Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7 

Tất Đạt Đa (thái tử)      Gautama Siddharta (prince)        悉達多    Siddhārtha
Tên của Đức Phật khi c̣n là Thái tử con vua Tịnh Phạn.
Khi Đức Phật đản sinh làm trưởng tử của vua Tịnh phạn thành Ca Tỳ La Vệ, tiên A Tư Đà xem tướng biết vị Vương tử này nhờ các thiện căn công đức ở đời trước nên có đầy đủ tướng tốt thù thắng, có năng lực thành tựu tất cả việc lành. Nếu Vương tử ở nhà th́ chắc chắn sẽ làm Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia th́ sẽ thành Vô thượng chánh giác. V́ thế, để biểu thị ư nghĩa nói trên, nên Thái tử được đặt tên là Tất đạt đa: Thành tựu tất cả mọi điều tốt đẹp.

Tứ ma      Quatre démons        四魔    Catvāro mārāḥ
Bốn loài ma đoạt mất thân mạng và trí tuệ của con người.
1. Ấm ma, skandha-māra, c̣n gọi là Uẩn ma, Ngũ ấm ma, Thân ma: Con ma 5 uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức. 5 uẩn tích tụ lại thành quả khổ sinh tử, pháp sinh tử này thường cướp đi tuệ mạng của chúng sinh.
2. Phiền năo ma, kleśa-māra, cũng gọi là Dục ma: 108 thứ phiền năo trong ḿnh thường năo loạn tâm thần chúng sinh, cướp đi tuệ mạng, khiến không thành tuệ được bồ đề.
3. Tử ma, mṛtyu-māra: Con ma chết. Sự chết làm cho 4 đại của chúng sinh phân tán, hoặc chết yểu, khiến người tu hành mất cơ hội tiếp tục tu tập, không thể kéo dài tuệ mạng.
4. Thiên tử ma, deva-putra-māra, cũng gọi là Tha hoá tự tại thiên tử ma, Thiên ma: Tức vua ma ở tầng trời thứ 6 của cơi Dục, thường phá hại các việc tốt lành của con người, ghen ghét với pháp của bậc Hiền thánh, gây những việc nhiễu loạn, làm cho người tu hành không thành tựu được thiện căn xuất thế.

Tam đồ      trois voies     three destinies    三塗    
Ba đường. Đồng nghĩa với Tam ác đạo (ba đường ác).
1. Hoả đồ: Tức đường địa ngục. Chúng sinh ở đây chịu khổ nung nấu như bị bỏ vào vạc dầu sôi, ḷ than hồng; hoặc ở đây có rất nhiều đống lửa lớn thiêu đốt tội nhân, v́ thế gọi là Hoả đồ.
2. Đao đồ: Tức đường ngă quỉ. Chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ đánh chém bằng dao gậy và bức bách xua đuổi, cho nên gọi là Đao đồ.
3. Huyết đồ: Tức đường súc sinh. V́ chúng sinh chịu tội ở đây thường bị cái khổ kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, ăn nuốt lẫn nhau, uống máu của nhau nên gọi là Huyết đồ.

Tam độc      Trois poisons    Three poisons    三毒    
Chỉ cho 3 thứ phiền năo: Tham dục, sân hận, ngu si. Tất cả phiền năo gọi chung là ĐỘC, nhưng 3 thứ phiền năo này có khắp 3 cơi, là thứ độc hại nhất trong thiện tâm xuất thế của chúng sinh, thường khiến loài hữu t́nh chịu khổ trong nhiều kiếp không thoát ra được, cho nên đặc biệt gọi là Tam độc. Ba thứ độc này là nguồn gốc của 3 hành vi xấu ác: thân bất thiện, khẩu khẩu bất thiện, ư bất thiện, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn, đứng đầu các phiền năo căn bản.

Tam đức      trois vertus         三德    triguṇa
I. Ba đức tướng của Đại niết bàn:
1. Pháp thân: Thân vốn có sẵn của tất cả mọi chúng sinh, nhưng chỉ khi nào tu tập thành tựu mọi pháp công đức mới chứng được pháp thân này.
2. Giải thoát: Cởi bỏ tất cả mọi sự trói buộc của phiền năo.
3. Bát nhă: Trí tuệ giác ngộ.
II. Ba đức tướng của quả vị Phật:
1. Trí đức: Trí tuệ của Phật quán xét tất cả các pháp. Phật dùng trí tuệ này để cứu độ chúng sinh, nên gọi là Trí đức.
2. Đoạn đức: Đoạn diệt tất cả mọi phiền năo th́ có được công đức vô lượng.
3. Ân đức: Nguyện lực cứu độ chúng sinh, ban ân huệ cho tất cả chúng sinh. Cho nên, chư Phật, Bồ tát có ân đức rất lớn đối với chúng sinh.

Tam đức lục vị              三德六味    
Căn cứ Kinh Đại bát niết bàn, khi Phật sắp nhập diệt, các Phật tử đă chuẩn bị rất nhiều phẩm vật để dâng lên cúng dường đức Phật và chư Tăng một lần sau cuối. Những thực phẩm rất phong phú, đặc biệt có đầy đủ ba đức tính và sáu hương vị. Từ sự kiện lịch sử này, đời sau, các chùa thường thiết lễ Cúng Ngọ và đọc câu 'ba đức, sáu vị; cúng Phật cùng tăng..."
- Ba đức: mềm, tinh khiết, đúng như pháp, tượng trưng cho ba thân của Phật (Pháp thân, Báo thân, Ứng hoá thân) hoặc ba đức tướng của quả vị Phật (Trí đức, Đoạn đức, Ân đức).
- Sáu vị: ngọt, đắng, chua, cay, mặn, nhạt, trong đó, vị chua là Khổ, mặn là Vô thường, đắng là Vô ngă, vị ngọt như Lạc, vị cay như Ngă, vị nhạt là Thường.

Tam ác đạo      trois mauvaises voies    the three evil paths, three bad migrations    三惡道    sannaku, san-akushu
Ba đường ác. Cũng gọi là Tam ác thú, Tam đồ, Tam ác.
1. Địa ngục: Ở dưới đất, giữa núi Thiết vi có 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng; những người tạo 10 nghiệp ác cực nặng sẽ bị đoạ vào đường này.
2. Ngă quỉ: Những người tạo 10 nghiệp ác bậc trung sẽ bị đoạ vào đường này. Trong đó, lại chia làm ba thành phần. Đối với người tội năng th́ nhiều kiếp không nghe thấy tên nước uống; người tội vừa th́ chỉ t́m kiếm được máu mủ, phẩn dơ của người thế gian; người tội nhẹ hơn nữa th́ thỉnh thoảng mới được một bữa ăn no do người đời cúng thí.
3. Súc sinh: Những người tạo 10 nghiệp ác bậc nhẹ th́ rơi vào đường này. Gồm những loài có lông vũ, loài có sừng, loài có vảy, loài 2 chân, 4 chân, nhiều chân, loài không chân, loài bơi dưới nước, loài bay trên không, loại đi trên đất...

Tam bảo      trois trésors    three treasures    三寶    triratna
Ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, được tín đồ Phật giáo tôn kính, cúng dường.
Phật (Buddha) là bậc đă giác ngộ, có năng lực giáo hoá, dẫn dắt chúng sinh; Pháp (Dharma) là giáo pháp của Phật; Tăng (Saṃgha) là tăng đoàn đệ tử của Phật tu học theo giáo pháp. Ba ngôi trên có uy đức cao tột, có năng lực mang lại giải thoát, yên vui cho hết thảy chúng sinh, mà không một thứ của báu nào giữa thế gian có thể sánh được, nên gọi là Tam bảo.

Tam chướng      Trois obstacles    Three hindrances    三障    Trīṇy āvaranāni
Ba thứ gây trở ngại sự tu tập.
Ba thứ chướng ngại lớn nhất:
1. Phiền năo chướng, kleśāvaraṇa: Con người vốn có đầy đủ 3 phiền năo tham, sân, si, rất khó trừ bỏ, khó dạy bảo, khó mở tỏ, khó chán ĺa, khó được giải thoát.
2. Nghiệp chướng, karmāvaraṇa: Chỉ cho 5 nghiệp vô gián (phạm 5 tội cực nặng: giết cha, giết mẹ, giết a la hán, làm thân phật chảy máu, phá hoà hợp tăng), là những nghiệp ác do thân, miệng, ư gây ra, khiến đoạ lạc trong địa ngục không có cơ hội tu tập.
3. Dị thục chướng, vipākāvaraṇa: C̣n gọi là Báo chướng, Quả báo chướng. Những quả báo 3 đường ác do nhân phiền năo và nghiệp đưa đến.

Tam chủng tập khí              三種習氣    
C̣n gọi là tam chủng huân tập, tam huân tập.
Ba loại tập khí
Ba loại huân tập
Do phần khí hiện hành (thói quen hiện tại) huân tập mà thành.
1. Danh ngôn tập khí: Y vào ngôn ngữ, chủng tử được huân tập để làm nhân duyên trực tiếp cho từng pháp hữu vi cá biệt. Có hai loại danh ngôn:
- Biểu nghĩa danh ngôn: Sự sai biệt của âm thanh có khả năng giải thích rơ ràng nghĩa lư.
- Hiển cảnh danh ngôn: Khả năng nhận thức, phân biệt cảnh giới rơ ràng của tâm và tâm sở.
2. Ngă chấp tập khí: Do chấp ngă huân tập mà thành chủng tử khiến cho chúng sanh hữu t́nh phân biệt sai khác giữa ta và người. Có hai loại:
- Câu sanh ngă chấp: Có mặt trong cả thức thứ sáu và thứ bảy. Trừ bậc Vô học, Bồ-tát từ bát địa trở lên và Như lai, c̣n lại tất cả chúng sanh đều có tập khí này từ khi mới sanh ra.
- Phân biệt ngă chấp: Chỉ cho thức thứ sáu, do ư thức phân biệt mà huân tập thành.
3. Hữu chi tập khí: Chủng tử của nghiệp chiêu cảm quả báo dị thục trong ba cơi. ‘Hữu’ là chỉ cho tam hữu, tức ba cơi dục, sắc và vô sắc; ‘chi’ là cái ‘nhân’; ‘tập khí’ là do phần khí, ‘cái hơi’ của hiện hành nó xông ướp, huân tập mà thành, tức là chủng tử. Hữu chi tập khí, nghiệp chủng tử, dị thục tập khí và hữu chi huân tập, bốn từ này cùng một ư nghĩa.
Luận Thành duy thức, quyển 8, ghi: ‘Hữu chi tập khí, đó là chủng tử của nghiệp chiêu cảm quả báo dị thục trong ba cơi. Hữu chi có hai, một là thiện hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái; hai là bất thiện, tức nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hai loại hữu chi này mà có sự sai biệt của các cơi do bởi nghiệp di thục.'

Tam giải thoát môn      trois méditations pour la délivrance    three gates of liberation    三解脫門    trīṇi vimokṣa-mukhāni
Gọi tắt là Tam môn. 3 cánh cửa giải thoát, 3 pháp môn tu học giúp đạt được giải thoát, chứng đạt niết bàn.
1. Không môn, śūnyatā: Quán xét tất cả các pháp đều không có tự tính, do nhân duyên hoà hợp mà sinh, không có ta, không có của ta, tất cả các pháp đều không thật, vô thường... Thấy được sự thật này th́ sẽ được tự tại, giải thoát.
2. Vô tướng môn, animitta: C̣n gọi Vô tưởng môn. Đă biết tất cả các pháp đều là Không, nên không chấp trước, không vướng mắc vào h́nh tướng, đạt được trí vô phân biệt, tự tại vô ngại.
3. Vô nguyện môn, apraṇihita: C̣n gọi Vô tác môn, Vô dục môn. Nếu biết tất cả các pháp là vô tướng th́ trong 3 cơi không mong cầu điều ǵ nữa, không tham muốn điều ǵ nữa, nếu không mong cầu th́ không tạo tác nghiệp sinh tử, nếu không tạo nghiệp sinh tử th́ không phải chịu khổ đau, do đó được tự tại.

Tam giới      trois plans     three categories of self-restraint    三界    trayo dhātavaḥ
Ba cơi chúng sinh qua lại cư trú trong quá tŕnh sinh tử luân hồi.
1. Dục giới (Kama-dhātu): Thế giới của các loài chúng sinh có tính dâm dục, t́nh dục, sắc dục và thực dục cư trú. Trên có 6 tầng trời, giữa có bốn đại châu cơi người, dưới có ba đường ác.
2. Sắc giới (Rūpa-dhātu): Thế giới cư trú của loài chúng sinh đă xa ĺa dâm dục và thực dục ở cơi Dục, nhưng vẫn c̣n có sắc chất thanh tịnh. Cơi này ở phía trên cơi Dục, không có các thứ dục nhiễm, cũng không có thân nữ, chúng sinh ở cơi này đều do hoá sinh. Cơi này tuỳ theo thiền định sâu cạn mà được chia làm bốn bậc, từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tổng cộng có 18 tầng trời.
3. Vô sắc giới (Ārūpya-dhātu): Thế giới cư trú của loài chúng sinh chỉ có thụ, tưởng, hành, thức chứ không có vật chất, cũng không có thân thể, cung điện, quốc độ, chỉ có tâm thức trụ trong thiền định sâu xa mầu nhiệm. Thế giới này trên cơi Sắc, có tất cả 4 tầng trời.

Tam học      trois disciplines     three practices    三學    tisraḥ śikṣāḥ
I. Ba môn học đưa đến giải thoát:
1. Tăng thượng giới học, adhiśīla-śikṣā, c̣n gọi là Tăng giới học, Giới học: Đ́nh chỉ mọi việc làm ác, thực hành mọi việc thiện, giữ ǵn ba nghiệp thân, khẩu, ư thanh tịnh.
2. Tăng thượng tâm học, adhicitta-śikṣā, c̣n gọi Tăng thượng ư học, Tăng tâm học, Định học: Khắc phục tinh thần tán loạn, diệt trừ hôn trầm, giữ tâm yên tĩnh, lắng đọng, an trú một chỗ, một niệm chuyên nhất.
3. Tăng thượng tuệ học, adhiprajñā-śikṣā, c̣n gọi Tăng tuệ học, Tuệ học: Trí tuệ hiểu rơ tướng chân thật của các pháp.
Ba môn học này có tính chất nhân quả với nhau. Nhờ giữ giới mà tâm được định, nhờ tâm an định mà trí tuệ phát sinh, nhờ có trí tuệ mà đạt được giải thoát. Cho nên, trong giới có định, trong định có tuệ, giới định tuệ là một. Đây là ba môn học nền tảng của Phật giáo.
II. Chỉ cho Hữu học, Vô học, Phi học phi vô học:
1. Hữu học, śaikṣa: Chỉ cho những người tu tập đă chứng được Tứ hướng tam quả (tức là bốn quả vị hướng đến bốn quả Thánh là Tu đà hoàn hướng, Tư đà hàm hướng, A na hàm hướng, A la hán hướng; và ba quả Thánh Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm). V́ các bậc này c̣n phải tu học để đạt đến quả vị giải thoát hoàn toàn, nên gọi là bậc Hữu học.
2. Vô học, aśaikṣa: Chỉ cho bậc đă chứng quả A la hán. A la hán đă đoạn sạch phiền năo, chứng quả Vô sinh, những việc cần làm đă làm xong, không c̣n ǵ để học, nên gọi là bậc Vô học.
3. Phi học phi vô học, naivaśaikṣa-nāśaikṣa: Chỉ cho hàng phàm phu không chứng được quả vị ǵ cả.

Tam hoặc      Trois illusions     Three delusions    三惑     
Cũng gọi Tam chướng.
1. Kiến tư hoặc: Kiến hoặc và Tư hoặc. Kiến hoặc là do các tà kiến sinh khởi khi ư căn tiếp xúc với pháp trần. Tức là phiền năo mê lầm đối với đạo lư trong 3 đời. Tư hoặc là tư tưởng chấp trước dấy lên khi 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tham đắm nơi 5 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tcs là phiền năo mê lầm đối với sự lư ở hiện tại. Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều phải đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc th́ mới chứng được Thánh quả, nên gọi nó là Thông hoặc. V́ nó chiêu cảm sinh tử trong 3 cơi nên thuộc về hoặc nội giới (phiền năo tiềm tàng bên trong tâm), phải dùng quán chiếu tính Không mới trị được nó.
2. Trần sa hoặc: Các hoặc chướng sinh khởi v́ mê lầm đối với các pháp thuộc giới nội, giới ngoại nhiều như số cát sông Hằng, gọi là Trần sa hoặc. Bồ tát sau khi đoạn trừ Kiến tư hoặc, dễ bị dính mắc vào Không quán, gây chướng ngại cho việc tự tại giáo háo độ sinh của Bồ tát, nên Trần sa hoặc c̣n được gọi là Trước không hoặc, Hoá đạo chướng hoặc. V́ hoặc này chỉ có Bồ tát đoạn trừ nên cũng gọi là Biệt hoặc, thuộc cả giới nội và giới ngoại, phải dùng Giả quán để đối trị.
3. Vô minh hoặc: Đối với tất cả pháp không rơ biết nên gọi là Vô minh. Tức là phiền năo mê lầm về Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Vô minh hoặc là chủng tử của nghiệp tức, cội rễ của phiền năo, thuộc về giới ngoại, chỉ có Bồ tát Đại thừa, tu cả định lẫn tuệ, đầy đủ muôn hạnh mới đoạn trừ được hoặc này, cho nên cũng gọi là Biệt hoặc và dùng Trung quán để đối trị.
Thật ra, Tam hoặc vốn từ 1 hoặc mà chia ra theo tính chất thô và tế, chứ thể của hoặc th́ không khác, tính thô gọi Kiến tư, tính tế gọi là Vô minh, ở khoảng giữa th́ gọi là Trần sa, cho nên việc đoạn trừ lẽ ra không có thời gian trước sau khác nhau.

Tam khổ      Trois souffrances    Three kinds of suffering    三苦    Tisro-duḥkhatāḥ
Ba thứ khổ
1. Khổ khổ: Những khổ đau do đói, khát, lạnh, nóng...
2. Hoại khổ: Những hạnh phúc, niềm vui khi đă qua đi, tan vở... th́ sinh ra đau khổ.
3. Hành khổ: Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, biến đổi nên khổ.

Tam lậu              三漏    traya āsravāḥ
Ba loại phiền năo: Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu.
Lậu là tên gọi khác của phiền năo.
Phiền năo trong tâm theo ngơ sáu căn ṛ rỉ ra bên ngoài khiến cho chúng sanh hữu t́nh buồn khổ, khiến chúng sanh hữu t́nh trôi lăn trong sanh tử luân hồi không gián đoạn, cho nên gọi phiền năo là lậu.
Dục lậu là phiền năo ở Dục giới. Hữu lậu là phiền năo ở Sắc giới và Vô sắc giới. Vô minh lậu là phiễn năo si mê tồn tại ở cả ba cơi.
Kinh Đại bát-niết-bàn, quyển 22, ghi: "Tất cả phiền năo ở Dục giới, trừ vô minh, gọi là Dục lậu; tất cả phiền năo ở Sắc giới và Vô sắc giới, trừ Vô minh, gọi là Hữu lậu; vô minh tồn tại ở cả ba cơi gọi là Vô minh lậu".
Tam lậu tổng cộng có 108 phiền năo. Trong đó, Dục lậu có 41 loại, Hữu lậu có 52 loại, Vô minh lậu có 15 loại.
Đại tỳ-bà-sa luận, quyển 47, ghi: ‘Chúng sanh hữu t́nh sở dĩ ở Dục giới là do tâm của chúng có tham dục, vui thích ở nơi dục, ham muốn nơi dục, hy vọng nơi dục, mong cầu nơi dục, t́m kiếm nơi dục, đắm nhiễm nơi dục, cho nên phát sanh các phiền năo ở trong Dục giới, trừ vô minh ra, gọi là Dục lậu. Chúng sanh hữu t́nh sở dĩ ở Sắc giới và Vô sắc giới là do tâm tư của chúng bám víu vào hữu, vui thích với hữu, ham muốn với hữu, hy vọng với hữu, mong cầu với hữu, t́m kiếm hữu, đắm nhiễm hữu, cho nên phát sanh các phiền năo ở trong Sắc và Vô sắc giới, trừ vô minh, gọi là Hữu lậu. Chúng sanh hữu t́nh sống trong ba cơi đều do tâm của chúng có dục có hữu, cho đến đắm nhiễm nơi dục, nơi hữu, mà chính yếu là do sức mạnh của ngu si, cho nên sự ngu si trong ba cơi đáng lập riêng ra một lậu, gọi là Vô minh lậu.
Lại nữa, chúng sanh hữu t́nh Dục giới tuy cũng có mong cầu đối với hữu, nhưng phần lớn là mong cầu đối với dục, cho nên phiền năo ở Dục giới, trừ vô minh ra, gọi là Dục lậu; Sắc và Vô sắc giới hữu t́nh chúng sanh hoàn toàn không mong cầu nơi dục, chỉ mong cầu hữu, cho nên gọi là Hữu lậu.'

Tam luân              三輪    
Chỉ cho người bố thí, người nhận sự bố thí và phẩm vật bố thí. Lúc thực hành bố thí nếu có thể an trú trong Không quán, tức là không bị vướng mắc và chấp trước việc ḿnh bố thí (năng thí), người nhận sự bố thí (sở thí) và vật bố thí th́ gọi là tam luân thể không, tam luân thanh tịnh, tam sự giai không. Đây là một trong những tư tưởng chủ đạo của kinh Bát nhă.

Tam mật      triple mystère ou trois secrets        三密    trīṇi guhyāni
Là ba nghiệp bí mật, tức Thân mật (kāya-guhya), Khẩu mật (vāg-guhya), và Ư mật (mano-guhya). Khẩu mật c̣n gọi là Ngữ mật và Ư mật cũng gọi là Tâm mật. Thuật ngữ này do Mật giáo Tây tạng sử dụng là chủ yếu.
1. Theo sự giải thích của Hiển giáo, không thể dùng sự suy tư của phàm phu mà lường biết được ba nghiệp của Phật, nên gọi là Tam mật.
Thân mật: Đức Như lai ở giữa đại hội, đại chúng thấy sắc thân của Phật cao, thấp khác nhau, cho đến đại thần biến đều không thể nghĩ bàn.
Ngữ mật: Khi đức Phật nói pháp, người ở cách xa hoặc một dặm, hoặc mười dặm hoặc trăm ngàn dặm đều nghe được âm thanh của Phật. Hơn nữa, trong cùng một hội, người nghe bố thí, người nghe tŕ giới... mỗi người tuỳ theo chỗ ḿnh nghe đều không thể nghĩ bàn.
Ư mật: Phật thường ở trong thiền định vắng lặng, những chỗ ngài tư duy, quán xét đều không thể nghĩ bàn.
2. Theo sự giải thích của Mật giáo th́ ba nghiệp của Phật thuộc về Dụng đại (tác dụng của Chân như) trong 3 đại Thể, Tướng, Dụng. Tác dụng ấy rất sâu xa nhỏ nhiệm, sự nghĩ lường của phàm phu không thể nào biết được, hàng Bồ tát Thập địa, Đẳng giác cũng không thể thấy nghe, cho nên gọi là Tam mật. Tam mật của Phật nếu ứng hợp với Tam mật của chúng sinh th́ thành tựu nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Tam nghiệp của chúng sinh chẳng những khế hợp với Tam mật của Phật mà c̣n hàm nhiếp trong đó. Lại nữa, bản tính ẩn kín trong tâm chúng sinh cũng giống với Tam mật của Phật, tức thực tướng tam nghiệp của chúng sinh đều là tác dụng của pháp tính Lục đại và tương đồng với Tam mật của Phật, v́ thế ba nghiệp thân, khẩu, ư của chúng sinh cũng gọi là Tam mật. Trong Tam mật của chúng sinh, hành giả dùng tay kết ấn của Bản tôn, cho đến tất cả việc đi, đứng, ngồi, nằm của hành giả đều gọi là Thân mật. Miệng hành giả tụng chân ngôn, cho đến tất cả lời nói thuộc về khẩu nghiệp, đều gọi là Ngữ mật. Tâm của hành giả quán tưởng Bản tôn, cho đến khởi lên ư niệm về tất cả sự nghiệp... đều gọi là Ư mật. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật gọi là Tam mật dụng đại, cùng với Lục đại thể đại và Tứ mạn tướng đại gọi chung là Tam đại.

Tam minh      trois connaissances mystiques     three awarenesses    三明    tisro-vidyāḥ
Cũng gọi Tam đạt, Tam chứng pháp.
Ba loại trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được quả vị Vô học.
1. Túc mệnh trí chứng minh, pūrva-nivāsānusmṛti- jñāna-sakṣāt-kriya-vidyā, cũng gọi là Túc mệnh minh, Túc mệnh trí: Trí tuệ biết rơ tướng trạng của ḿnh từ một đời cho đến trăm ngh́n vạn ức đời, biết rơ trong những đời trước ḿnh sinh ra ở đâu, con của ai, tên ǵ, làm ǵ...
2. Sinh tử trí chứng minh, cyuty-upapāda-jñaṇa-sāk-ṣāt-kriya-vidyā, c̣n gọi là Thiên nhăn minh, Thiên nhăn trí: Trí tuệ biết rơ tướng trạng sống chết của chúng sinh, thấy rơ chúng sinh ấy do nhân ǵ, duyên ǵ mà được sinh ra, sau khi chết sẽ sinh đến chỗ nào...
3. Lậu tận trí chứng minh, āsrava-kṣaya-jñāna-sāk-ṣāt-kriya-vidyā, cũng gọi là Lậu tận trí, Lậu tận minh: Trí tuệ biết rơ như thật đă chứng được lư Tứ đế, biết ḿnh đă diệt trừ hết phiền năo, đă giải thoát hoàn toàn...

Tam nghiệp      trois catégories d'actions ou trois sortes de karma    three conditions    三業    Trīṇi karmāṇi
I. Ba nghiệp thân, miệng, ư:
1. Thân nghiệp: Chỉ cho những việc do thân làm. Nếu thân làm việc ác như giết hại, trộm cướp, tà dâm... th́ tạo nên nghiệp xấu, gọi là Thân ác nghiệp. Nếu thân làm việc tốt, việc thiện, như không giết hại, không trộm cắp... th́ tạo nên nghiệp thiện, gọi là Thân thiện nghiệp.
2. Khẩu nghiệp: Chỉ cho những lời nói. Nếu nói những lời gian dối, nói lời ly gián, nói ác, nói thêm bớt, nói không đúng sự thật, nói những lời gây đau khổ cho người khác... th́ tạo nên nghiệp xấu từ miệng, gọi là Khẩu ác nghiệp. Nếu không nói dối, không nói sai sự thật, ngược lại chỉ nói những lời ái ngữ, những lời nói vun đắp t́nh thương... th́ tạo nên nghiệp thiện, gọi là Khẩu thiện nghiệp.
3. Ư nghiệp: Chỉ cho nghiệp do ư thức tạo nên. Nếu ư tham muốn, sân hận, tà kiến th́ gọi là Ư ác nghiệp. Nếu không tham, sân, si th́ gọi là Ư thiện nghiệp.
II. Ba nghiệp được chia theo tính chất thiện, ác và vô kí:
1. Thiện nghiệp (Kuśala-karma): Những việc làm của thân, miệng, ư được thúc đẩy bởi tâm không tham, không sân, không si.
2. Ác nghiệp ( akuśala-karma): Những việc làm của thân, miệng, ư được thúc đẩy bởi tâm tham, sân, si.
3. Vô kí nghiệp (avyākṛta-karma): Những hành vi tự nhiên, không thúc đẩy bởi tâm niệm xấu hay tốt.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7