Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22 

Ngũ lực      Cinq forces    five powers    五力    pañca balāni
Năm loại sức mạnh. Năm lực này h́nh thành từ năm căn, phát sanh một thứ sức mạnh thúc đẩy, tăng trưởng, duy tŕ đời sống tu tập đạt đến giải thoát, chúng có khả năng phá trừ điều ác, thúc đẩy làm việc thiện.
- Tín lực (śraddhā-bala).
- Tinh tấn lực (vīrya-bala).
- Niệm lực (smriti-bala).
- Định lực (samādhi-bala).
- Tuệ lực (prajñā-bala).

Ngũ nghịch      cinq forfaits    five heinous crimes    五逆    pañcānantarya
C̣n gọi là Ngũ nghịch tội, Ngũ vô gián tội.
5 tội cực ác, dẫn đến đoạ địa chịu nỗi thống khổ không bao giờ gián đoạn.
Theo Phật giáo Nguyên thuỷ: 1. Giết cha, 2. Giết mẹ, 3. Giết Thánh tăng, 4. Làm thân Phật chảy máu, 5. Phá sự hoà hợp và thanh tịnh của Tăng.

Theo Phật giáo Đại thừa: 1. Phá hoại chùa tháp, đốt kinh, đập tượng, trộm cắp tài sản của Tam bảo, hoặc tạo điều kiện cho người khác thực hiện những việc trên; 2. Huỷ báng Thanh văn, Duyên giác và pháp Đại thừa; 3. Ngăn cản, cấm đoán, bắt bớ, trục xuất những người tu hành, sát hại người xuất gia; 4. Phạm một trong 5 tội ngũ nghịch của Phật giáo Nguyên thuỷ; 5. Chủ trương không có nhân quả nghiệp báo, gây ra 10 nghiệp bất thiện.

Ngũ nhăn      Cinq sortes de vision        五眼    pañca cakṣūṃṣi
5 con mắt nh́n rơ sự và lư của các pháp.
1. Nhục nhăn, Phạm māṃsa-cakṣus, là con mắt của mọi người, mọi loài ở thế gian, có khả năng nh́n thấy và phân biệt được h́nh sắc, cảnh vật.
2. Thiên nhăn, Phạm divya-cakṣus, con mắt của chúng sinh ở cơi trời, hoặc con mắt của người đời (nhục nhăn) đạt được cảnh giới thiền định; sự vật ở xa, rộng, nhỏ bé, vi tế... đều thấy rơ ràng.
3. Huệ nhăn, Phạm prajña-cakṣus, con mắt trí tuệ, quán chiếu và thấy được lư không của các pháp.
4. Pháp nhăn, Phạm dharma-cakṣus, con mắt trí tuệ nh́n thấy thực tướng của các pháp, có năng lực nh́n thấy pháp duyên khởi, chứng ngộ được thực tướng hư huyễn của các pháp, thấy rơ một cách tường tận nguyên nhân sai biệt của các pháp.
5. Phật nhăn, Phạm buddha-cakṣus, con mắt của Phật, có năng lực chứng tri hoàn toàn chân tính của các pháp.

Ngũ thượng phần kết              五上分結    pañca ūrdhvabhāgiya-saṃyo-janani
Năm loại phiền năo tồn tại ở Sắc giới và Vô sắc giới.
Kết là tên gọi khác của phiền năo; phần là sai biệt, khác nhau, tức là để phân biệt trên và dưới, như nói thượng phần tức là thượng giới, là cơi giới ở trên cao, mà thượng giới gồm có hai cơi đó là Sắc giới và Vô sắc giới, gọi chung là Thượng giới.
Ngũ thượng phần kết, gọi đủ là Ngũ thuận thượng phần kết, mà gọi tắt là Ngũ thượng kết hay Ngũ thượng.
Câu-xá luận, quyển 21, ghi: 'Thuận thượng phần có năm thứ: tham Sắc giới, tham Vô sắc giới, trạo cử, mạn, vô minh, khiến cho chúng sanh không thể siêu thoát'.
1. Tham Sắc giới, gọi là Sắc ái kết, tức là những phiền năo do chúng sanh tham đắm 5 thứ dục lạc (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
2. Tham Vô sắc giới, gọi là Vô sắc ái kết, là những phiền năo do tham đắm và vướng mắc trong cảnh giới thiền định ở cơi Vô sắc giới.
3. Trạo kết, là phiền năo do tâm niệm của chúng sanh dao động, khiến cho thiền định thối thất hoặc đánh mất.
4. Mạn kết, là phiền năo do chúng sanh tự cao, tự đại, cho ḿnh hơn người rồi lấn lướt, kiêu mạn.
5. Vô minh kết, là phiền năo do chúng sanh si mê, ngu muội, không thấy được Thánh đế.
Theo Đại t́-bà-sa luận, 5 thượng phần kết này phải nhờ tu tập mới có thể đoạn trừ được (tu sở đoạn).

Ngũ thời bát giáo              五時八教    
5 thời 8 giáo do ngài Trí Khải tông Thiên Thai thành lập. Đại sư Trí Khải căn cứ vào nội dung các kinh điển do đức Phật nói để phân loại, giải thích, rồi theo thứ tự thời gian đức Phật thuyết pháp mà chia làm 5 thời. Lại căn cứ theo phương pháp đức Phật dắt dẫn chúng sinh mà chia giáo pháp của Ngài làm 8 giáo, gọi chung là Ngũ thời bát giáo.
I. Ngũ thời:
1. Thời Hoa Nghiêm: Đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày đầu tiên sau khi Ngài thành đạo cho chúng Đại bồ tát Biệt giáo và các vị ưu tú trong Viên giáo nghe.
Kinh Hoa Nghiêm có chia ra phần trước và phần sau khác nhau. Phần trước là giáo pháp nói trong 21 ngày đầu, không có hàng Thanh văn tham dự; phần sau như phẩm Nhập pháp giới th́ có các vị Thanh văn như ngài Xá lợi phất... (được nói trong khoảng thời gian Phật đi giáo hoá chúng sinh) Nhưng giáo pháp của thời ḱ này quá cao, hàng Thanh văn đều như điếc như câm nên chưa thể nhận lănh được hiệu quả lợi ích của sự giáo hoá.
2. Thời Lộc uyển: Trong khoảng 12 năm sau khi đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm, là thời ḱ Phật nói 4 bộ kinh A hàm trong phạm vi 16 nước lớn. V́ nơi nói pháp đầu tiên trong thời ḱ này là vườn Lộc dă, nên gọi là thời Lộc uyển (thời vườn nai), lại lấy tên kinh đă nói nên cũng gọi là thời A hàm.
3. Thời Phương đẳng: Thời ḱ Phật nói các kinh Đại thừa như Duy ma, Tư ích, Thắng man,... trong khoảng 8 năm sau thời Lộc uyển.
4. Thời Bát nhă: Chỉ cho thời ḱ Phật nói các kinh Bát nhă, trong khoảng 22 năm sau thời Phương đẳng.
5.Thời Pháp hoa Niết bàn: Chỉ cho thời ḱ làm cho người nghe pháp tiến đến cảnh giới cao nhất và chứng nhập tri kiến Phật. Đây là thời ḱ đức Phật nói kinh Pháp hoa trong 8 năm sau cùng và nói kinh Niết bàn 1 ngày 1 đêm trước khi Ngài nhập diệt.
II. Bát giáo:
1. Đốn giáo: Đầu tiên, đức Phật trực tiếp dùng phương pháp tự nội chứng để chỉ dạy chúng sinh, tương đương với thời kinh Hoa nghiêm đă nói.
2. Tiệm giáo: Nội dung của việc hoá là dùng những giáo pháp từ cạn dần dần (tiệm) đến sâu, tương đương với 3 thời: A hàm, Phương đẳng, Bát nhă.
3. Bí mật giáo: Đức Phật ứng theo căn cơ, năng lực, bản chất bất đồng của chúng sinh mà truyền dạy các giáo pháp khác nhau.
4. Bất định giáo: Chúng sinh tuy cùng tham dự một pháp hội nhưng tuỳ theo năng lực, tŕnh độ của mỗi người mà hiểu giáo pháp khác nhau.
5. Tạm tạng giáo: Gọi tắt là Tạng giáo. Giáo pháp Tiểu thừa.
6. Thông giáo: Giáo chung cho cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa tu học.
7. Biệt giáo: Giáo pháp chỉ nói riêng cho Bồ tát.
8. Viên giáo: Viên nghĩa là là không thiên lệch, tṛn đủ dung hợp lẫn nhau. Tức bất luận mê hay ngộ, về mặt bản thể đều không phân biệt. Đó là chân lí mà Phật đă giác ngộ, cho nên Viên giáo chỉ rơ sở ngộ của Phật, tức là nêu bày giáo pháp tự nội chứng của Ngài.

Ngũ thừa      cinq véhicules    five vehicles    五乗    pañca yāna
Năm cổ xe chở chúng sinh đến thế giới an vui, giải thoát.
1. Nhân thừa: Quy y Tam bảo và giữ năm giới. Nếu ai nương theo pháp này mà tu hành th́ cũng như lên chiếc xe đi ra khỏi ba đường ác, thẳng đến cơi người.
2. Thiên thừa: Dùng 10 điều thiện, 4 thiền 8 định làm xe, chở chúng sinh vượt khỏi 4 châu cơi người, sinh lên các cơi trời.
3. Thanh văn thừa: Tứ diệu đế là cổ xe chuyên chở chúng sinh vượt qua 3 cơi, đến Niết bàn hữu dư, chứng thành A la hán.
4. Duyên giác thừa: 12 Nhân duyên là cổ xe chuyên chở chúng sinh ra khỏi ba cơi, đến Niết bàn vô dư, thành Bích chi Phật.
5. Bồ tát thừa: Sáu pháp ba la mật, vừa Từ Bi, vừa trí tuệ là cổ xe chuyên chở chúng sinh vượt qua cảnh giới của 3 thừa 3 cơi thẳng đến Đại niết bàn, chứng quả Vô thượng bồ đề.

Ngũ trược      cinq impuretés ou cinq troubles    five defilements    五濁    pañca kaṣāyāḥ
5 thứ cặn đục, xấu ác nổi lên trong thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, thuộc kiếp giảm.
1. Kiếp trược, kalpa-kaśāya: Trong thời kỳ kiếp giảm, khi tuổi thọ con người giảm xuống c̣n 30 tuổi th́ nạn nói kém xảy ra, lúc c̣n 20 tuổi th́ nạn bệnh dịch xảy ra và lúc c̣n 10 tuổi th́ nạn binh đao nổi dậy, chúng sinh trong thế giới thảy đều bị hại.
2. Kiến trược, Dṛṣṭi-kaṣāya: Chính pháp diệt hết, Tượng pháp dần dần xuất hiện, tà pháp bắt đầu sinh, tà kiến tăng mạnh, khiến con người không tu pháp lành.
3. Phiền năo trược, Kleśa-kaṣāya: Chúng sinh nhiều ái dục, tham lam, bỏn sẻn, tranh đua, nịnh hót, lừa gạt, tiếp nhận các pháp tà, làm cho tâm thần bị năo loạn.
4. Chúng sinh trược, Sattva-kaṣāya, cũng gọi hữu t́nh trược: Chúng sinh phần nhiều tồi tệ, xấu xa, không hiếu kính cha mẹ, người lớn tuổi, không sợ quả báo ác, không tạo công đức, không tu tuệ thí, chẳng giữ trai giới.
5. Mệnh trược, Āyu-kaṣāya, cũng gọi thọ trược: Đời xưa con người thọ 8 vạn tuổi, đời nay do nghiệp ác tăng mạnh nên tuổi thọ giảm dần, hiếm người sống được trăm tuổi.

Ngũ uẩn      Cinq agrégats    Five aggregates    五蘊    Pañca Skandha
Uẩn tiếng Phạm là skandhāḥ, có nghĩa là tích tập, là tổ hợp, hay nhóm. Skandhāḥ c̣n được dịch là ấm, có nghĩa là che đậy. 5 uẩn, pañca skandhāḥ, là 5 yếu tố, hay 5 nhóm kết hợp lại tạo thành một chúng sinh nói chung, con người nói riêng, gồm sắc (yếu tố vật chất), thọ, tưởng, hành và thức (yếu tố tinh thần). Trong đó,
1. Sắc uẩn là tứ đại, gồm đất (những phần cứng như xương, thịt…), nước (chất lỏng như máu, nước mắt…), gió (là những thể khí như hơi thở…), và lửa (hơi ấm, nhiệt lượng).
2. Thọ uẩn là một nhóm cảm giác, c̣n gọi là cảm thọ. Con người có rất nhiều loại cảm giác, nhưng khái quát th́ có ba loại chính: khổ thọ, lạc thọ và xả thọ (cảm giác không khổ không lạc).
3. Tưởng uẩn là nhóm tri giác, chỉ cho động tác của trí năng trên ảnh tượng thu nhận được, nghĩa là khi các giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh, nhóm tri giác này thu nhận, suy tư, duy tŕ, ghi nhớ và cấu thành khái niệm. Nói cách khác, tưởng uẩn là nơi tập trung những đối tượng và khái niệm hóa các đối tượng này thành những nhận thức.
4. Hành uẩn là nhóm tạo tác hay thúc đẩy tạo tác, là một loại ư chí, chủ tâm, tính toán thúc đẩy hành động. Hành uẩn là những hoạt động có ư chí, những tâm lư phát sinh động lực đưa đến tham dục, sân hận, ước muốn, t́nh yêu…là thủ phạm tạo nghiệp đưa đến thiện, ác và luân hồi.
5. Thức uẩn là khả năng phân biệt, gồm có nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức.

Xem thêm về 5 uẩn


Ngạ quỷ      esprits affamés    Hungry ghost    餓鬼     preta
Quỷ đói. Là một trong 3 đường ác, một trong 5 hay 6 đường mà chúng sinh sẽ đi đến tuỳ theo nghiệp của ḿnh đă tạo. C̣n có tên là Quỷ đạo, Quỷ thú, hay Ngạ quỷ đạo. Loài quỷ này thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn.

Ngă      Soi ou moi-substance    mine    我    ātman
Cái tôi, cái ta, hay linh hồn, hoặc chỉ chung cho chủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn gốc của mọi vật và chi phối cá thể thống nhất.
Phật giáo chủ trương thuyết vô ngă, phủ nhận cái tôi, cái ta hay linh hồn.

Truy t́m tự ngă


Ngă ái          self-love    我愛     ātma-sneha
Yêu quư cái "ta" rất sâu đậm, là 1 trong 4 phiền năo căn bản, do thức thứ 7 (mạt na thức) chấp thức thứ 8 (a lại da thức) làm ngă mà sinh khởi.

Ngă chấp          egocentrism    我執    Ātma-grāha
Cố chấp có thực ngă. Thể của chúng sinh chỉ do 5 uẩn giả hợp mà thành, nếu chấp có thực ngă chủ tể tồn tại mà sinh ra vọng tưởng phân biệt ta và của ta, th́ gọi là Ngă chấp.

Ngă chấp tập khí              我執習氣    ātma-grāha-vāsanā
C̣n gọi là Ngă chấp huân tập.
Chỉ cho chủng tử h́nh thành từ sự chấp ngă (diễn ra trong thức thứ sáu ư thức và thức thứ bảy mạt-na thức).
Thành duy thức luận giải thích: Ngă chấp tập khí, đó là chủng tử của ngă và ngă sở được chấp thủ một cách bất thực. Ngă chấp có hai: Một, câu sinh ngă chấp, loại kiến chấp về ngă và ngă sở bị đoạn trừ bởi tu đạo. Hai, phân biệt ngă chấp, lọai kiến chấp ngă, ngă sở bị đoạn trừ bởi kiến đạo.
Tùy theo chủng tử được huân tập thành hai loại ngă chấp này mà có sự sai biệt ta và nó trong các hữu t́nh.

Ngă kiến          self-view    我見    Ātma-dṛṣṭi
Nhận thức, quan niệm về một cái ngă có thật. C̣n gọi là Thân kiến. Có 2 loại:
1. Nhân ngă kiến: Chấp trước thân tâm do 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức giả hợp này là một cái ngă có thực.
2. Pháp ngă kiến: Cho rằng tất cả các pháp đều có thể tính thực tại.

Ngă mạn      arrogance    identity    我慢    Asmimāna
Tâm kiêu mạn do chấp ngă là trung tâm, 1 trong 7 thứ mạn, 1 trong 9 thứ mạn.
Luận Thành duy thức quyển 4 định nghĩa: "Ngă mạn là tâm cao ngạo do chấp ngă mà sinh".

Ngă sở          possessions of the self    我所    mama-kāra
Ngă sở hữu.
Quan niệm cho rằng các vật ngoài tự thân đều là vật sở hữu của ta.

Ngă si          delusion regarding the self    我癡    ātmamoha
Si mê nơi ngă tướng, ngu tối không thấy lư vô ngă. Cùng với Ngă kiến, Ngă mạn, Ngă ái hợp thành 4 thứ phiền năo căn bản.
Duy thức tam thập tụng nói rằng, bốn thứ phiền năo thường liên hệ với nhau là ngă si, ngă kiến, ngă mạn và ngă ái. Tất cả mọi phiền năo, nghiệp chướng phát sinh đều do sự ngu si dẫn đầu, cho nên biết rằng do ngă si mà ba thứ phiền năo kia phát sinh. Ngă si là đứng đầu trong các phiền năo vô minh.

Nghiệp      karma    action    業    Karman
Nghiệp là hành động có dụng tâm (có tác ư). Ư chí trong nội tâm muốn làm một việc ǵ đó gọi là Ư nghiệp; c̣n dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ư chí th́ gọi là Thân nghiệp, Ngữ (Khẩu) nghiệp.

Nghiệp bệnh          karmic illness    業病    
Cũng gọi là Nghiệp chướng bệnh.
Chỉ cho bệnh tật do nghiệp đời trước sinh ra. Do nghiệp ác gây nên ở đời trước mà bị bệnh nan y, nằm liệt giường, thuốc thang chẳng khỏi, khổ sở trăm bề, cầu sống không được, cầu chết không xong. Nguyên nhân là do nghiệp cũ, th́ cần phải sám hối nghiệp chướng, đọc tụng và viết chép kinh điển, cúng dường tán thán chư Phật, Bồ tát, bố thí pháp giới chúng sinh, nhờ công đức ấy tiêu trừ nghiệp bệnh.

Nghiệp báo          Karma-reward    業報    
Cũng gọi là nghiệp quả.
Kết quả của nghiệp nhân đă tạo nên. Tuỳ theo nghiệp nhân đă tạo là thiện hay ác mà thọ lấy quả báo vui hay khổ. Nghiệp thiện th́ được quả báo tốt đẹp, nghiệp bất thiện th́ cảm quả báo xấu ác, nghiệp vô kí (không thiện không ác) th́ không mang lại quả báo.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22