: Chấp chặt những giới cấm trái đạo, phi pháp, cho đó là nhân sinh lên cơi trời, hoặc là con đường đến Niết bàn, như giữ giới ḅ, giới chó...


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22