Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2  3  4  5  6 

Dị thục tập khí              異熟習氣    
Chỉ cho nghiệp chủng tử (hạt giống nghiệp) có năng lực đưa tới quả báo Dị thục trong ba cơi. Nghiệp chủng tử này là do nghiệp thiện, ác hữu lậu của sáu thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư) huân tập trong thức thứ 8 mà sinh ra.

Tập khí là tên gọi khác của Chủng tử, v́ nó (tức Chủng tử) bao hàm ư nghĩa huân tập, cho nên gọi là Tập khí.

Nghiệp chủng tử này là hạt giống của Tư tâm sở thiện, ác tương ứng với thức thứ 6, làm tăng thượng duyên chiêu cảm quả Dị thục thức thứ 8, mà Dị thục thức thứ 8 chính là quả thể tổng báo của tất cả chúng sinh hữu t́nh. Chủng tử này có hai công năng là tự nó sinh hiện hành và giúp đỡ các chủng tử vô kư Dị thục khác sinh khởi. Trong đó, chủng tử tự sinh hiện hành gọi là Đẳng lưu tập khí; chủng tử giúp đỡ các chủng tử vô kư Dị thục khác hiện hành gọi là Dị thục tập khí. Tuy nhiên, đây là cùng một thể mà có hai tác dụng, chứ không phải ngoài Đẳng lưu tập khí c̣n có thể riêng biệt.

Cái gọi là giúp đỡ quả vô kư khác sinh khởi là chỉ cho thức thứ 8 tổng báo và sáu thức trước biệt báo. C̣n thức thứ 7 chỉ là vô kư, cho nên không phải là nhân Dị thục, lại có tính chất che lấp Thánh đạo nên cũng chẳng phải là quả Dị thục.

Ngoài ta, tổng quả thức thứ 8 gọi là Dị thục hoặc Chân dị thục; biệt quả sáu thức trước gọi là Dị thục sinh. Dị thục và Dị thục sinh gọi chung là Dị thục quả.

Danh ngôn tập khí              名言習氣    abhilāpavāsanā
Danh ngôn tập khí: Chủng tử trực tiếp của từng pháp hữu vi cá biệt. Danh ngôn có hai: Một, danh ngôn biểu nghĩa, đó là sự sai biệt của âm thanh chuyển tải ư nghĩa. Hai, danh ngôn hiển cảnh, tức tâm, tâm sở pháp nhận thức đối tượng cá biệt. Tùy theo hai danh ngôn mà chủng tử được huận tập thành để làm nhân duyên cho từng pháp hữu vi cá biệt.
“Khi một đối tượng nhận thức được lưu trữ trong kho chứa của thức để sau này có thể truy cập như là hoài niệm hay kinh nghiệm, nó được lưu trữ với một tên gọi hay danh. Ảnh tượng được lưu trữ của nó bấy giờ là công năng tiềm thế, tồn tại ở đó cho đến khi hội đủ điều kiện th́ tái hiện trở lại. Công năng ấy được gọi là danh ngôn tập khí, tức chủng tử được tích lũy dưới dạng danh ngôn.” (Thích Tuệ Sỹ)

Gia phong              家風    
Cái tác phong khác biệt của các tông phái dùng để độ người.

Hậu kiếp      Prochaine existence (Vie suivante)    Next life    後劫    Abhisamparăya
Đời sau, kiếp sau, đời sống kế tiếp.

Hộc phạn vương      Dronodana        斛飯王    Droṇodana
Con trai của vua Siṃhahanu (Sư tử giáp vương, trị v́ nước Kapilavastu (Ca tỳ la vệ), là em của vua Suddhodana (Tịnh phạn vương), tức là chú của đức Phật. Lịch sử của ông này không được ghi chép rơ ràng. Căn cứ kinh luận th́ biết ông có hai con, nhưng không thống nhất, hoặc nói là A ni lâu đà và Bạt đề lê ca, hoặc nói là Ma ha nam và A ni lâu đà, hoặc nói Đề bà đạt đa và A nan.

Hữu chi tập khí              有支習氣    bhavāṅgavāsanāprabheda
C̣n gọi là Nghiệp chủng tử, Dị thục tập khí, Hữu chi huân tập.
Chủng tử chiêu cảm đến quả báo trong ba cơi . 'Hữu' là 'tam hữu' (dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu); 'chi' là cái 'nhân'; 'tập khí' là phân khí, là thói quen đă được huân tập do hành động, tức là chủng tử.
Thành duy thức luận ghi: Hữu chi tập khí, đó là chủng tử của nghiệp dẫn đến dị thục trong ba cơi. Hữu chi có hai: Một, thiên hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái. Hai, bất thiện, nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hữu chi mà có sự sai biệt của các cơi do bởi nghiệp dị thục.

Hữu lậu pháp              有漏法     
Những pháp gây nên phiền năo, làm cho phiền năo thêm tăng trưởng. Khổ đế và Tập đế được gọi là pháp hữu lậu.

Hiện pháp niết-bàn luận              現法涅槃論     
Một trong 62 kiến chấp của ngoại đạo (một trong 62 học thuyết của ngoại đạo Ấn độ xưa). Trong 62 kiến chấp này người ta phân ra 5 loại kiến chấp, gọi là Ngũ chủng hiện pháp niết-bàn luận.
Kiến chấp thứ 5 là Hiện pháp niết-bàn luận, chủ trương hưởng thụ năm thứ dục lạc hiện tại, cho đó là niết-bàn ở Dục giới; c̣n Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền là niết-bàn ở Sắc giới.

Hoặc nghiệp khổ              惑業苦    
Do các hoặc tham, sân, si... mà tạo các nghiệp thiện ác, rồi lại do các nghiệp này làm nhân mà chiêu cảm quả khổ sống chết trong 3 cơi. Do hoặc khởi nghiệp, v́ nghiệp mà phải chịu khổ, khổ lại khởi hoặc, cứ thế xoay vần, sinh tử không dứt.

Huân tập               熏習    vāsanā、pravṛtti、abhyāsa
Lấy thế lực của pháp này xông ướp lên pháp khác. Giống như lấy hương liệu xông ướp đồ vật.
Đại thừa khởi tín luận giải thích: ‘Huân tập nghĩa là ǵ? Là giống như thế gian họ lấy hương thơm xông ướp cho áo quần. Áo quần vốn không có mùi hương, người ta lấy hương liệu huân tập cho nó th́ nó mới có mùi hương’.
Nói một cách khác, hồi xưa, để cho đồ vật có mùi thơm người ta để đồ vật đó trong chỗ có mùi thơm, lâu ngày, mùi thơm sẽ thấm vào đồ vật, khi lấy đồ vật ra dùng mùi thơm vẫn c̣n tồn tại một thời gian, cách làm đó gọi là huân tập. Phật giáo dùng từ ngữ này để chỉ cho các pháp do sức huân tập, do sự lập đi lập lại một thói quen lâu ngày mà thành tính.
Thành duy thức luận quyển 2, nói: ‘Làm cho chủng tử sinh trưởng gọi là Huân tập’.
Nhiếp luận thích nói: ‘Thế nào là huân tập (vāsanā)? Cái y nơi pháp kia mà cùng sinh cùng diệt; trong đó nó mang tính chất của nhân để sản sinh pháp kia; cái đó là sự huân tập. Như vừng được ướp hoa; vừng và hoa cùng sinh cùng diệt. Vừng mang trong nó cái tự thể làm nguyên nhân cho mùi thơm xuất hiện.
Y nơi các pháp tạp nhiễm kia, cùng sinh cùng diệt, thức a-ại-da sản sinh pháp kia, là nhân tính của các pháp. Đó gọi là huân tập.’

Kế độ phân biệt              計度分別    abhinirūpaṇā-vikalpa
Kế độ phân biệt là một trong ba loại phân biệt. C̣n gọi là Suy độ phân biệt, Phân biệt tư duy. Nghĩa là, tâm thức duyên vào cảnh mà nó tiếp nhận rồi suy diễn, phán đoán, suy tính, là tác dụng của tán tuệ tương ưng với ư thức. Luận A-t́-đạt-ma câu-xá quyển 2 (Đại 29, 8 trung), nói: "Tán nghĩa là chẳng phải định. Tán tuệ tương ứng với ư thức gọi là Kế độ phân biệt".

Kiến phần                  
Kiến phần : Chủ thể nắm bắt (grāhaka: năng thủ) đối tượng là kiến phần.
Kiến phần c̣n gọi là Năng thủ phần, là tác dụng năng duyên của 8 thức tâm vương, là chủ thể nhận biết sự vật ; cũng là tác dụng chủ thể soi sáng các đối cảnh sở duyên (tức Tướng phần – đối tượng của nhận thức).
Kiến là thấy biết, là công năng phân biệt nhận biết của thức khi tiếp xúc đối tượng, cảnh tướng, như tấm gương chiếu rọi muôn vật. Ví dụ, nhăn thức th́ phân biệt và nhận biết sắc, nhĩ thức th́ phân biệt và nhận biết âm thanh, tỷ thức th́ phân biệt và nhận biết mùi hương…
Kiến phần có 5 nghĩa :
- Chứng kiến danh kiến : Kiến phần của trí căn bản, nghĩa là trí căn bản tự thấy chứng, tự thấy nên gọi là Kiến.
- Chiếu chúc danh kiến: Nghĩa này thông cả căn, tâm (tức 6 căn 6 thức), v́ căn, tâm có đủ nghĩa soi sáng nên gọi là Kiến.
- Năng duyên danh kiến: Nghĩa này thông cả Tự chứng phần,Chứng tự chứng phần và Tự chứng phần năng duyên, v́ 3 phần này đều là năng duyên nên gọi là Kiến.
- Niệm giải danh kiến: Hiểu và nhớ được nghĩa lí nói ra một cách rơ ràng nên gọi là Kiến.
- Suy đạc danh kiến: V́ tâm có khả năng suy lường tất cả cảnh giới nên gọi là Kiến.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa      Sûtra du Lotus        妙法蓮華經    Saddharma-puṇḍarīka sūtra
Gồm 7 quyển, 28 phẩm, do ngài Kumārajīva dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại tạng kinh tập 9. Là một trong những bộ kinh chủ yếu của Phật giáo Đại thừa.

Diệu pháp hàm ư là giáo pháp nói trong bộ kinh mầu nhiệm không ǵ hơn; Liên hoa kinh ví dụ kinh điển thanh khiết hoàn mĩ.

Kinh Phước Đức              福德經     Maha Mangala Sutta
Đây là những điều tôi được nghe hồi đức Thế Tôn c̣n cư trú gần thành Xá Vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn Kỳ Đà. Hôm đó, trời đă vào khuya, có một vị thiên gỉa hiện xuống thăm người, hào quang và vẻ đẹp của thiên gỉa làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, vị thiên gỉa xin tham vấn Người bằng một bài kệ:

"Thiên và nhân thao thức
Muốn biết về phước đức
Để sống đời an lành
Xin Thế Tôn chỉ dạy."
(và sau đây là lời đức Thế Tôn:)

"Lánh xa kẻ xấu ác
Được thân cận người hiền
Tôn kính bậc đáng kính
Là phước đức lớn nhất

"Sống trong môi trường tốt
Được tạo tác nhân lành
Được đi trên đường chánh
Là phước đức lớn nhất

"Có học, có nghề hay
Biết hành tŕ giới luật
Biết nói lời ái ngữ
Là phước đức lớn nhất

"Được cung phụng mẹ cha
Yêu thương gia đ́nh ḿnh
Được hành nghề thích hợp
Là phước đức lớn nhất

"Sống ngay thẳng, bố thí,
Giúp quyến thuộc, thân bằng
Hành xử không tỳ vết
Là phước đức lớn nhất

"Tránh không làm điều ác
Không say sưa nghiện ngập
Tinh cần làm việc lành
Là phước đức lớn nhất

"Biết khiêm cung lễ độ
Tri túc và biết ơn
Không bỏ dịp học đạo
Là phước đức lớn nhất

"Biết kiên tŕ, phục thiện
Thân cận giới xuất gia
Dự pháp đàm học hỏi
Là phước đức lớn nhất

"Sống tinh cần,tỉnh thức
Học chân lư nhiệm mầu
Thực chứng được Niết Bàn
Là phước đức lớn nhất

"Chung đụng trong nhân gian
Tâm không hề lay chuyển
Phiền năo hết, an nhiên,
Là phước đức lớn nhất

"Ai sống được như thế
Đi đâu cũng an toàn
Tới đâu cũng vững mạnh
Phước đức của tự thân."

Kinh Pháp Cú      Les vers du Dharma        法句經    Dhammapāda Sutra
Bản kinh thu chép những bài kệ do Đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành.
Hiện có bốn bản khác nhau:
1. Bản tiếng Pāli: có 26 phẩm, 423 bài tụng.
2. Bản Ưu đà na, tiếng Phạm, do Pháp Cứu sưu tập, sa-môn Duy-ḱ-na, người Thiên Trúc dịch sang tiếng Hán (bản dịch tiếng Việt do Tỳ theo Thích Nguyên Hùng và Thích Đồng Ngộ hợp dịch), gồm 2 quyển, 39 phẩm, 752 bài tụng).
3. Bản dịch Tây Tạng
4. Kinh Pháp tập yếu tụng, 4 quyển, do ngài Thiên Tức Tai dịch vào đời Tống.
Kinh Pháp cú là tác phẩm phản ánh sự thể nghiệm sâu sắc, đầy đủ về đời sống thực tiễn của con người, là cuốn sách nhập môn hay nhất của Phật giáo.

Mạt pháp      derniers jours du Dharma    latter dharma    末法    saddharma-vipralopa
Thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, bấy giờ những lời dạy của Phật bị mất dần, không c̣n người hiểu và hành tŕ đúng chính pháp, cho đến lúc mất hết hoàn toàn. Đồng nghĩa với Mạt thế, Mạt đại.
Phật pháp tồn tại ở thế gian được chia làm ba thời kỳ: Chính pháp, tượng pháp và mạt pháp.
1. Chính pháp: Giáo pháp của Phật c̣n nguyên vị. Sau khi Phật nhập niết bàn, giáo pháp ở đời, nếu nương theo giáo pháp mà tu hành th́ liền được chứng quả, gọi là chính pháp.
2. Tượng pháp: Phật pháp không c̣n nguyên vị, chỉ tương tự mà thôi. Giai đoạn này, giáo pháp tuy có và người tu hành cũng nhiều nhưng không có người chứng quả.
3. Mạt pháp: Giáo pháp của Phật bị tà ma ngoại đạo lợi dụng, xen tạp vào; kinh điển được chú thích, giảng giải tuỳ tiện... làm mất hết hương vị chính pháp. Tuy có nhiều người đi tu, nhiều người quy y Tam bảo nhưng không có ai thực hành theo lời Phật dạy.

Ngũ chủng pháp sư      cinq sortes de maîtres du dharma     five kinds of authorities of the doctrine    五種法師    
5 bậc pháp sư hay 5 bậc thầy có khả năng hoằng dương Phật pháp.
1. Thụ tŕ pháp sư: Người có khả năng tiếp nhận, tin tưởng vững chắc và ghi nhớ, giữ ǵn không quên lời dạy của Như Lai được ghi chép trong kinh luận.
2. Đọc kinh pháp sư: Người có khả năng ngồi ngay thẳng, trang nghiêm, giữ tâm chính niệm, mắt xem kinh văn mà tụng đọc mạch lạc, rơ ràng.
3. Tụng kinh pháp sư: Người có khả năng tụng đọc thuộc ḷng kinh văn, không cần phải xem sách mà không nhầm lẫn.
4. Giải thuyết pháp sư: Người có khả năng truyền dạy, giảng giải chính xác kinh điển.
5. Thư tả pháp sư: Người có khả năng biên chép, phiên dịch kinh điển để lưu truyền rộng răi cho đời sau.

Ngũ hạ phần kết              五下分結    pañca āvarabhāgiya-saṃyojanāni
Năm loại phiền năo trói buộc chúng sanh hữu t́nh ở Dục giới. Sở dĩ gọi là hạ phần là bởi v́ nó ở hạ giới, tức Dục giới, khác với thượng giới, tức là Sắc giới và Vô sắc giới.
Tên đầy đủ là Ngũ thuận hạ phần kết, gọi tắt là Ngũ hạ kết hoặc Ngũ hạ.
Câu-xá luận, quyển 21, ghi: "Năm hạ phần kết là ǵ? Đó là Thân kiến, Giới thủ kiến, Nghi, Dục tham, Sân khuể. Chúng được gọi là Thuận hạ phần (avarabhāgīya) bởi v́ chúng có liên hệ và thuận hợp với “phần ở phía dưới” (avarabhāga), tức chỉ cho Dục giới (Vibhā􀀀ā, 49, 2). Như vậy trong số này có hai kiết sử khiến cho người ta không thể vượt qua được Dục giới và ba kết sử khiến cho người ta phải trở lại Dục giới. Dục tham và sân khuể ngăn chận sự xuất ly Dục giới; thân kiến và hai loại kết sử c̣n lại làm cho những người đă xuất ly Dục giới phải trở lại ở đó; chúng không giống như viên cai ngục và các ngục tốt.
1. Dục kết: những phiền năo tham dục.
2. Sân kết: những phiền năo giận hờn.
3. Thân kiến kết: phiền năo ngă kiến, chấp ngă.
4. Giới thủ kết: phiền năo giữ ǵn những giới luật phi lư, vô đạo.
5. Nghi kết: phiền năo nghi ngờ chân lư.

Ngũ thượng phần kết              五上分結    pañca ūrdhvabhāgiya-saṃyo-janani
Năm loại phiền năo tồn tại ở Sắc giới và Vô sắc giới.
Kết là tên gọi khác của phiền năo; phần là sai biệt, khác nhau, tức là để phân biệt trên và dưới, như nói thượng phần tức là thượng giới, là cơi giới ở trên cao, mà thượng giới gồm có hai cơi đó là Sắc giới và Vô sắc giới, gọi chung là Thượng giới.
Ngũ thượng phần kết, gọi đủ là Ngũ thuận thượng phần kết, mà gọi tắt là Ngũ thượng kết hay Ngũ thượng.
Câu-xá luận, quyển 21, ghi: 'Thuận thượng phần có năm thứ: tham Sắc giới, tham Vô sắc giới, trạo cử, mạn, vô minh, khiến cho chúng sanh không thể siêu thoát'.
1. Tham Sắc giới, gọi là Sắc ái kết, tức là những phiền năo do chúng sanh tham đắm 5 thứ dục lạc (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
2. Tham Vô sắc giới, gọi là Vô sắc ái kết, là những phiền năo do tham đắm và vướng mắc trong cảnh giới thiền định ở cơi Vô sắc giới.
3. Trạo kết, là phiền năo do tâm niệm của chúng sanh dao động, khiến cho thiền định thối thất hoặc đánh mất.
4. Mạn kết, là phiền năo do chúng sanh tự cao, tự đại, cho ḿnh hơn người rồi lấn lướt, kiêu mạn.
5. Vô minh kết, là phiền năo do chúng sanh si mê, ngu muội, không thấy được Thánh đế.
Theo Đại t́-bà-sa luận, 5 thượng phần kết này phải nhờ tu tập mới có thể đoạn trừ được (tu sở đoạn).

Ngă chấp          egocentrism    我執    Ātma-grāha
Cố chấp có thực ngă. Thể của chúng sinh chỉ do 5 uẩn giả hợp mà thành, nếu chấp có thực ngă chủ tể tồn tại mà sinh ra vọng tưởng phân biệt ta và của ta, th́ gọi là Ngă chấp.


Trang : 1  2  3  4  5  6