Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7 

Đại thừa      Grand Véhicule    Great Vehicle    大乘    Mahāyāna
Thừa (yāna), là công cụ vận chuyển như xe cộ, thuyền bè... Đại thừa dụ cho giáo pháp của Đức Phật như chiếc xe lớn, có khả năng chuyên chở chúng sanh từ bờ phiền năo đến bờ giải thoát.
Trong các Kinh A hàm, Đại thừa là từ dùng để tôn xưng những lời dạy của đức Phật.
Sau khi Phật nhập Niết-bàn một thời gian, Phật giáo ở phương bắc Ấn độ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt nên tự xưng là Phật giáo Đại thừa, hay Phật giáo phát triển; trong khi đó, để chỉ cho Phật giáo ở phương nam Ấn độ, vốn sinh hoạt khép kín trong cộng đồng tăng lữ, ít đổi mới và không hoà nhập với thời đại, người ta gọi là Phật giáo Tiểu thừa, hay Phật giáo nguyên thuỷ. Đứng về phương diện phát triển của tư tưởng sử mà nhận xét, th́ Tiểu thừa là nền tảng của tư tưởng Đại thừa.

Đệ nhất nghĩa đế      Aspect de la pure ainsité     Absolute truth    第一義諦    paramārtha-satya
Gọi tắt: Đệ nhất nghĩa. Cũng gọi Thắng nghĩa đế, Chân đế, Thánh đế, Niết bàn, Chân như, Thực tướng, Trung đạo, Pháp giới.
Chân lư nhiệm mầu, chân lư tối cao, chân lư hoàn toàn, chân lư duy nhất không c̣n ư nghĩa nào cao hơn nữa.
Cũng chỉ cho cảnh giới giác ngộ đă đạt được trí tuệ cứu cánh viên măn.
Kinh Đại phương đẳng đại tập ghi: Nếu c̣n dùng ngôn ngữ th́ c̣n vướng mắc, nếu c̣n vướng mắc th́ c̣n ở trong cảnh giới của ma. Nếu pháp nào không cần dùng tất cả mọi ngôn ngữ để biểu thị, diễn bày th́ pháp đó mới không c̣n bị vướng mắc. Pháp nào không thể dùng ngôn ngữ để nói? Đó là pháp Đệ nhất nghĩa. Trong Đệ nhất nghĩa không có văn tự chữ nghĩa, nếu Bồ tát có thể thực hành Đệ nhất nghĩa đế, th́ đối với tất cả các pháp không có pháp nào là không thực hành đến viên măn, đó là Bồ tát đă vượt qua được cảnh giới của ma".
Kinh Đại bát niết bàn nói: Chân lư ở thế gian gọi là Thế đế. Dùng phương tiện khéo léo để tuỳ thuận chúng sinh cho nên mới nói hai loại chân lư. Nếu nói chân lư vượt lên trên hoặc vượt ra khỏi chân lư thế gian th́ gọi là Đệ nhất nghĩa đế".

Địa ngục      enfer    hell    地獄    naraka
Một trong Ngũ thú (Ngũ đạo, năm đường chúng sinh đi đến) hay Lục thú (Lục đạo, sáu đường chúng sinh đi đến), hay Thập giới (mười cơi chúng sinh tồn tại). Là nơi chịu đau khổ của chúng sinh tạo các nghiệp ác, như giết hại, trộm cướp, gian dâm...
Theo kinh Trường A hàm quyển 19 và phẩm Nê lê (nê lê là đọc theo tiếng Phạm, có nghĩa là địa ngục) trong kinh Đại lâu thán quyển 2, th́ địa ngục ở chung quanh biển lớn, ở khoảng giữa núi Đại kim cương và núi núi Đại kim cương thứ hai.
Kinh Địa tạng c̣n cho biết trong núi Thiết vi cũng có địa ngục.

Đàn na      Don / Donateur - Dana    Donate    檀那    Dāna
Bố thí. Cúng dường. C̣n gọi là Đàn việt. Người bố thí, người cúng dường, tức Thí chủ.
Người làm việc bố thí, cúng dường sẽ vượt qua biển nghèo cùng, nên Đàn na c̣n gọi là Đàn việt. Trong chữ Đàn việt, th́ đàn là tiếng Phạm của chữ đàn na; việt là tiếng Hán, có nghĩa là vượt qua. Đàn việt là nhờ bố thí mà vượt qua nghèo khổ, đạt đến giải thoát.
Sinh tâm xả bỏ có thể diệt trừ được tính bỏn sẻn, tham lam, gọi là Đàn na.

Ưu bát la      Lotus bleu    Blue lotus    優鉢羅    Utpala
Hoa sen xanh.

Ẩn một Như lai tạng      Nature cachée de bouddha    Hidden essence of boudha    隱沒如來藏    
Một trong 10 loại Như lai tạng. C̣n gọi là Ẩn phú Như lai tạng. Tức pháp thân Như lai bị phiền năo che lấp khiến ẩn mất.

A dật đa      Ajita    Ajita    阿逸多    Ajita
1. Một trong những vị đệ tử của đức Phật. Cũng gọi là A thị đa, A di dá. Tên ngài có nghĩa là Vô năng thắng (không ai hơn được). Ngài lập chí trong tương lai sẽ thành Chuyển luân thánh vương tên là Nhương Khư (Śaṃkha), để hoằng dương Phật pháp.
2. Tên của Bồ tát Di Lặc.

A di đà chú      Mantra d'Amitabha    Amitabha mantra    阿彌陀咒    Amitābha mantra
Là chân ngôn của đức Phật A di đà. Cũng gọi là A di đà tâm chú (thần chú được nói ra từ tâm Từ Bi của Phật A di đà), Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú (thần chú bạt trừ tất cả mọi phiền năo căn bản để chúng sinh được văng sinh về Tịnh độ), Vô lượng thọ Như lai căn bản đà la ni (thần chú căn bản của đức Như lai Vô lượng thọ). Đà la ni căn bản biểu tỏ nội chứng, bản thệ, công đức của Vô lượng thọ Như lai, có đủ các công đức khiến cho người tŕ tụng hiện đời này được yên ổn, tội chướng tiêu diệt, sau khi chết được sinh về cơi Tịnh độ.

A di đà kinh              阿彌陀經    Sukhāvati-vyūha-sūtra
Cũng gọi là Nhất thiết chư Phật sở hộ niệm kinh, Tiểu vô lượng thọ kinh, Tiểu kinh. Là một trong ba bộ kinh của Tịnh độ. Kinh này được ngài Cưu ma la thập dịch ra Hán văn vào năm Hoằng thuỷ thứ 4 (404) đời Diêu Tần. Ngoài bản dịch của ngài Cưu ma la thập c̣n có hai bản dịch nữa là của ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đầu năm Hiếu kiến (454-456) đời Hiếu vũ đế nhà Lưu Tống và bản của ngài Huyền trang dịch vào niên hiệu Vĩnh Huy năm đầu (560) đời vua Cao tông nhà Đường.
Nội dung kinh này tŕnh bày sự trong sạch đẹp đẽ ở Tịnh độ phương tây của Phật A di đà, chư Phật chân thành khen ngợi chúng sinh sinh về Tịnh độ, và tŕ danh niệm Phật...
Xem bản dịch kinh A Di Đà


A di đà tam tôn              阿彌陀三尊    
Cũng gọi Tây phương tam thánh. Chỉ đức Phật A di đà và hai vị đại Bồ tát đứng hầu hai bên. Đức Phật A di đà đứng giữa, bên trái là bồ tát Quán thế âm, bên phải là Bồ tát Đại thế chí. Kiểu tượng Di đà tam tôn bắt nguồn ở Ấn độ. Bức tranh vẽ trên vách của hang thứ 9 trong những hang đá ở A chiên đà là di phẩm của tượng Tam tôn được giữ ǵn xưa nhất.
Tượng Di đà tam tôn được sẽ theo pháp quán thứ tám trong kinh Quán vô lượng thọ. Kinh nói, quán tưởng hai bên Phật Di đà có hoa sen lớn, Bồ tát Quán thế âm ngồi trên toà bên trái, Bồ tát Đại thế chí ngồi trên toà sen bên phải. Kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 5 cũng nói như thế.

A du ca thụ              阿輸迦    Aśoka
Cây A-du-ca, tiếng Phạm là aśoka, tiếng Pāli là asoka: Thực vật họ đậu. C̣n được gọi là cây A-du-kha, A-thúc-ca. Dịch ư nghĩa là cây Vô ưu.
Cây này có tên khoa học là Jonesia asoka. Thân cây thẳng đứng, lá giống lá hoè, hoa màu hồng, rất đẹp. Cây mọc nhiều ở vùng Hi-mă-lạp sơn, Tích lan, Mă lai…
Theo lịch sử Phật giáo, Đức Thích tôn đă đản sinh ở dưới gốc cây này. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả, quyển 1, ghi: “Phu nhân nh́n thấy trong vườn ngự có một cây lớn, tên là Vô ưu, hoa nở rất đẹp và mùi hương rất thơm, cành lá rất tươi tốt, Ngài bèn đưa tay phải lên định hái một đoá hoa, th́ Bồ tát từ từ đản sanh phía bên hông phải”.
Tham khảo thêm: Kinh Đại bát-niết-bàn, quyển 32; Luận Đại trí độ, quyển 10; Đại đường Tây vực kí, quyển 6; Phiên Phạm ngữ, quyển 9; Phiên dịch danh nghĩa tập, quyển 3…

A hàm      Agama    Agama    阿含    Āgama
A hàm có nghĩa là nơi quy tụ tất cả các pháp, là giáo thuyết được truyền thừa, tức là tuyển tập những lời dạy của đức Phật trong suốt 49 năm hoằng pháp của Ngài thành một hệ thống để truyền thừa cho thế hệ tương lai, nguyên thủy gồm có bốn bộ: Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và Tạp A Hàm.

Xem bài KHÁI QUÁT LỊCH SỬ H̀NH THÀNH VÀ TRUYỀN BÁ KINH A HÀM


A hàm thời      Période Agama    Agama period    阿含時    
C̣n gọi là Lộc uyển thời. Là thời thứ hai trong năm thời thuyết pháp của đức Phật do tông Thiên thai lập. Chỉ cho thời gian sau khi đức Phật thành đạo 21 ngày, trước hết đức Phật đến vườn Lộc dă, sau Ngài đi khắp 16 nước lớn, đối với những người căn cơ nhỏ bé, tuyên thuyết giáo pháp Tiểu thừa, trong 12 năm. V́ trong khoảng thời gian đó, các kinh được thuyết giảng là kinh A hàm, cho nên mới gọi là thời A hàm.

A lại da thức      Conscience receptacle    Receptacle conscience    阿賴耶識    Adăna vijnăna (Àlaya)
Là một trong tám thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, mạt na, và a lại da). Thức này là gốc rễ của các pháp, cho nên gọi là Bản thức; v́ nó có tác dụng mạnh nhất trong các thức, nên cũng gọi là Thức chủ. Thức này là gốc của vũ trụ vạn hữu, cất chứa muôn vật khiến cho không bị mất mát, nên gọi là Tàng thức. Lại v́ nó là hạt giống có khả năng cất chứa và sinh trưởng muôn vật, nên cũng gọi là Chủng tử thức (thức hạt giống).
Thức A-lại-da. Theo học phái Yogācāra (Du-già hành phái), A-lại-da là cái tâm căn bản.
Trong truyền thống Phật giáo nguyên thuỷ, hệ thống tâm lư chỉ có sáu thức : nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức. Đến thời kỳ Phật giáo đại thừa, đặc biệt là học phái Yogācāra, đă phát hiện ra chỗ thâm sâu bên trong sáu thức có một cái ǵ đó không đoạn tuyệt, chính cái đó dẫn chúng sanh đi đến sanh tử luân hồi, cái đó chính là cái tâm tính căn bản hoạt động liên tục để duy tŕ sinh mạng, gọi là A-lại-da thức. Tuy nhiên, bản kinh xuất hiện sớm nhất nói đến thức A-lại-da là kinh Giải thâm mật.
Từ Ālaya nguyên nghĩa chỉ cho cái kho dùng để cất chứa phẩm vật, nói đầy đủ th́ nó có ba ư nghĩa : tiềm tàng, trữ tạng và chấp trước. Căn cứ vào ba ư nghĩa này, A-lại-da thức có ba đặc tính sau đây :
1. Thức A-lại-da tiềm tàng ở trong thân thể : Thức này được cho là tiềm tàng trong thân thể, nó chính là cái tâm có tính căn nguyên duy tŕ và chi phối sự sống của thân thể ; nó tồn tại trong mỗi thân thể và hoạt động liên tục trong khi thức và cả khi ngủ.
2. Thức A-lại-da là cái kho cất giữ những hạt giống (chủng tử) : Thức A-lại-da c̣n có tên là Nhất thiết chủng tử thức (thức của tất cả mọi hạt giống), bởi v́ nó là chỗ lưu trữ tất cả mọi hạt giống (hạt giống h́nh thành từ những lời nói, hành động và suy nghĩ, tức là ba nghiệp thân, khẩu, ư). Nghiệp quá khứ biến thành chủng tử và được huân tập trong thức A-lại-da, sau đó, khi gặp điều kiện th́ nó phát sinh ra nghiệp mới, nghiệp mới này lại tiếp tục tạo ra những chủng tử mới. Do v́ Thức hiện hành (tức là những tâm tính biểu hiện ở lớp ngoài) và Thức A-lại-da (tức là những tâm tính tiềm ẩn ở lớp sâu bên trong) có mối quan hệ hỗ tương nhân quả với nhau (chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử) để duy tŕ sự sống liên tục nên đă h́nh thành nên thuyết A-lại-da duyên khởi.
Tuy nhiên, học phái Yogācāra giữ lập trường ‘tất cả đều do Thức A-lại-da tạo ra’, nên chủ trương thuyết Duy thức.
Thức a-lại-da không những sản sinh ra Nhăn thức, cho đến thức thứ bảy là Thức mạt-na, mà nó cũng đồng thời sản sinh ra thân thể và thế giới tự nhiên (tức là khí thế gian), và nó giữ ǵn, duy tŕ sự tồn tại liên tục của chúng.
3. Thức a-lại-da là đối tượng bị chấp trước: Thức Mạt-na chấp trước Thức a-lại-da làm tự ngă. Thức a-lại-da sinh diệt trong từng sát-na, tuyệt đối không thường tồn và cũng không phải là một cái ngă chủ tể, nhưng từ Thức a-lại-da lại sản sinh ra Thức mạt-na, và thức này lại chấp Thức a-lại-da làm tự ngă của nó, một cái ngă thường hằng và chủ tể.
Thức a-lại-da, tức Tàng thức, được phân ra làm ba phần, là Năng tàng, Sở tàng và Chấp tàng.
- Năng tàng là chỉ cho chức năng thu chứa chủng tử.
- Sở tàng tức là chính những chủng tử đă huân tập các pháp đă được cất chứa.
- Chấp tàng tức là cái Thức đă bị Mạt-na chấp trước.
Thức A-lại-da c̣n có nhiều tên khác, như Nhất thiết chủng thức (Thức của tất cả các hạt giống), Dị thục thức, A-đà-na thức, Vô cấu thức… Trong đó, Thức vô cấu (A-mạt-la thức) là chỉ cho trạng thái Thức a-lại-da khi không bị ô nhiễm, vô cấu, thanh tịnh. Nghĩa là, từ trong Thức a-la-da, diệt trừ mọi chủng tử nhiễm ô, khiến cho Thức a-lại-da chuyển hoá thành Thức cực kỳ thanh tịnh, gọi là Đại viên cảnh trí.
Kinh điển Nguyên thuỷ ghi rằng: “Chúng sanh ái A-lại-da, lạc A-lại-da, hoan A-lại-da, hỷ A-lại-da… cho nên khó ngộ nhập được lư duyên khởi” (Kinh Trung bộ). Kinh lại nói: “Như Lai nói không phải pháp A-lại-da, nhưng chúng sanh cứ cung kính chấp giữ nó, trụ tâm ở đó để cầu giải thoát” (Kinh Tăng chi – Trong Nhiếp đại thừa luận, Vô Trước đă dẫn chứng ư nghĩa của câu kinh này để kiến lập chỗ sở tri).
Xem bài nói về A lại da thức


A la hán      Arhat    Arhat, Arahan    阿羅漢    Arahan
Quả vị tu hành cao nhất của tiểu thừa Phật giáo, người đă đứt được tham dục, giải thoát khỏi mọi phiền năo. Là một trong bốn quả Thanh văn, đồng thời là một trong mười hiệu của Phật. Nó có nghĩa là Ứng cúng (xứng đáng nhận sự cúng dường), sát tặc (diệt trừ tất cả mọi phiền năo), vô sinh (không c̣n tái sanh trong ba cơi), vô học (không c̣n phải học), chân nhân (người chân chính giác ngộ, tuyên giảng chân lư, hằng sống với chân lư).

A la hán hướng              阿羅漢向    
Hướng tới quả vị A la hán, c̣n gọi là nhân vị (giai đoạn tu nhân để hướng tới quả vị A la hán). Những người đă chứng được quả thứ ba là A na hàm, sau khi dứt trừ Kiến hoặc trong ba cơi và chín phẩm Tư hoặc ở Dục giới, lại khởi gia hành (chuẩn bị) diệt trừ các hoặc ở Sắc giới và Vô sắc giới, quăng thời gian này gọi là A la hán hướng.

A lan nhă      Lieu calme    Calm, silent place    阿蘭若    Àranya
Là núi rừng, đồng hoang, những nơi yên tĩnh vắng vẻ, thích hợp với những người xuất gia tu hành. C̣n có nghĩa là nơi xa ĺa, nơi vắng lặng, nơi rất thong thả, nơi không tranh giành.

A ma la thức      Conscience immaculée    Immaculate conscience    阿摩羅識    Amala-vijñāna
Thức thanh tịnh vô cấu, cũng gọi là thức thứ chín.
Amala có nghĩa là không ô nhiễm, bạch tịnh, vô cấu, thanh tịnh. A-ma-la thức là Thức thanh tịnh, vô cấu.

A nậu đa la tam miệu tam bồ đề              阿耨多羅三藐三菩提    Anuttara-samyak-saṃbodhi
Tiếng tôn xưng đức Phật, là bậc Vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức là trí tuệ giác ngộ của đức Phật b́nh đẳng, viên măn, tuyệt đối, không c̣n ǵ cao hơn.

A na hàm      Troisième noble personne    Third noble person    阿那含    Anāgāmin
Bất hoàn, Bất lai. Thánh quả thứ ba trong bốn quả Thanh văn. Bậc này đă dứt hết chín phẩm phiền năo ở Dục giới, không c̣n trở lại thụ sinh ở Dục giới nữa.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7