Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7 

Tam niệm trụ              三念住    trīṇi smṛty-upasthānāni
C̣n gọi là Tam niệm xứ, Tam ư chỉ. trīṇi smṛty-upasthānāni
Là một trong 18 pháp bất cộng của Phật.
Phật lấy tâm đại bi để nhiếp hóa chúng sinh, thường an trú trong ba niệm này, không có các ư niệm vui, buồn, lo lắng, ưa thích…
1. Chúng sinh tin Phật, tiếp nhận lời Phật dạy để tu hành, Phật không v́ vậy mà sinh tâm hoan hỷ, v́ Phật thường an trụ trong chánh niệm, chánh trí.
2. Chúng sinh không tin Phật, không tiếp nhận lời Phật dạy để tu hành, Phật không v́ vậy mà sinh tâm buồn phiền, v́ Phật thường an trụ trong chánh niệm, chánh trí.
3. Chúng sinh có kẻ vừa tin Phật vừa không tin Phật, cái kiểu khi tin khi không tin, Phật biết hết, nhưng cũng không sinh tâm hoan hỷ hay buồn phiền, v́ Phật thường an trụ trong chính niệm, chính trí.
Ba niệm trên đây đều lấy niệm, tuệ làm thể, và duy chỉ có Phật mới thành tựu đầy đủ công đức này, hàng Nhị thừa không thể đạt được.

Tam phước          three kinds of blessings    三福    
Tam phước hay tịnh nghiệp tam phước là ba yếu tố tu tập căn bản của hành giả pháp môn Tịnh độ. Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, th́ đây cũng chính là ba yếu tố tu tập quan trọng mà ba đời chư Phật, quá khứ, hiện tại và vị lai đều thực hành. Ba yếu tố đó là: Thế phước, Giới phước và Hạnh phước.

Xem bài Tam phước



Tam pháp ấn      trois sceaux du Dharma         三法印    dharma-mudrā
Pháp ấn, tiếng Phạn dharma-mudrā hoặc dharma-uddāna, có nghĩa là dấu ấn của Chánh pháp, là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết Phật pháp. Kinh điển nào có nội dung tư tưởng phù hợp với Pháp ấn th́ được coi là kinh điển do Phật thuyết, ngược lại, kinh điển nào có nội dung tư tưởng trái ngược với Pháp ấn th́ được coi là kinh điển không do Phật thuyết.
Pháp là lư tính tự nhiên và phổ biến cùng khắp. Ấn là dấu ấn, là khuôn dấu, dùng nó để chứng thật là cứu cánh, chính xác. Nhờ khuôn dấu này để xác nhận Phật pháp cho nên gọi là Pháp ấn.
Ba Pháp ấn là giáo nghĩa trọng yếu của Phật pháp, nó giúp ta phán đoán cái được gọi là Phật pháp cuối cùng có đúng là Phật pháp hay không. Khi đem ba Pháp ấn này ra đối chiếu, so sánh, nếu thấy giáo lư nào trái ngược với ba Pháp ấn th́ cho dù giáo lư đó được cho là đích thân do Phật thuyết th́ nó cũng không phải Phật pháp; ngược lại, nếu thấy giáo lư nào khế hợp, tương ưng với ba Pháp ấn, tức là cùng tương ưng với Phật pháp, th́ cho dù có ai đó nói rằng đây không phải do Phật thuyết, th́ nó cũng đúng với Phật pháp như thường.
Ba Pháp ấn là Chư hành vô thường, Chư pháp vô ngă và Niết-bàn tịch tĩnh. Cũng có thể thêm vào sau Chư hành vô thường một dấu ấn nữa là Chư thọ giai khổ để trở thành Bốn Pháp ấn. Tuy nhiên, Khổ là sự phán đoán của bậc giác ngộ đối với chúng sanh hữu t́nh ở thế gian và nó đă bao hàm trong ư nghĩa Chư hành vô thường, cho nên, theo chân tướng của sự lư mà nói th́ Ba Pháp ấn là đă đầy đủ tất cả.
1. Các hành vô thường, Phạm anityāḥ sarva-saṃskārāḥ, cũng gọi là Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn, gọi tắt là Vô thường ấn: Tất cả các pháp hữu vi ở thế gian đều là vô thường, v́ chúng sinh không rơ biết, cho nên đối với vô thường lại chấp thường, bởi vậy Phật nói vô thường để phá cái chấp thường của chúng sinh.
2. Các pháp vô ngă, Phạm nirātmānaḥ sarva-dharmāḥ, cũng gọi là Nhất thiết pháp vô ngă ấn, gọi tắt là Vô ngă ấn: Tất cả các pháp hữu vi trong thế gian đều là vô ngă, vi chúng sinh không rơ biết, cho nên đối với hết thảy pháp đều cho là có chủ tể, bởi vậy Phật nói vô ngă để phá cái chấp ngă của chúng sinh.
3. Niết bàn tịch tĩnh, Phạm śantaṃ nirvāṇam, cũng gọi là Niết bàn tịch diệt ấn, Tịch diệt niết bàn ấn, gọi tắt là Niết bàn ấn: Hết thảy chúng sinh không biết cái khổ sinh tử, nên khởi hoặc tạo nghiệp, trôi lăn trong ba cơi, bởi thế Phật nói pháp Niết bàn đẻ ra khỏi khổ sinh tử, được Niết bàn tịch diệt, an vui.

Tam phân biệt              三分別    tri-vikalpa
Ba loại tác dụng suy tư, phân biệt, gồm:
1. Tự tính phân biệt (svabhāva-vikalpa), cũng gọi là Nhậm vận phân biệt, Tự tính tư duy. Đây là tác dụng nhận biết của tâm thức; đối trước cảnh sở duyên hiện tại (cảnh sở duyên là đối tượng của nhận thức), tâm thức nhận biết một cách tự nhiên, ít phải suy tư, khảo xét. Đây là loại nhận thức đơn thuần.
2. Tuỳ niệm phân biệt (anusmaraṇa-vikalpa), cũng gọi là Tuỳ ức tư duy. Là một loại tác dụng tâm thức tương ứng với ư thức; đối với việc quá khứ, tâm thức này nhớ nghĩ không quên, nhớ tưởng tuỳ theo việc hoặc truy niệm tuỳ theo cảnh.
3. Kế độ phân biệt (abhinirūpaṇā-vikalpa), cũng gọi là Kế độ phân biệt, Suy đạc phân biệt, Phân biệt tư duy. Là tác dụng tính toán suy lường đối với các sự tướng không hiện tiền.
Theo thuyết của Luận Bà-sa th́ Nhị thiền trở lên là các cơi không có Tầm và Tứ nên không có Tự tính phân biệt; từ Sơ thiền trở lên là cơi định nên không có Kế độ phân biệt, chỉ có Tuỳ niệm phân biệt là cả ba cơi đều có.

Tam thế       trois phases de l'existence     three times    三世    trayo dhvānaḥ
Ba khoảng thời gian: Quá khứ, hiện tại và tương lai. C̣n gọi là tiền thế, hiện thế, lai thế, hoặc tiền tế, trung tế, hậu tế.
Chữ 'Thế' có nghĩa là cách biệt, là thay đổi, là biến hoá. Thời gian chuyển biến, thay đổi nên tạo ra khoảng cách quá khứ, hiện tại, tương lai, gọi là 'Thế'. Tuy nhiên, các tông phái Phật giáo thường nói: 'Thời gian không có tự thể riêng biệt, chỉ căn cứ vào các pháp mà đặt ra (thời vô biệt thể, y pháp nhi lập 時無別體,依法而立). Điều này cho thấy Phật giáo không thừa nhận thời gian có tự thể riêng biệt, mà nói rằng thời gian là căn cứ vào trạng trái của các pháp mà phân ra. Nghĩa là, khi các pháp sinh mà có tác dụng th́ gọi là hiện tại, các pháp đă tiêu diệt hết hoặc tác dụng của nó bị dừng lại th́ gọi là quá khứ, các pháp chưa sinh cũng chưa có tác dụng th́ gọi là vị lai.

Tam thế lưỡng trùng nhân quả                  
Các bộ phái Phật giáo đều phân chia 12 chi nhân duyên thành hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời, quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong đó, Vô minh và Hành là hai chi nguyên nhân của đời quá khứ; Thức, Danh sắc, Lục xứ, Xúc, Thọ là năm chi kết quả của đời hiện tại. Đây là lớp nhân quả thứ nhất, nhân quá khứ, quả hiện tại. Tiếp theo, Ái, Thủ, Hữu là ba chi nguyên nhân của đời hiện tại; cuối cùng, Sanh, Lăo tử là hai chi kết quả của đời vị lai. Đây là lớp nhân quả thứ hai, nhân hiện tại, quả tương lai. Như vậy, thuyết Tam thế lưỡng trùng nhân quả giải thích:
1. Vô minh là chỉ cho những phiền năo, những nhận thức sai lầm từ quá khứ.
2. Hành là những nghiệp thiện, nghiệp ác đă tạo từ quá khứ.
3. Thức là thức trong năm uẩn ở sát na đầu tiên khi nhập vào thai mẹ.
4. Danh sắc là 5 giai đoạn phát triển thai nhi trong bụng mẹ: Tuần lễ đầu tiên gọi là Kiết-thích-lam, Phạm Kalalaṃ, c̣n gọi là Ka-la-la, Yết-thích-lam, chỉ cho tinh cha và huyết mẹ bắt đầu kết hợp lại như tơ sương (phôi). Tuần lễ thứ 2 gọi là Án-bộ-đàm, Phạm Arbuda, c̣n gọi là A-bộ-đàm, tức thai nhi từ phôi chuyển thành phôi bào. Tuần lễ thứ 3 gọi là Bế-thi, Phạm Peśī, c̣n gọi là Tế-thi, Bế-thi, tức là phôi bào thành tế bào, có máu và thịt. Tuần lễ thứ 4 gọi là Kiện-nam, Phạm Ghana, c̣n gọi là Kiết-nam, tức là thai nhi h́nh thành. Từ tuần lễ thứ 5 đến tuần lễ thứ 38 gọi là Bát-la-xa-khư, Phạm Praśākhā, là giai đoạn các chi như tay, chân… h́nh thành.
5. Lục xứ là giai đoạn thai nhi trong bụng mẹ đă hoàn thành các căn mắt, tai…
6. Xúc là sự tiếp xúc giữa các căn với các trần sau khi thai nhi ra đời. Sự tiếp xúc này sẽ làm phát sinh tác dụng của nhận thức, nhưng ở đây chỉ là một cảm giác đơn thuần.
7. Thọ là cảm giác thấy vui, buồn, khổ đau, hạnh phúc, tác dụng của nhận thức phân biệt.
8. Ái, sự thèm khát, mong muốn.
9. Thủ, bằng mọi cách chiếm giữ, sở hữu để thoả măn ḷng tham muốn.
10. Hữu là do Ái dục và Thủ trước mà tạo nghiệp thiện, ác. Quá tŕnh tạo nghiệp thiện, ác tích luỹ và h́nh thành nên năng lực tập quán dấn đến sự thọ nhận quả báo ở tương lai.
11. Sanh, ở đây là nói đến sự thọ nhận quả báo ở tương lai, sự tái sanh sang đời khác.
12. Già chết là điều nhất định xảy ra đối với mọi sự hữu.
Nam phương Phật giáo và Đại thừa Phật giáo sau này (c̣n gọi là Bắc phương Phật giáo), đều phân tích 12 duyên khởi thành hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời. Đây là truyền thống thuyết pháp của hết thảy bộ phái Phật giáo. Tuy nhiên, Pháp tướng tông của Du-già hành pháp (hệ thống của ngài Hộ Pháp) lại phân tích 12 duyên khởi thành một lớp nhân quả liên hệ đến hai đời mà thôi, tức từ Vô minh đến Hữu, gồm 10 là nhân hiện tại; Sinh và Già chết là hai chi quả ở đời sau.
Theo trường phái Sarvāstivāda (Thuyết nhất thiết hữu bộ), 12 duyên khởi cũng được phân tích thành tam thế lưỡng trùng nhân quả, nhưng điểm đặc biệt của bộ phái này là chia 12 duyên khởi thành bốn loại khác nhau, gồm Sát-na duyên khởi, Liên phược duyên khởi, Phân vị duyên khởi và Viễn tục duyên khởi. Trong đó,
1. Sát-na duyên khởi: 12 duyên khởi cùng khởi tác dụng trong một sát-na.
2. Liên phược duyên khởi: Thuyết minh 12 duyên khởi tạo nên thân thể, tinh thần, luôn luôn thay đổi, tiến triển, biến hoá. Những hoạt động của thân và tâm mà chúng ta có thể kinh nghiệm được trong cuộc sống hằng ngày là y cứ vào mối quan hệ của loại Duyên khởi này mà phát sinh.
3. Phân vị duyên khởi: 12 chi duyên khởi được phân làm hai lớp nhân quả liên hệ đến ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai.
4. Viễn tục duyên khởi: Nói rơ 12 chi duyên khởi không những chỉ biểu thị liên hệ trong ba đời, mà nhiều đời nhiều kiếp, từ vô lượng kiếp quá khứ đến vô biên kiếp vị lai.

Tam thừa      trois véhicules     three vehicles    三乘     trīṇi yānāni
Chỉ cho ba loại xe, ví dụ pháp môn vận chuyển chúng sinh vượt qua sinh tử đến bờ Niết bàn.
Để thích ứng với 3 loại căn cơ của chúng sinh là hạng chậm lụt (độn căn), hạng trung b́nh (trung căn) và hạng thông minh lanh lợi (lợi căn), đức Phật nói 3 thứ giáo pháp là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa.
1. Thanh văn thừa (śrāvaka-yāna): Nhờ nghe tiếng noi pháp của đức Phật mà được ngộ đạo nên gọi là Thanh văn. Hàng này tu pháp Tứ diệu đế.
2. Duyên giác thừa (pratyeka-buddha-yāna): Cũng gọi là Bích chi Phật thừa, Độc giác thừa. Nhờ quán xét 12 nhân duyên mà giác ngộ chân lư. Hạng này tu pháp 12 nhân duyên.
3. Bồ tát thừa (bodhisattva-yāna): Cũng gọi là Ddaị thừa, Như lai thừa. Cầu bồ đề vô thượng, nguyện độ tất cả chúng sinh, tu 6 pháp ba la mật và muôn hạnh.

Tam thân      trois corps    The threefold body    三身    Trayaḥ kāyāḥ
Cũng gọi là Tam thân Phật, Tam Phật thân, Tam Phật. Đó là Pháp thân, Báo thân, và Ứng hoá thân.
Thân có nghĩa là tụ tập. Tụ tập các pháp mà thành thân.
1. Sự tụ tập về lư pháp mà thành thân gọi là Pháp thân (Dhamra-kāya). Thân này vốn thanh tịnh, thường trụ vắng lặng, không sinh không diệt, đầy đủ công đức, b́nh đẳng nơi mỗi chúng sinh, gọi là Tự tính, là Như như, là Như như trí, là Pháp tính thân. Tức là cái thân chân thật của Phật, mà cũng là Tự tính thanh tịnh của mỗi chúng sinh, của cả pháp giới.
2. Sự tụ tập về trí pháp mà thành thân gọi là Báo thân (Saṃbhoga-kāya). Là thân công đức, tức là thân có được do sự tu tập thành tựu mọi công đức, đầy đủ tướng hảo trang nghiêm, thụ dụng pháp lạc vô biên, nên c̣n gọi là Thụ dụng thân.
3. Sự tụ tập các pháp công đức gọi là Ứng thân (Nirmāṇa-kāya). Là thân biến hoá theo căn tính của chúng sinh để mà giáo hoá. Chư Phật dùng thần lực không thể nghĩ bàn, biến hiện vô lượng, tuỳ theo các loài mà hoá thân, trụ ở các cơi tịnh uế, để giáo hoá chúng sinh.

Tam thiền      Troisième niveau d'expérience méditative    Third meditation    三禪    Tri-dhyāna
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
Tam thiền có đủ 5 thiền chi: Xả, Niệm, Tuệ (Trí), Lạc, Nhất tâm.

Tam thiền thiên          third meditation heaven    三禪天    Tri-dhyāna
Chỉ cho cơi Thiền thứ 3 trong 4 cơi thiền Sắc giới. V́ ĺa bỏ hủ của thiền thứ 2 th́ lại sinh lạc tĩnh diệu, nên cơi thiền này cũng gọi l à Ly hỷ diệu lạc địa. Cơi này chỉ có ư thức và có 2 cảm thụ lạc, xả tương ứng với ư thức. Tướng vui thích của ư thức ở cơi này cực kỳ tĩnh diệu nên gọi là Lạc thụ. Trong 18 tầng trời cơi Sắc th́ 3 tầng trời Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Biến tịnh chính là Tam thiền thiên.

Tam thiên đại thiên thế giới      trois mille mondes    one billion worlds    三千大千世界    Tri-sāhasra-mahā-sāhasra-loka-dhātu
Một thế giới hệ gồm ba ngàn Đại thiên thế giới.

Tập hợp bốn đại châu, mặt trời, mặt trăng và các cơi trời làm thành một thế giới. Một ngàn thế giới hợp lại thành một tiểu thiên thế giới (1000). Một ngàn tiểu thiên thế giới hợp lại thành một trung thiên thế giới (1000x1000). Một ngàn trung thiên thế giới hợp lại thành một đại thiên thế giới (1000x1000x1000 = 1.000.000.000 (1 tỷ thế giới).

Tam thiên đại thiên thế giới tức là 3 ngàn tỷ thế giới, là quốc độ hay phạm vi giáo hoá của một Đức Phật, gọi là Phật độ.

Tam thí      trois sortes d'offrandes         三施     
Ba h́nh thức hay ba cách cúng dường, bố thí:
1. Tài thí: Tự ḿnh giữ giới, không xâm phạm đến tài vật của người khác, lại c̣n đem tài vật của ḿnh bố thí cho kẻ khác.
2. Pháp thí: Thuyết pháp cho mọi người nghe, khiến cho họ khai mở trí tuệ, thoát khổ được vui.
3. Vô uư thí: Người giữ giới không có tâm sát hại, không có tâm niệm ác, cho nên gần gũi với tất mọi loại chúng sinh mà chúng sinh không hề lo sợ, đó là ban cho chúng sinh sự không sợ hăi.
Ngoài ra, các kinh luận c̣n nói 3 loại bố thí khác, như Đại trí độ luận nói 3 loại thí là Vật thí, Tài thí (cho của cải), Cúng dường cung kính thí (dùng tâm tin tưởng, thanh tịnh cung kính lễ bái), Pháp thí (thuyết pháp); Hoa Nghiêm kinh sớ sao th́ nói: Ẩm thực thí (cho thức ăn, thấy người đói khát lập tức đem cơm nước cung cấp cho họ), Trân bảo thí (thấy người nghèo khổ, bần cùng th́ đem tiền bạc cho họ có vốn làm ăn), Thân mạng thí (đem cả thân mạng ḿnh cho chúng sinh).

Tam trí      trois sortes de sagesse    Three kinds of wisdom    三智    
3 thứ trí tuệ.
1. Nhất thiết trí: Trí biết rơ cái tướng chung của tất cả các pháp. Cái tướng chung ấy chính là Không tướng. Trí này là trí của hàng Thanh văn, Duyên giác.
2. Đạo chủng trí: Trí biết rơ tướng riêng của tất cả các pháp. Cái tướng riêng ấy tức là các thứ đạo pháp sai biệt. Trí này là trí tuệ của hàng Bồ tát.
3. Nhất thiết chủng trí: Tức trí biết rơ suốt tướng chung và tướng riêng, đó là Phật trí. Trí hiểu biết một cách trọn vẹn, hoàn hảo.

Tam vô lậu học      Trois disciplines     Three uncontaminated studies    三無漏學    Tisraḥ śikṣāh
Lậu có nghĩa là phiền năo. Tam vô lậu học có nghĩa là ba môn học giúp hành giả vượt thoát khỏi sự trói buộc của phiền năo, hoàn toàn được tự do, tự tại. Lậu c̣n có nghĩa là rơi rớt, v́ vậy, tam vô lậu học c̣n là phương tiện giúp hành giả không c̣n bị rơi rớt trong ba cơi, tâm không c̣n bị ràng buộc bởi mọi lậu hoặc, khổ đau. Đây là ba môn học đoạn trừ phiền năo, chứng nhập quả vị niết-bàn, giải thoát hoàn toàn; là ba môn học căn bản, nền tảng của hệ thống giáo lư Phật giáo mà nguyên thuỷ hay đại thừa đều nói đến, đó chính là Giới - Định - Tuệ.
- Giới vô lậu học. Trong kinh Tạp A-hàm, đức Thế Tôn định nghĩa: “Tỳ-kheo an trú trong pháp Ba-la-đề-mộc-xoa, đầy đủ oai nghi và tế hạnh, cẩn trọng sợ hăi ngay cả với những lỗi nhỏ nhặt, cho nên học và thọ tŕ đầy đủ các giới, như vậy gọi là giới vô lậu học”.
- Định vô lậu học. Kinh Trung A-hàm, đức Phật định nghĩa: “Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác và quán (c̣n gọi là tầm và tứ), ly sanh hỷ lạc, chứng từ sơ thiền đến tứ thiền, gọi là định vô lậu học”.
- Tuệ vô lậu học. Đức Phật dạy: “Hiểu một cách đúng đắn về khổ thánh đế, tập thánh đế, diệt thánh đế và đạo thánh đế, như vậy gọi là tuệ học vô lậu”. Kinh Tương Ưng V cũng định nghĩa tuệ học vô lậu như là sự quán triệt và thấy biết “thế nào là khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ và các phương pháp để diệt tận khổ”.
Kinh Phật Tự Thuyết th́ định nghĩa tuệ học chính là “sự hiểu rơ về giáo lư Nhân duyên hay Duyên khởi”. Theo đó, tuệ vô lậu là sự nhận thức được nguyên lư “do cái này có mặt nên cái kia có mặt. Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt. Do cái này sinh nên cái kia sinh. Do cái này diệt nên cái kia diệt”.

Tam-muội      concentration-extatique    Samādhi    三昧    samādhi
Trạng thái thiền định. Cảnh giới thiền định.
Trong kinh Phật, từ Samādhi được dịch là Đẳng tŕ thời, 'đẳng' là giữ cho tâm được b́nh đẳng an lành, không để cho lao xao, lay động; 'tŕ' là chuyên tâm ở một cảnh, không tán loạn, gọi là Tâm nhất cảnh tính.
Nói chung, việc tu hành cốt yếu là chuyên tâm chú ư ở một chỗ, không để tán loạn mà phài giữ cho tâm an tĩnh, trạng thái này gọi là Tam muội. Khi đạt đến trạng thái Tam muội th́ liền phát khởi trí tuệ mà khai ngộ chân lư.

Thập hiệu Như Lai      titres honorifiques [dix] de Shakyamuni    ten epithets of the Buddha    十號如來    Daśa balāni
10 danh hiệu của một đức Phật.

1. Như lai (Tathāgata): Đức Phật không từ đâu đến và cũng không đi về đâu, nên gọi là Như lai (vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như lai). Cũng có nghĩa: Đức Phật đến (lai) từ sự thật (Như).

Nguyên tiếng Phạn, chữ tathāgata, có thể phân tích như sau: tathā-gata (như khứ) và tathā-āgata (như lai). Do đó, nếu giải thích theo chữ đầu tiên, th́ con đường đi từ chân như mà tiến đến quả vị Phật, Niết-bàn, gọi là Như Khứ; nếu giải thích theo chữ sau, th́ do chân lư mà xuất hiện (như thật mà đến), mà thành chánh giác, gọi là Như Lai.

Phật có nghĩa là từ chân lư mà đến, do chân như mà hiện thân, cho nên tôn xưng Phật là Như Lai.
Trường A-hàm, quyển 20, kinh Thanh Tịnh, ghi: Phật từ đầu hôm thành Vô thượng chánh giác (ở Bồ-đề đạo tràng) cho đến đêm cuối cùng (ở Câu-thi-na), trong khoảng thời gian đó có nói điều ǵ, th́ tất cả những điều ấy đều như thật, cho nên gọi là Như Lai. Lại nữa, Như Lai nói sự việc như vậy, sự việc như vậy mà nói, nên gọi là Như Lai.

Luận Đại Trí Độ, quyển 55, ghi: Thực hành 6 pháp ba-la-mật, đắc thành Phật đạo, cho nên gọi là Như Lai; trí tuệ biết tất cả các pháp Như, từ trong Như mà đến, nên gọi là Như Lai.

2. Ứng cúng (Arhat, A la hán): Xứng đáng nhận sự cúng dường của người, trời.

3. Chính biến tri (Samyaksaṃbuddha, tam miệu tam phật đà): Có năng lực biết rơ đúng đắn khắp tất cả các pháp.

4. Minh hành túc (Vidyācaraṇa-saṃpanna): Có đủ ba loại trí tuệ (thiên nhăn minh, túc mệnh minh, lậu tận minh) và hành nghiệp của thân, khẩu, ư đều thanh tịnh.

5. Thiện thệ (Sugata): Dùng Nhất thiết trí làm cỗ xe lớn, đi trên 8 con đường chân chính (bát chính đạo) mà vào Niết bàn.

6. Thế gian giải (Loka-vid): Biết rơ 2 loại thế gian là Chúng sinh thế gian và Không phải chúng sinh thế gian, cho nên biết sự h́nh thành và hoại diệt của thế gian và con đường ra khỏi thế gian.

7. Vô thượng sĩ (Anuttara): Trong các pháp, Niết bàn là vô thượng, trong tất cả chúng sinh, Phật là vô thượng.

8. Điều ngự trượng phu (puruṣa-damya-sārathi): Phật là bậc Đại từ, Đại trí, có khi dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời bi thiết, tạp ngữ... dùng mọi phương tiện điều phục, chế ngự người tu hành khiến họ đến Niết bàn.

9. Thiên nhân sư (śāstā deva-manuṣyāṇāṃ): Chỉ dạy chúng sinh điều ǵ nên làm, điều ǵ không nên làm, việc này thiện, việc này là bất thiện... giúp họ giải thoát phiền năo.

10. Phật Thế tôn (Buddha-bhagavat): Tức người đă tự giác ngộ, giúp cho người khác giác ngộ, giác ngộ và sự thực hành đi đến giác ngộ đều được viên măn, thấy biết tất cả các pháp trong ba đời, cho nên được người đời tôn trọng, cung kính.

Thủ Lăng Nghiêm tam muội              首楞嚴三昧    Śūraṃgamasamādhi
Tam muội thu giữ các pháp một cách chắc chắn, 1 trong 108 tam muội, là loại thiền định do chư Phật và hàng Bồ tát Thập địa chứng được.

Tha lực      force de l'autre    other-power    他力    
Chỉ cho năng lực ở ngoài bản thân, thường dùng để nói nguồn năng lượng của chư Phật và Bồ tát gia hộ, che chở cho chúng sinh.
Kinh Bồ tát Địa Tŕ nói: “Có 4 sức mạnh, tự lực, tha lực, nhân lực và phương tiện lực. Bồ tát tự ḿnh phát tâm bồ đề, gọi là tự lực. Khiến cho người khác phát tâm, gọi là tha lực. Đời trước đă tích luỹ căn lành với giáo pháp Đại thừa, đời nay vừa thấy h́nh Phật, Bồ tát, hoặc nghe người ta tán thán Tam bảo, liền phát tâm tu tập, gọi là nhân lực. Ở ngay hiện đời thường thân cận với thiện tri thức, thường nghe pháp, siêng tu việc thiện, gọi là phương tiện lực”.
Kinh Đại bảo tích cũng nói: “Tự ḿnh phát tâm tu tập để đạt đến Vô thượng chính đẳng chính giác, gọi là tự lực; khuyến khích, hướng dẫn người khác cùng phát tâm tu tập như ḿnh, gọi là tha lực”.

Tha thụ dụng thân              他受用身    
Thân công đức thanh tịnh vi diệu thuộc về hoá tha (giáo hoá người khác) do trí tính b́nh đẳng của Phật thị hiện ra. Đức Phật dùng sức đại từ bi thích ứng với căn tính của hàng Bồ-tát Thập địa, hiện bày ra 10 lớp tướng hải, trụ nơi cơi Phật thuần tịnh, hiện thân thuyết pháp, khiến các Bồ-tát thụ dụng pháp lạc Đại thừa. Thân tướng mà Đức Phật hiện ra để độ hàng Bồ-tát Sơ địa là thân ngồi trên đài sen trăm cánh ; thân Phật hiện ra để độ hàng Bồ-tát Đệ nhị địa là thân ngồi trên đài sen ngh́n cánh ; cho đến thân Phật hiện ra để độ hàng Bồ-tát Thập địa là thân ngồi trên đài sen mà số cánh là không thể nào nói hết, bất khả thuyết. Một cánh sen ở đây là thế giới ba ngh́n đại thiên. Hàng Đại Bồ-tát Thập địa trải qua vô số kiếp tu hạnh lợi tha, đầy đủ các hoá thân chứng được, v́ chúng sinh mà hiện ra nhiều tướng, nói các pháp môn, thụ dụng đại pháp lạc, gọi là Tha thụ dụng thân. Thân này có nghĩa là ứng thân thị hiện nên cũng gọi là Ứng thân.

Thanh tịnh trí              清淨智    Suddha-jñāna
Trí quán Đệ nhất nghĩa, đoạn trừ tất cả tập khí phiền năo, không c̣n chướng ngại, thanh tịnh vô nhiễm. Đây là trí Đệ nhất nghĩa của Như lai.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7