Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Pháp      Dharma    Dharma    法    Dharma
1. Pháp bao hàm mọi sự vật cụ thể hay trừu tượng, cái ǵ có thể cho ta một khái niệm về nó đều gọi là pháp. Danh từ Pháp thường được định nghĩa: 'nhậm tŕ tự tính, quĩ sinh vật giải'. Có nghĩa là: Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng, có tự tính, bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nh́n vào là có thể nhận thức và lí giải được.
2. Chỉ cho đối tượng phân biệt của thức thứ 6, cũng gọi là Pháp xứ (Dharmāyatana), hoặc pháp giới (Dharma-dhātu).
3. Tiếng dùng trong Nhân minh luận. Hàm ư tính chất, thuộc tính.

Pháp tướng          characteristics of phenomena    法相    
1. Tướng trạng của các pháp. Chủ trương đặc biệt của tông Duy thức là phân tích hoặc phân loại và thuyết minh tướng trạng của các pháp, v́ thế tông này cũng được gọi là tông Pháp tướng.
2. Chỉ cho phạm vi, sự khu biệt, cương yếu về mặt giáo nghĩa.
3. Chỉ cho Chân như, Thực tướng. Đồng nghĩa với với Pháp tính.

Pháp tính      nature de dharma     original essence of all being    法性    dharmatā
Cũng gọi Chân như pháp tính, Chân pháp tính, Chân tính, Pháp bản.
Chỉ cho thể tính chân thực của các pháp, cũng tức là bản tính bất biến của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Cũng là tên khác của Chân như.
Thể tính chân thực của các pháp là tính không, cho nên Pháp tính c̣n gọi là Không tính.

Phát bồ đề tâm              發菩提心    Bodhi-citta
Tâm phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề, nghĩa là phát khởi cái tâm mong cầu giải thoát khổ nạn. Tâm bồ đề là cái tâm rộng lớn, trên th́ cầu thành Phật, dưới th́ nguyện cứu độ chúng sinh (thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sinh).
Tâm bồ đề là hạt giống của tất cả chư Phật, là thửa ruộng tốt nuôi lớn pháp thanh tịnh. Khi phát tâm này rồi phải siêng năng tiến tu để mau chóng chứng được quả vị giác ngộ.

Phân đoạn sinh tử          fragmentary samsāra    分段生死    
Chỉ cho sự sống chết của phàm phu phải chịu trong tam giới, c̣n gọi là Phần đoạn sinh tử, Hữu vi sinh tử.
Chúng phàm phu do kiến hoặctư hoặc mà bị sanh tử trong tam giới, lục đạo. Phàm phu luân hồi trong lục đạo là do cái nhân đă tạo nghiệp trong quá khứ, rồi theo cái nghiệp ấy mà có thọ mạng hạn định lâu hay mau, thân thể lớn hay nhỏ, sang hay hèn… cho nên gọi là Phân đoạn. Theo Thắng man bảo quật, quyển trung, ghi: “Nói Phân đoạn sinh tử có nghĩa là h́nh sắc sai khác, thọ mạng dài ngắn bất đồng vậy” (Đại chính 37, 48c). Đại thừa nghĩa chương, quyển 8, th́ cho rằng Phân đoạn sinh tử có hai loại, tức là phân đoạn ác đạo chịu quả báo trong tam đồ và phân đoạn thiện đạo thọ quả báo ở nhân thiên. Cũng sách này chia phân đoạn ác đạo ra làm ba loại, đó là: 1, Sanh tử của phàm phu phải chịu, do ác nghiệp làm nhân, tứ trụ làm duyên. 2, Sanh tử của hàng Bồ tát thập trụ phải chịu, lấy ác nghiệp làm nhân, tứ trụ làm chính duyên, bi nguyện làm tuỳ trợ. 3, Sanh tử của hàng Chủng tánh lên đến sơ địa Bồ tát, lấy ác nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, trú trụ làm tùy trợ.
Lại chia phân đoạn thiện đạo ra làm ba loại, đó là: 1, Sanh tử của hàng phàm phu nhị thừa cho đến thập trụ Bồ tát phải chịu, là do lấy thiện nghiệp làm nhân, tứ trụ làm duyên. 2, Sanh tử của Bồ tát chủng tánh giải hạnh phải chịu, lấy thiệp nghiệp làm nhân, tứ trụ làm chính duyên, bi nguyện làm tuỳ trợ. 3, Sanh tử của Địa thượng Bồ tát trở lên phải chịu, lấy thiện nghiệp làm nhân, bi nguyện làm chính duyên, tứ trụ làm tuỳ trợ.


Phân biệt ngă chấp              分別我執    añjanā -ahaṃkāra-manaskāratā
Chấp ngă do phân biệt, cũng do năng lực của ngoại duyên hiện tại, không cùng tồn tại với thân, mà cần phải có ảnh hưởng của tà giáo và tà phân biệt mới có thể phát khởi, v́ vậy nói là phân biệt. Nó chỉ tồn tại trong thức thứ sáu là ư. Loại này cũng có hai thứ:
a. Duyên vào tướng của uẩn được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp là thực ngă.
b. Duyên vào tướng của ngă được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp đó là thực ngă.
Hai loại ngă chấp này dễ bị đoạn trừ, v́ thô. Khi ở sơ khởi của kiến đạo, quán chân như về sinh không và pháp không của hết thảy các pháp th́ có thể đoạn trừ.

Phiền năo      Facteurs de perturbation        煩惱    kleśa
C̣n gọi là Tuỳ miên.
Những phiền năo tiềm phục bên trong th́ gọi là Tuỳ miên. Những phiền năo biểu hiện ra bên ngoài th́ gọi là Triền.
Phiền năo là những tác dụng tâm lư làm cho thân, tâm năo loạn, buồn rầu, bức rức, khó chịu; khiến cho thân, tâm không được b́nh tĩnh.
Nhập A-t́-đàm luận, quyển thượng, ghi : ‘Cái ǵ làm cho thân tâm buồn rầu, bức rức, phiền muộn, bức năo liên tục th́ gọi là Phiền năo, cũng gọi là Tuỳ miên’.
Đại T́-bà-sa luận , quyển 60, Câu-xá luận, quyển 20, đều nói rằng, tất cả những Phiền năo đều do ba thứ sức mạnh sau đây mà khởi, đó là nhân lực, cảnh giới lực và gia hành lực. Những Tuỳ miên là những Phiền năo tiềm phục, ẩn sâu bên trong tâm thức chưa đoạn trừ hay ḿnh chưa nhận biết hết là nhân lực (sức mạnh của cái (nguyên) nhân). Cảnh giới trước mắt thuận theo ḷng tham muốn là cảnh giới lực (sức mạnh của ngoại cảnh). Duyên theo cảnh giới mà khởi lên phi lư tác ư là gia hành lực.
Phiền năo có rất nhiều loại, nhưng một cách tổng quát th́ có hai loại, gọi là Mê lư và Mê sự. Mê lư tức là Kiến hoặc, chỉ cho trạng thái u mê không thấy được lư Tứ đế, là loại phiền năo mà khi đạt được địa vị Kiến đạo th́ ḿnh sẽ đoạn trừ hết (kiến đạo sở đoạn). Mê sự tức là Tu hoặc, chỉ cho trạng thái u mê sự tướng vạn vật, bị cảnh giới bên ngoài làm cho bức rức, phiền năo, khi đến địa vị Tu đạo th́ đoạn trừ hết phiền năo này (tu sở đoạn).
Trong Kiến hoặc và Tu hoặc có 6 loại phiền năo căn bản, là tham, sân, si, mạn, nghi và kiến, gọi là Căn bản phiền năo, hoặc gọi là Lục tuỳ miên. Trong 6 phiền năo căn bản này, th́ phiền năo kiến gồm có 5 loại, là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, gọi là Ngũ lợi sử ; c̣n các phiền năo tham, sân, si, mạn, nghi gọi là Ngũ độn sử. Như vậy, tổng cộng có 10 sử, gọi là Thập căn bản phiền năo hay Thập tuỳ miên ; Ngũ lợi sử chỉ thuộc về Mê lư, c̣n Ngũ độn sử thuộc th́ mê cả Lư lẫn Sự.

Phiền năo chướng      Désirs terrestres     Afflictive hindrances    煩惱障    Kleśāvaraṇa
Cũng gọi Hoặc chướng.
Chỉ cho phiền năo ngăn ngại đạo giác ngộ, làm cho chúng sinh không chứng được Niết bàn.
1. Theo luận Câu xá, phiền năo thường hiện hành làm trở ngại việc phát sinh của trí tuệ vô lậu, đồng thời, làm cho không chứng được trí tuệ giải thoát, gọi là Phiền năo chướng.
2. Theo luận Thành duy thức, tất cả phiền năo làm cho thân tâm chúng sinh bị nhiễu loạn, ngăn trở con đường đến Niết ban, gọi là Phiền năo chướng.

Phiền năo tức bồ đề      les détresses impliquent l'éveil        煩惱即菩提    
Phiền năo và Bồ đề không phải là hai mà cái này tức cái kia.
Thông thường, phiền năo là chỉ cho tất cả tác dụng tinh thần làm trở ngại sự giác ngộ; c̣n Bồ đề là trí tuệ dứt hết phiền năo thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tuy nhiên, phiền năo và bồ để không phải là hai cái có tự thể riêng biệt, mà cùng nằm trong một thực thể duy nhất đó là tâm của chúng sinh. Tâm chúng sinh khi sống trong vô minh, thất niệm th́ là phiền năo; mà khi sống trong tỉnh giác, chánh niệm th́ là bồ đề. Phiền năo không phải nằm ngoài bồ đề, mà bồ đề cũng không nằm ngoài phiền năo, nó là một, nên nói phiền năo tức bồ đề.

Pḥng hộ căn môn              防護根門    indriya-saṃvara
Pḥng hộ căn môn, hay căn luật nghi, Skt. indriya-saṃvara, hay Pāli: indriyesu guttadvāro, «canh chừng cánh cửa nơi các giác quan.» Kinh ghi: «Vị tỳ-kheo ấy, khi nh́n thấy sắc, không nắm chặt các h́nh tướng (…), giữ ǵn giác quan con mắt, canh chừng nơi giác quan con mắt.» Pḥng hộ (Skt. saṃvara), Hán cũng dịch là luật nghi. Có ba loại luật nghi: căn luật nghi (Skt. indrya-saṃvara), pḥng hộ các giác quan; biệt giải thoát luật nghi (Skt. prātimokṣa-saṃvara), pḥng hộ bằng các điều học giới đă phát nguyện thọ; và vô lậu luật nghi (Skt. anāsravasaṃvara), pḥng hộ do chứng pháp vô lậu. Về bản chất, có ba loại luật nghi: 1. Biệt giải thoát luật nghi (prātimokṣa-saṃvara); 2. Tĩnh lự luật nghi (dhyānajasaṃvara),
năng lực pḥng hộ phát sanh do thiền định; 3. Vô lậu luật nghi (anāsrava-saṃvara), pḥng hộ tự nhiên v́ không c̣n phiền năo nhiễm ô.

Quang âm thiên      Ciel de Lumière    Light Sound heaven    光音天    Ābhassara-deva
Một trong các tầng trời cơi Sắc, tức là tầng trời thứ 3 của đệ nhị thiền; tầng trời này ở trên Vô lượng quang thiên và ở dưới Thiểu tịnh thiên. Chúng sinh ở cơi trời này không có âm thanh, chỉ do ánh sáng phát ra từ định tâm để thay ngôn ngữ mà truyền đạt ư nghĩa, v́ thế nên gọi là Quang âm thiên. Chúng sinh có nghiệp tương ứng bậc thượng phẩm cơi Nhị thiền được sinh về cơi này, được sắc tối thắng, thân cao 8 do tuần, sống lâu 8 đại kiếp, lấy sự vui mừng làm thức ăn, trụ trong an lạc, ánh sáng tự nhiên, đầy đủ thần thông, có thể bay đi trong hư không.

Quy y              歸依    śaraṇa
Quy là quay về, y là nương tựa. Quy y là quay về nương tựa, là sự quay đầu, t́m chỗ nương tựa.
Trong Phật giáo, quy y tức là chỉ cho sự quay về nương tựa nơi Tam bảo Phật, Pháp, Tăng.
Trong thời đại Vệ-đà, từ quy y được sử dụng rộng răi với ư nghĩa là t́m chỗ bảo hộ, t́m chỗ cứu tế, t́m chỗ tị nạn. Ư muốn nói nếu như ai có thể quay về nương tựa vào Phạm thiên th́ thân sẽ được an toàn, tâm sẽ được hết buồn lo.
Trong Phật giáo, quy y Tam bảo có nghĩa là nương tựa nơi oai lực công đức của Tam bảo, sự nương tựa này có thể khiến cho tâm của chúng ta được vô lượng an ổn, được thoát ly mọi khổ năo.
Câu-xá luận ghi: 'Quy y có nghĩa là ǵ? Có nghĩa là cứu tế, bởi v́ chỗ mà ḿnh quy y, tức là Tam bảo, chỗ đó có khả năng đưa tới giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau ách nạn'.
Quy y là sự gieo xuống hạt giống Bồ-đề. Hạt giống Bồ-đề không được gieo vào một cánh đồng trừu tượng nào xa xôi, cũng không chờ đợi để được gieo vào một vùng đất hứa thần thoại nào khác, mà nó được gieo xuống ngay trên sa mạc sinh tử này, khô cằn với những đau khổ triền miên của chúng sinh này. Rồi hạt giống ấy cần phải được tưới bằng nước ngọt của từ bi để lớn mạnh, để đến thời trổ hoa giác ngộ.

Quyết định thuyết              決定說    
Quyết định thuyết: lời nói chắc thật đúng với việc làm. Kinh
Thế gian, kinh số 137 thuộc bộ Trung A hàm nói: «Đức Như Lai, kể từ đêm thành đạo vô thượng chánh giác cho đến đêm nhập vô dư Niết-bàn, trong khoảng trung gian đó, những ǵ được nói chính từ miệng Như Lai, những ǵ được đối đáp bởi chính Như Lai, những điều ấy tất cả đều chắc thật, không trống rỗng, đúng như thực, không điên đảo; nói về Như Lai cũng là nói về sư tử vậy.»

Quư              愧    apatrāpya
Do chi phối bởi thế gian mà xấu hỗ với điều lỗi lầm. “Đây là điều bị chê trách trong đời. Nếu biết việc làm này của ta, họ sẽ chỉ trích.” V́ sợ mất tiếng v.v... mà xấu hỗ.
Đại thừa ngũ uẩn luận định nghĩa: Tàm là ǵ? Tự tính của nó là do coi trọng sự chê trách của người khác mà xấu hỗ với điều tội lỗi của ḿnh làm.
Coi trọng sự chê trách của người khác tức là lo sợ sự bắt lỗi, trách phạt và dị nghị… của thế gian đối với những lỗi lầm ḿnh làm, tức là xấu hỗ khi bị người đời chỉ trích.
Nghiệp dụng của nó là đ́nh chỉ và ngăn chặn hành vi xấu ác.


Sơ thiền      Premier niveau d'expérience méditative    First meditation    初禪    Prathama-dhyāna
Ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ, hỷ, lạc, nhất tâm.

Sơ thiền thiên          first meditation heaven    初禪天    prathama-dhyāna
Một trong bốn trời Thiền cơi Sắc, là nơi sinh đến của những người tu định Sơ thiền sau khi mệnh chung, hoặc chỉ cho chúng sinh sống ở cơi trời này. V́ chúng sinh ở cơi trời này đă xa ĺa các pháp xấu ác ở cơi Dục, sinh khởi cảm nhận mừng, vui, nên cơi trời này c̣n được gọi là Ly sinh hỉ lạc địa.

Sư tử hống              師子吼    
Thành ngữ «sư tử hống» hay tiếng rống của con sư tử được dùng theo các ư nghĩa như sau:

1. Quyết định thuyết: lời nói chắc thật đúng với việc làm. Kinh Thế gian, kinh số 137 thuộc bộ Trung A hàm nói: «Đức Như Lai, kể từ đêm thành đạo vô thượng chánh giác cho đến đêm nhập vô dư Niết-bàn, trong khoảng trung gian đó, những ǵ được nói chính từ miệng Như Lai, những ǵ được đối đáp bởi chính Như Lai, những điều ấy tất cả đều chắc thật, không trống rỗng, đúng như thực, không điên đảo; nói về Như Lai cũng là nói về sư tử vậy.»

2. Vô úy thuyết: nói mà không hề do dự, sợ hăi; nói với sự xác tín, kiên quyết. Khi Tôn giả Xá-lợi-phất ca ngợi đức Phật rằng: «Trong quá khứ, trong tương lai, cũng như trong hiện tại, không thể có một (…) ai tối thắng hơn đức Thế Tôn…»; th́ bấy giờ đức Thế Tôn ấn chứng rằng lời nói của tôn giả Xá-lợi-phất thật sự là tiếng nói không sợ hăi, là tiếng rống của sư tử.

3. Như thuyết tu hành: tu tập đúng như những điều đă được giảng dạy. Tất cả những thực hành chân chánh, đúng với Chánh pháp; sự giảng dạy về những điều thực hành ấy được gọi là «Sư tử hống.» Thí dụ, khi đức Phật bác bỏ các lối tu khổ hạnh và chỉ ra con đường chân chính, thiết thực hơn các khổ hạnh ấy cho các người Ưu-đàm-bà-la, th́ đấy là lúc Ngài đang nói bằng tiếng rống của sư tử, và do đó kinh được đặt tên là Ưu-đàm-bà-la sư tử hống.

Sắc cứu cánh thiên              色究竟天    Akniṣṭha
Tiếng Phạn a-ca-ni-tra 阿迦膩吒, dịch Sắc cứu cánh (thiên) 色究竟天 , Hữu đỉnh (thiên) 有頂天: tầng cao nhất trong 18 tầng trời thuộc Sắc giới, cơi thiền thứ tư.

Số tức quán      samadhi du compter-du-souffle    breath counting meditation    數息觀    ānāpāna-smṛti
Phương pháp thiền quán niệm hơi thở. Hành giả ngồi ngay thắng, để tâm vào hơi thở ra, vào. Để dễ thực tập, một hơi thở vào, ra, đếm một, cho đến mười, rồi từ mười đếm trở lại một. Phương pháp này rất đơn giản, nhưng mang lại hiệu quả rất lớn, giúp hành giả giảm bớt sự căng thẳng, lấy lại tinh thần và năng lượng cho cơ thể.

Sử              使    kleśa
Sai khiến.
Tên khác của phiền năo. V́ phiền năo xui khiến con người rong ruỗi trong thế giới mê vọng, cho nên gọi phiền năo là Sử (sai khiến). Sử đồng nghĩa với Tuỳ miên. Trong 10 Tuỳ miên, có 5 Kiến thuộc về tính thấy là: Hữu thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến. Tinh chất suy cầu đạo lư của 5 kiến này rất linh lợi nên gọi là Ngũ lợi sử. C̣n tính chất của tham, sân, si, mạn, nghi th́ chậm lụt và khó điều phục, nên gọi là Ngũ độn sử.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22