Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6  7 

Tiểu thừa      Petit Véhicule    Small vehicle     小乘    hīna-yāna
Cũng gọi Thanh văn thừa.
Tiểu thừa nghĩa là cổ xe nhỏ hẹp. Ư muốn nói giáo pháp Tiểu thừa chủ yếu lấy việc cầu giải thoát cho chính ḿnh làm mục tiêu, cho nên thuộc về đạo Thanh văn, Duyên giác, chỉ lo tự độ, bỏ quên hạnh độ tha.

Trường A hàm kinh      Les longs sutras     Longer Āgama-sutra    長阿含經    Dīrghāgama
Kinh Trường A-hàm, tiếng Phạn là Dīrghāgama, gồm 22 quyển, do Phật-đà-da-xá (Buddhayaśas, Tăng nhân nước Kế Tân, bắc Ấn Độ) và Trúc Phật Niệm (người Lương Châu, Cam Túc, Vũ Uy) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thỷ thứ 15 (413 Tây lịch), hiện nằm trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), tập 1, số 1, trang 1-149. Theo Luật Tứ Phần quyển 54, Luật Ngũ Phần quyển 30, Luận Du Già Sư Địa quyển 85 v.v… th́ kinh này tập hợp những bài pháp thoại dài của Đức Thế Tôn mà thành. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa (Sarvāstivāda vinaya vibhāṣā) quyển 1, cho rằng kinh này chuyên đả phá các ngoại đạo nên gọi là Trường A-hàm. Luận Phân Biệt Công Đức quyển 1, th́ giải thích, trường là tŕnh bày những sự việc xa xưa, trải qua nhiều kiếp. Đọc lại Trường A-hàm th́ biết rằng đây đúng là những bài pháp thoại rất dài, tŕnh bày nhiều vấn đề, nhiều ư nghĩa sâu xa, chứa đựng nhiều giáo lư căn bản…
Về sự truyền thừa của Trường A-hàm, theo Pháp Hoa Kinh Huyền Tán quyển 1, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Tán quyển 8… th́ bốn bộ A-hàm đều do Đại chúng bộ truyền. Nhưng Câu Xá Luận Kê Cổ quyển thượng, th́ cho rằng Trường A-hàm do Hoá Địa Bộ truyền. Theo các công tŕnh nghiên cứu của các học giả Nhật Bản thời hiện đại, th́ Trường A-hàm do Pháp Tạng Bộ (Dharmagupta) truyền. Thuyết này được nhiều công tŕnh nghiên cứu của các học giả trên thế giới đồng thuận.
Trong ĐTK/ĐCTT, từ số 2 đến 25 (gồm 57 quyển) là những bản Hán dịch lẻ tẻ (đơn bản) các kinh thuộc Truờng A-hàm. Đây là những bản kinh thuộc nhiều bộ phái khác nhau, do đó nội dung chứa đựng ít nhiều dị biệt. Trường A-hàm mà chúng tôi sẽ giới thiệu là bản Hán dịch Trường A-hàm kinh 22 quyển, do Phật-đà-da-xá tuyên đọc thuộc ḷng bản Phạn, và Trúc Phật Niệm truyền dịch sang Hán văn, Việt dịch do Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, năm 1991, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a1, trọn bộ 2 tập. Bạn đọc có thể tham khảo thêm từ trang nhà phatviet.com bản Việt dịch của TT. Tuệ Sĩ.
22 quyển Trường A-hàm có 30 kinh, chia thành bốn phần. Phần một có 4 kinh, nói về sự tích của chư Phật và các vấn đề liên quan. Phần hai có 15 kinh, tŕnh bày các phương pháp, nguyên tắc tu tập và cương yếu giáo lư Phật thuyết. Phần ba có 10 kinh nói về các vấn nạn của ngoại đạo và những dị thuyết. Phần bốn có 01 kinh, chia thành 12 phẩm, nói về tướng trạng khởi nguyên của vũ trụ.
Kinh Trường A-hàm tương đương với kinh Trường bộ (Dīgha-nikāya) thuộc hệ thống kinh tạng Nam truyền. Kinh Trường bộ có 3 phẩm, tổng cộng 34 kinh, trong đó có 29 kinh tương đương với Trường A-hàm.

Trần sa              塵沙    
Gọi đủ là Trần sa hoặc. Là 1 trong 3 thứ phiền năo: Kiến tư hoặc, Vô minh hoặc và Trần sa hoặc, gọi chung là Tam hoặc.
Trần sa hoặc là một thứ phiền năo làm trở ngại trí tuệ nhận thấy sự việc thuộc chân lư thế tục, khiến cho Bồ tát giáo hoá chúng sinh cảm thấy không được tự tại. Nó có mặt trong và ngoài ba cơi, phải dùng phương pháp 'giả quán', một trong ba pháp quán, mới có thể phá trừ được nó. Phiền năo này nhiều vô số lượng, nhiều hơn số cát ở sông Hằng, cho nên gọi là Trần sa hoặc. Bởi v́ phiền năo này có khả năng làm trở ngại sự giáo hoá của Bồ tát, khiến không được tự do, tự tại nên c̣n có tên là Đạo chướng hoặc.

Trung A hàm kinh      Les sutras moyens     Middle Length Āgama Sutras    中阿含經    Madhyamāgama
Kinh Trung A-hàm, tiếng Phạn là Madhyamāgama, có 60 quyển, 222 kinh, do Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva, người nước Kế Tân, Bắc Ấn) và Tăng-già-la-xoa (Saṃgharakṣa, người nước Tu Lại, Tây Bắc Ấn) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Đông Tấn, niên hiệu Long An thứ 2 (398 Tây lịch), hiện nằm trong ĐTK/ĐCTT, tập 1, số 26, trang 421-809. Các kinh từ số 27 đến 98 là các bản dịch lẻ tẻ (đơn bản) của các kinh thuộc Trung A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a2, Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, trọn bộ 4 tập. Chúng tôi dựa vào bản dịch của TT. Tuệ Sĩ để giới thiệu (Xem trên web phatviet.com).
Luận Phân Biệt Công Đức quyển 1, giải thích chữ trung có nghĩa là không lớn không nhỏ, không dài không ngắn, Trung A-hàm là tuyển tập những kinh không dài không ngắn. Đọc Trung A-hàm chúng ta thấy quả thật những kinh trong đây không dài như Trường A-hàm nhưng không ngắn chút nào!
Về sự truyền thừa và đối chiếu với kinh Trung bộ thuộc Nam tạng, xin xem luận án tiến sĩ của HT. Thích Minh Châu trong cuốn So sánh kinh Trung A-hàm chữ Hán và kinh Trung bộ chữ Pāli do Ni sư Trí Hải dịch. Ở đây, chúng tôi ghi nhận Trung A-hàm được truyền dịch từ Nhất thiết hữu bộ, bởi Tăng-già-la-xoa và Tăng-già-đề-bà đều là Đại luận sư của Hữu Bộ, mọi người đều biết. Đề-bà dịch Luận A-tỳ-đàm Bát Kiền-độ (Luận Phát Trí của Ca-chiên-diên) là sách trọng yếu nhất của Hữu Bộ, La-xoa dịch tiếp Luật Thập Tụng của ngài La-thập cũng là luật Hữu Bộ.
60 quyển Trung A-hàm chia thành 5 tụng, 18 phẩm. 5 tụng là Sơ tụng, Tiểu độ thành tụng, Niệm tụng, Phân biệt tụng và Hậu tụng. 18 phẩm gồm: 1, Phẩm bảy pháp, gồm 10 kinh; 2, Phẩm Nghiệp Tương Ưng, gồm 10 kinh; 3, Phẩm Xá-lê Tử Tương Ưng, 11 kinh; 4, Phẩm Vị Tằng Hữu Pháp, 10 kinh; 5 Phẩm Tập Tương Ưng, 16 kinh; 6, Phẩm Vương Tương Ưng, 14 kinh; 7, Phẩm Trường Thọ Vương, 15 kinh; 8, Phẩm Uế, 10 kinh; 9, Phẩm Nhân, 10 kinh; 10, Phẩm Lâm, 10 kinh; 11, Phẩm Đại, 25 kinh; 12, Phẩm Phạm Chí, 20 kinh; 13, Phẩm Căn Bản Phân Biệt, 10 kinh; 14, Phẩm Tâm, 10 kinh; 15, Phẩm Song, 10 kinh; 16, Phẩm Đại (Hậu tụng),10 kinh; 17; Phẩm Bổ-lợi-đa, 10 kinh; 18, Phẩm Lệ, 11 kinh.
Kinh này ghi lại nhiều bài pháp thoại của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, thỉnh thỏang cũng có những lời giáo giới của Đức Phật cho các đệ tử, các bậc vương giả, cư sĩ và ngoại đạo.

Uất kim hương hoa               欝金香華     Kuṅkumaṃ
Hương của hoa Uất kim. Một loài hoa có rễ h́nh cầu, dùng để nấu thuốc nhuộm, hoa để làm hương, mọc ở vùng Kashmir, Bắc Ấn Độ.

Vô lượng nghĩa xứ tam muội      samadhi du lieu des Sens infinis    The anantanirdeśapratiṣṭhāna samādhi    無量義處三昧    anantanirdeśapratiṣṭhāna-samādhi
Tam muội mà đức Phật đă vào khi Ngài muốn nói kinh Pháp hoa. Vô lượng là rất nhiều pháp môn tu tập, tức vô lượng nghĩa; Nghĩa xứ là chỗ nương của vô lượng nghĩa, tức Thực tướng. Tam muội Tược tướng vô tướng là chỗ sinh ra vô lượng pháp nghĩa, gọi là Vô lượng nghĩa xứ tam muội.


Trang : 1  2  3  4  5  6  7